Văn Học
Nghệ Thuật
Sinh Hoạt
Phiếm Luận
Trang Thân Hữu Thơ - Văn
Diễn Đàn
Giải Trí
Thư Tín
 
 
 
                    Chửi & Chơi
Qua mục Diễn Đàn, ông bạn vong niên Thiết Trượng bảo tôi đăng lại bài viết Chửi & Chơi mà ông rất khoái chí. Ông phán rằng, trong cuộc sống mà không lường gạt ai, không lừa dối vợ con để chôm vợ người ta, không phản bạn lừa thầy, không vì lợi lộc mà cúi đầu làm tôi tớ... thì đếch ngán! Ông là người dựng "Đả Lôi Đài" và tôi đã bày tỏ với ông, không muốn "đả" người ngả ngựa, không muốn đề cập đến người không có phương tiện truyền thông trong tay. Tôi mê những nhân vật trong kiếm hiệp của Cổ Long, không dùng vũ khí xuất chiêu với người không có vũ khí trong tay... Những con cờ trong lồng đèn kéo quân vẫn "gà què ăn quẩn cối xay" xuất hiện lôi đình lôi đám nhờ dựa dẫm "ánh đèn của kẻ khác"... rồi "gà nhà bôi mặt đá nhau" bởi quyền lợi! Chốn thị phi là vậy... cuộc chơi nào cũng có cái giá của nó, có đủ sức tự mình nhập cuộc lâu dài năm nầy qua năm khác thì liệu, còn nhờ vào mãnh đất, ngòi bút kẻ khác để cắm dùi vài ba bài, năm ba lần... để rồi "gậy ông đập lưng ông" thì chớ dại... xin chờ...!

 

 
                       Chửi
 
Trong thời gian qua, “mặt trận miền Tây” dậy sóng bởi trên làn sóng phát thanh và báo chí Việt ngữ đă chửi nhau dữ dội, tơi bời hoa lá. Từ ngữ nào dùng được để chửi th́ chẳng từ nan mà đem ra xử dụng!
Vài đồng nghiệp đă phỏng vấn tôi về tờ báo nầy, đài phát thanh kia, bài viết của ông A, bà B... tôi trả lời không có ư kiến. V́ khi nói ra, chỉ “vô ư” ghi lại sót một chữ, ư nghĩa trái ngược nhau. Ví dụ: chửi như vậy không đúng nhưng lỡ sót chữ không, có ai dư công mà đính chính? Tôi chỉ trả lời, một ngày nào đó, tôi sẽ đề cập trên trang báo của Cali Weekly.
Qua 5 số báo, nhận được ư kiến đóng góp của anh em thân t́nh đă viết trong tờ Cali Weekly và vài thân hữu đă làm cho tôi suy nghĩ về việc thay đổi phần nào về nội dung và h́nh thức. Thử nghiệm trong cuộc chơi nào cũng có cái giá của nó, cái giá nào thuận lợi, khỏi bận tâm th́ áp dụng cho cuộc chơi được lâu dài và c̣n thời giờ để viết.
Trong lúc nghe bàn tán về chửi nhau, vừa đọc được bài viết Văn Hóa Chửi của Hà Sĩ Phu ở trong nước được phổ biến trên trang web, tác giả mượn h́nh ảnh người cô ruột đă ra người thiên cổ với “nghệ thuật chửi” của bà để chửi xiên chửi xéo, ông viết và lách thật tài t́nh, xin trích vài đoạn chính:
“Nhiều lúc tôi cứ tự hỏi sao chưa có nhà văn hóa nào nghiên cứu về cái sự “chửi” nhỉ? Hôm nay ngồi buồn tôi mở máy vi tính, thử mở “Từ Điển Lạc Việt năm 2002”, tra hú họa chữ chửi xem sao. Đây là cuốn từ điển Việt Anh, mà lại dùng cho máy vi tính, tôi nghĩ, có lẽ chẳng có chữ ấy đâu, may lắm th́ có một chữ chửi đơn giản là cùng.
... Tôi nhầm! Các từ về chửi xếp đầy một trang màn h́nh!
... Này là chửi mắng, chửi bới, chửi đổng, chửi nhau, chửi rủa, chửi thầm, chửi thề, chửi tục! lại c̣n chửi bâng quơ, chửi vu vơ, chửi thậm tệ! chưa hết, có cả chửi bóng chửi gió, chửi chó mắng mèo, chửi như tát nước, chửi như vặt thịt, chửi vuốt mặt không kịp nữa! Ngần ấy chữ chửi đều có những động từ hay cụm từ tiếng anh tương ứng...
Cuốn từ điển c̣n thiếu một khái niệm chửi tối quan trọng: chửi như mất gà! Rất may, t́m măi mới thấy cụm từ chửi này có trong từ điển Việt Hoa của Khổng Đức.
Nhưng rốt cuộc th́ từ điển ǵ, chữ nghĩa ǵ cũng thua bà cô tôi hết, một người dân quê không biết một chữ quốc ngữ bẻ làm đôi.
... Nhưng chửi cũng ba bảy đường chửi. Bà chửi thương, chửi yêu th́ chỉ chửi “nôm” thế thôi, chứ không có bài. Khác hẳn những khi định hướng vào “kẻ thù”, là những kẻ ăn không ăn nảy của bà, vu oan giáng họa cho bà, cạy quyền cạy thế chèn ép lấn át bà  th́ vũ khí chửi của bà tung ra đầy tính kỹ thuật, bài bản hẳn hoi và đầy sức lôi cuốn. Một ngón vơ thật sự.
... Hôm ấy bà đi chợ về muộn. Chuẩn bị nấu cơm chiều, vét niêu cơm cháy, vừa ngô, vừa khoai được một bát đầy hú hụ, bà cất tiếng “chích chích chích chích”, “pập pập pập pập” gọi mấy con gà mà bà đă chăm chút cả năm để chuẩn bị ăn Tết. Lũ gà quen tín hiệu đă tề tựu ngay tắp lự. Chờ măi vẫn không thấy con gà mái nâu, đang ghẹ, béo nhất đàn. Bà bổ đi t́m quanh, “điều tra” khắp vườn, khắp xóm. Không thấy. Vẻ mặt bà hằm hằm, mắt bà chợp chợp, tôi biết cơn giận trong bà đă chất chứa đến nhường nào. Nhưng bà lẳng lặng đi nấu cơm. Hai mẹ con bà ăn cơm xong đâu đấy. Mọi nhà đă lên đèn. Tôi nằm chơi trên cái chơng tre giữa sân. Đúng lúc làng xóm đang yên tĩnh, ổn định, th́ bài trường ca bắt đầu...
... Sau khi đă khu trú được vấn đề và đối tượng (tất nhiên bà chẳng cần gọi tên chúng ra), bà vào phần chính của việc chửi bới. Bà mạt sát đối thủ bằng những tư liệu rút ra từ gia phả, án tích, dư luận; bà chứng minh tội phạm bằng những chứng cứ và suy luận mà bà đă quan sát và thu thập được; và cuối cùng là phần h́nh phạt. Bà phạt kẻ bị t́nh nghi phạm tội bằng phương pháp rất nhân đạo là cho ăn và cho uống, thực đơn gồm toàn những thứ sống sít từ cơ thể thiên nhiên của bà. Th́ bà c̣n có ǵ khác ngoài cái vốn tự có ấy?
... Bà “viết” văn xuôi theo lối biền ngẫu, rất nhiều đoạn rập theo một công thức như lối viết báo cáo hoặc xă luận của những anh không chịu đổi mới ngày nay. Văn xuôi nhưng lại có vần như thơ, lại có lên bổng xuống trầm như nhạc.
 “... Nếu mày có trót dại bắt con gà của bà, nghe bà chửi mà không khôn hồn thả nó ra, mà cả nhà cả ổ mày cứ húc đầu vào ăn cho đầy miệng, th́ bà cứ cho chúng mày ăn cái máu l..., rớt l... của bà đây này... Mày tưởng mày có quyền có thế, có người làm ông nọ bà kia mà ăn hiếp gái già này à? Cứ ra mặt với bà xem! Bà th́ cứ... dứt cái lông l..., bà chẻ tạm làm tư, bà trói cổ cái ông tổ năm đời mười đời nhà mày lại, bà vẫn c̣n thừa cái nút hậu!...”
... Bài chửi độc đáo kia, nghe tưởng cay độc quá, nhưng xem kỹ lại thấy vẫn nhân đạo. Bà vẫn mở đường: nếu mày không sửa chữa th́ bà mới làm như thế, như thế!”.
Trong phần kết, Hà Sĩ Phu đă bày tỏ hoàn cảnh của con người “thấp cổ bé miệng” trong chế độ mị dân, xă hội đầy bất trắc, bị ăn cắp, bị lường gạt, bị trấn áp... chỉ c̣n vũ khí là “chửi”.
“Chửi là vũ khí của người nghèo bất khuất, người yếu bất khuất. Kẻ mạnh về lực hoặc kẻ phi nghĩa mà chửi th́ nhạt thếch, sẽ thành tàn bạo, thô tục, thành lố bịch ngay. Trái lại, dân tộc nào, tầng lớp nào sức sống dai dẳng nhưng bị “yếu kinh niên” sẽ có khả năng mài rũa vũ khí chửi của ḿnh trở nên hoàn thiện.
... Đành rằng có chửi cũng chẳng mấy khi t́m lại được gà, nhưng cái “chửi” đánh thức lương tâm, đánh thức và nuôi dưỡng công lư. Lương tâm và công lư sẽ lớn lên, chặn tay bọn ăn cắp những Con Gà Vàng nặng hàng chục tấn, và trả lại cho đời, cho dân những công bằng lớn lao hơn. Ư nghĩa văn hóa của sự chửi chính là ở đó...”.
Trước đây, Hồng Vân diễn xuất rất hay trong cuốn video khi “bà mất con gà”, “bà” tức “bà” chửi cho đả tức, “bà” ghét cái bọn bất lương, ăn cắp con gà mà “bà” bỏ công nuôi nấng, chăm sóc. Không ai giận “bà” không ai oán trách “bà” sao lại chửi nặng thế, mà lại khoái. Nhân dịp năm con gà, nhà báo Thiết Trượng đă viết Bài Chửi Mất Gà từ chuyện trong nước ra ngoài nước.
Trong Việt Anh Tự Điển của Lê Bá Kông, chữ chửi được dịch sang tiếng Anh: To curse, to imprecate, to call (someone) names, to use abusive language to (someone), to revile. Chửi là động từ đơn,chưa diễn tả hết ư của nó, c̣n kèm theo chữ khác để nói lên tính cách và ư nghĩa riêng của nó.
GS Trần Ngọc Dụng đă dày công nghiên cứu thành ngữ tiếng Việt để chuyển sang tiếng Anh, với nghĩa đen và nghĩa bóng, diễn nghĩa và có dẫn chứng cụ thể để giới trẻ ở hải ngoại biết thêm thành ngữ phong phú của đất nước. Đơn cử thành ngữ chửi như mất gà: - swear like loosing chicken - swear tirelessly, violently and continuously at no one.
Unlike the English forbidden language, the Vietnamese terms for swearing at someone are severely insolent, not only directly to the individual involved but also to her/his ancestral generations. The most well-known incident was about a woman who raised some chickens in her garden. One day, someone stole one. The next day when she discovered a chicken of hers had disappeared, she sat at her front door and began to swear loudly at the unknown stealer for three days! The expression came to being ever since.
Không biết ai đă làm ǵ bà ta mà bà ấy đứng giữa sân nhà chửi như mất gà vậy.
No one knew who had done anything wrong to her, but she stood there, in the middle of her front yard, swearing tirelessly and continuously at no one.
GS Trần Ngọc Dụng đă thực hiện xong Vietnamese Idioms theo alphabet từ A đến Y, ông đang bổ sung thêm trước khi xuất bản và đă đưa cho tôi bản copy về công tŕnh nầy để phổ biến trên trang Tiếng Việt Mến Yêu của nhật báo Người Việt vào thứ Sáu hàng tuần.
Các thành ngữ được ông đề cập có: ª chửi bóng chửi gió: - swear at shadow swear at wind - swear at the moonshine, ª chửi cạnh chửi khoé: - swear edge swear corner - give someone ungracious hints, ª chửi cha không bằng pha tiếng: - mimic one’s pronunciation is worse than calling one’s father’s name, - parody one’s dialect is taboo, ª chửi cha mắng mẹ: - swear at father yell at mother - be filiallessly and mischievous, ª chửi lên mắng xuống: - swear up yell down - be treated like a black sheep, ª chửi như tát nước vào mặt: - swear like throwing water at one’s face - bombard someone with insults.
C̣n nhiều chữ để ghép vào trong tự điển và thành ngữ mà “Sĩ phu Bắc Hàø” Hà Sĩ Phu, GS Trần Ngọc Dụng đă đề cập. Có lẽ, lúc trà dư tửu hậu, được liệt kê nhiều hơn.
Trong văn chương, người dám chửi gan nhất, hay nhất, dám giỡn mặt nơi chốn cung đ́nh, không ai hơn nhà thơ Cao Bá Quát. Và, thay v́ dùng chữ “chửi”, tôi dùng chữ “chơi” lúc thân khi ghét, lúc bạn khi thù, lúc ở phe nầy khi ở nhóm nọ... với ư nghĩa tương phản của chữ “chơi”. Chữ “chửi” tuy thấy dữ dằn, hung hăng con bọ xít v́ được viết ra, nói ra cho mọi người biết nhưng không độc bằng chữ “chơi”, có khi được phổ biến, có lúc âm thầm lặng lẽ nhưng rất nguy hiểm. Thư Cali sẽ đề cập trong số tới.
                                   Vương Trùng Dương
           Thư Cali, Cali Weekly Số 6, Ngày 09 Tháng 6 - 2005
 
                        Chơi
 
Khi đề cập đến chuyện chửi, trong làng văn và làng báo của người xưa ở nước ta, vừa thâm trầm vừa tế nhị nhằm sửa sai, có nhiều giai thoại rất hay để lưu lại hậu thế. Tuy nhiên, có trường hợp phóng bút quá tay, khi thân bại danh liệt, bị tiêu hủy sự nghiệp sáng tác nhưng được lưu truyền và đi vào văn học như trường hợp Cao Bá Quát. Xin ghi lại trường hợp nhà thơ nầy dã được đề cập.
Nhà thơ Cao Bá Quát (1809 -1854) tự Chu Thần, sinh tại Phú Thị, Gia Lâm, Bắc Ninh. Thuở nhỏ đă nổi tiếng thần đồng, mới 5 tuổi đẵ đọc được sách Tam Tự Kinh, 14 tuổi đă làm được đủ các thể văn, nổi tiếng hay chữ  nhưng bước đường khoa cử không được hanh thông, năm 21 tuổi mới đỗ á nguyên trong kỳ thi Hương ở Hà Nội và trải qua mấy lần thi Hội ở  kinh đô Huế vẫn bị hỏng. Ông ra đời vào thời Nguyễn sơ, và trưởng thành dưới các đời vua Minh Mệnh (1820-1840), Thiệu Trị (1841-1847), Tự Đức (1848-1883), ông được nhà vua thử tài và xử dụng, rồi chữ tài đi liền với chữ tai!.
Ông cho rằng: “Trong thiên hạ có bốn bồ chữ, ḿnh tôi chiếm hai bồ, anh tôi Cao Bá Đạt và bạn tôi Nguyễn Văn Siêu, chiếm một bồ, c̣n bồ thứ tư chia cho thiên hạ”. Câu nầy, ông bắt chước nhà thơ Tô Đông Pha ở Trung Hoa. Tô Thức (1037-1101), hiệu là Tô Đông Pha, năm 21 tuổi đỗ tiến sĩ và sau đó, em gái của ông là Tô Tiểu Muội cũng đỗ tiến sĩ, vua Tống Nhân Tông đă ban lời khen cho cả gia đ́nh và cá nhân ông, v́ vậy ông mới huênh hoang: “Trong thiên hạ có bốn bồ chữ, ông chiếm hai bồ, hai người em của ông chiếm một bồ, c̣n một bồ phân phối cho thiên hạ”.
Năm 1841, Cao Bá Quát vào kinh đô Huế nhậm chức Hành tẩu, quan nhỏ ở Bộ Lễ; khi được cử làm sơ khảo trường thi Thừa Thiên, thấy một số bài thi hay nhưng phạm húy, ông lấy muội đèn chữa giúp. Việc bị phát giác, bị tù ba năm, sau đó được phục chức thời gian rồi cũng bị sa thải. Năm 1847, Cao Bá Quát được gọi vào làm việc ở Viện Hàn Lâm, sưu tầm văn thơ. Qua thời gian thăng trầm, nghĩ ḿnh có tài mà sinh bất phùng thời nên vừa ngông, vừa cao ngạo.
Trong thời điểm đó, hội tao đàn thành lập mang tên Mặc Vân Thi Xă với các đại quan trong triều như Tùng Thiện Vương Miên Thẩm, Tuy Lư Vương Miên Trinh, Tham Tri Hà Tôn Quyền, Án Sát Nguyễn Văn Siêu, Hiệp Biên Đại học sĩ, Thượng thư Bộ Học... cùng nhiều quan văn trong triều tham gia, có chân trong đó là niềm vinh dự lớn lao. Thế nhưng, giai thoại kể rằng có lần Cao Bá Quát khi xem thơ họ đă lắc đầu, bịt mũi ngâm:
“Ngán thay cái mũi vô duyên
Câu thơ thi xă con thuyền Nghệ An”
Sự cao ngạo, phách lối của Cao Bá Quát với cả hội tao đàn Mặc Vân Thi Xă đă làm cho nhiều vị tức giận, nhưng Tùng Thiện Vương và Tuy Lư Vương chẳng những không giận mà c̣n cảm phục văn tài và khí phách nên kết giao, v́ vậy tính mệnh của Cao Bá Quát mới được an toàn.
Trở lại chữ chửi đă được đề cập trên Thư Cali số 6, trong văn chương Việt Nam chỉ có nhà thơ CaoBá Quát mới dám dùng chữ nghĩa mang h́nh ảnh chó mèo để châm biếm, đả kích các quan lớn tranh căi, chửi bới nhau nơi cung đ́nh khi làm tờ sớ tŕnh vua Tự Đức:
“Thượng bàn hô cẩu!
 Hạ bàn hô cẩu!
 Thượng hạ giai cẩu
 Lưỡng tương đấu ẩu!
 Thần gián bất đắc.
 Thần kiến thế nguy,
 Thần hoảng thần tẩu!”
Nhà vua biết Cao Bá Quát lợi dụng từ tờ sớ để chửi xiên chửi xỏ, mượn cớ để chơi các đại quan trong triều như loài chó mèo, nhưng không thể viện cớ để xử phạt.
Ba năm sau, Cao Bá Quát bị đày ra làm giáo thụ ở nơi đèo heo hút gió tại Sơn Tây, bất măn, phẫn uất, nhà thơ làm Quốc sư cho Lê Duy Cư thuộc ḍng dơi nhà Lê để nổi lên chống triều đ́nh. Cuộc dấy binh bị thất bại, vua Tự Đức ra tay, tru di ba họ Cao Bá Quát, thu hồi, tiêu hủy văn chương ông. Cao Bá Quát vẫn ngạo mạn với đời trước khi vĩnh biệt trần gian qua ḍng thơ "Một nhát gươm đưa đéo mẹ đời". Trước đó, vua Tự Đức đă khen “Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán...” nhưng rồi khi triệt hạ th́ chẳng từ nan!
Tác phẩm của ông c̣n được lưu đến nay là 1353 bài thơ, 21 bài văn xuôi, một số bài ca trù và khá nhiều câu đối.
Trong sách của Thích Thị Yếu Lâm có câu: “Bệnh tùng khẩu nhập, họa tùng khẩu xuất” (Bệnh do ở mồm mà vào, họa do ở mồm mà ra).
 
Ngôn ngữ của ta rất ư độc đáo, như động từ chơi, dù đứng đơn thân độc mă, có hai nghĩa tương phản, rất khó phân biệt. Chẳng hạn chữ chơi nhau, khi nói, chỉ cần nghe âm nhẹ hay nặng cũng hiểu được ư nghĩa của nó. Chơi nhau, chén tạc chén thù, bù khú với điếu thuốc, tâm t́nh, chuyện văng. Chơi nhau, t́m mọi thủ đoạn đê hèn, nhỏ mọn để hại nhau, bôi bẩn, soi mói, ngậm máu phun người cho đến khi kẻ u đầu người sứt trán, đưa ra ṭa cho bỏ ghét... Khi viết th́ có thể thêm chữ với để phân biệt sự tương phản nhưng nếu không dùng, cũng chẳng sai văn phạm. V́ vậy, cần phải thận trọng khi nhắc đến chữ chơi. Chơi khăm, chơi trội, chơi gác, chơi ngang, chơi liều, chơi bướng, chơi ngang, chơi bẩn, chơi dơ... chẳng có ai ưa, thế nhưng có người thích đùa với lửa.
Chơi cho trọn t́nh trọn nghĩa, có trước có sau, có trong có ngoài, có thủy có chung, không hơn không thua, không đố kỵ lẫn nhau... nghe th́ dễ nhưng thật khó.
Thành ngữ, tục ngữ  Việt Nam đă nói về chữ chơi với ư nghĩa xấu:
“Chơi c̣, c̣ mổ mắt - Chơi chó, chó lờn mặt - Chơi với lửa - Chơi dao có ngày đứt tay - Chơi ong có độc”...
Trong Vietnamese Idioms của GS Trần Ngọc Dụng đă đề cập các thành ngữ về chữ chơi như: ª chơi (ai) sát ván: - play (someone) to the plank - cut someone to the quick ª chơi bài chuồn: - to play card withdraw - beat a retreat ª chơi cho lủng trống long bồng: - play until the drum tops breaks - indulge oneself in an epicurean way ª chơi chó chó liếm mặt: - play with a dog, the dog licks at the face - familiarity breeds contempt ª chơi c̣ c̣ mổ mắt: - play with crane crane pecks at the eye - keeping company with a bad guy is harmful ª chơi dao có ngày đứt tay: - play knife some day hand cut - play with edged tool ª chơi ngu chơi dại : play stupid play naive - play fast and loose ª chơi tṛ ú tim: - play game hiding or seeking  - play cat and mouse ª chơi với lửa: - play with fire - play with fireª và thành ngữ mới  chơi theo lối Mỹ: - go American - go Dutch. Như đă đề cập, trong Vietnamese Idioms của GS Trần Ngọc Dụng, mỗi thành ngữ đều chuyển sang tiếng Anh với nghĩa đen, nghĩa bóng, diễn nghĩa và dẫn chứng qua từng ví dụ cụ thể cho được rơ ràng; trong phạm vi bài viết chỉ đơn cử nghĩa đen và nghĩa bóng mà thôi.
Trong ca dao và thi ca Việt Nam th́ chữ chơi được đề cập rất nhiều, đơn cử vài câu mà chữ chơi đi với chữ bời:
“Chơi cho thủng trống long bồng
Rồi ra ta sẽ lấy chồng lập nghiêm”
“Chơi th́ chơi chốn mỹ miều,
Trăm gươm kể cổ quyết liều cũng chơi”
Tố Như tiên sinh đă để Tú bà dạy nghề chơi là cả công tŕnh, nghệ thuật, ngón nghề:
“Nghề chơi cũng lắm công phu
 Làng chơi ta phải biết cho đủ điều”
 “Chơi cho liễu chán hoa chê,
 Cho lăn lóc đá cho mê mẫn đời”.
Nếu ai đă từng theo dơi làng văn làng báo nơi chốn gió tanh mưa máu ở thủ đô tỵ nạn nầy mà quan tâm, thắc mắc, có ngày sẽ bị tẩu hỏa nhập ma. Nhiều lần, ngồi uống café với bạn hữu, lại nghe câu hỏi: Thấy “chúng nó” chơi nhau, chửi nhau, cắn nhau... hôm trước rồi cũng “chúng nó” lại chơi nhau, ăn uống với nhau hôm sau, sao mà kỳ vậy? Ông bạn chỉ mỉm cười “biết thế chó nào được”!
  Người xưa đă nói: “Cô vọng ngôn chi, cô thính chi”, nói láo chơi, nghe láo chơi, vô thưởng vô phạt. Viết chơi, đọc chơi, chửi chơi cho thỏa măn thú tính rồi khen chơi cho có lệ... xem qua, nghe qua rồi bỏ, luận đúng luận sai rồi chia ra phe nầy nhóm nọ; sao không t́m cuộc chơi cho bản thân. Có thú chơi nào hơn “mê mẩn đời” mà lại bỏ rơi; than ôi! t́nh đời đen bạc, lạt như nước ốc, bạc như vôi.
                                   Vương Trùng Dương
        Thư Cali, Cali Weekly Số 7, Ngày 16 Tháng 6 - 2005
 
 
 
                                        Trở lại trang nhà >>>
 
 
Vương Trùng Dương  Email: caliweekly@yahoo.com - vuongtrungduong@yahoo.com