|
|
-
Lư Bạch
- Đỗ Phủ: Giao T́nh Thi Hữu Lưu Linh
-
Vương
Trùng Dương
-
-
-
Buổi chiều
cuối tuần, người bạn từ phương xa đến Little Saigon mang
theo chay “Trường Xuân Tửu”, bạn bè chén tạc chén thù, bàn
chuyện thế gian. Hơn ba thập niên rồi, nhớ lại ngày nào ở Đà
Lạt, mỗi lần nâng ly “Bạn hơi, quan hà xin cạn chén ly bôi”,
cho đến khi ngất ngưởng con tàu đi... Rượu vào lời ra, ông
bạn Thiết Trượng, tác giả bài “Men Nồng Trong Thơ Văn” nhắc
đến bài viết của Vĩnh Phúc “Nhân Đọc Bài Thơ Lư Bạch” trên
nhật báo Viễn Đông, có đôi điều lư thú nên câu chuyện ban
đầu trở thành câu chuyện văn chương.
-
Vĩnh Phúc đề
cập đến bài thơ Xuân Nhật Túy Khởi Ngôn Chí của Lư Bạch với
quan niệm trong thú vui hưởng thụ cùng rượu, say suốt ngày,
nằm bậy bạ trước nhà, quên mất ngày tháng và cả thân ḿnh...
Vĩnh Phúc viết: “May cho Lư Bạch v́ ông không sống vào thời
này, nhất là lại sống ở nước Mỹ.
Bởi v́ nói theo chữ nghĩa thời nay, ông sẽ gặp nhiều pốp-lầm
lắm (problem)... không thích làm mà lại thích rượu. Với cái
tật nầy, mà cứ theo bài thơ đă dẫn, ông say sưa suốt ngày...
Thế th́ ông cần phải vào trung tâm cai rượu. Nhưng họ Lư
không quan tâm chuyện đó.
-
V́ không có
việc làm (reference quá xấu!) ông phải đến ở nhờ nhà một
người bạn... Rất may c̣n có bạn tốt nuôi ăn, cho ở nhờ. E
rằng thời buổi nầy rất khó kiềm được một người bạn như
thế...”.
Ở đất Hoa Kỳ ngày nay mà đem ḷng tốt nuôi
thiên tài nát rượu, gặp phải bao điều nhiêu khê; v́ vậy: “Ở
nhờ ngoài garage, không có trợ cấp thất nghiệp, cũng không
trợ cấp bệnh tật... e rằng có nằm
ngay giữa rừng hoa và nghe một triệu con chim oanh hót, Lư
Bạch thời nay cũng không thể có hứng thú mà sáng tác được
lấy một bài thơ”
-
Rồi ông kết
luận: “Than ôi! thế th́ thiên tài
Lư Bạch chưa kịp lóe lên trên nền trời thi ca Trung Quốc đă
vội tắt ngủm ngay mất rồi, c̣n đâu!”
-
May thay cho
Lư Bạch, nếu có đầu thai lại ở thiên đàng hạ giới nầy th́
cũng than thân “sinh bất phùng thời”, nếu gặp phải ông bạn
thân Đỗ Phủ, không thể nào có được áng thơ tuyệt tác để lưu
truyền hậu thế.
-
Vương Triều
nhà Đường ở Trung Hoa từ Cao Tổ (818-627) đến Ai Đế
(904-9070 kéo dài gần ba thế kỷ, trong đó có Vơ Tắc Thiên
(624-725) thống trị đất nước (684-690) lấy quốc hiệu là Chu.
-
Trong thời
đại nầy được đánh dấu là thời cực thịnh của thi ca Trung
Hoa, với những thiên tài lỗi lạc trên văn đàn quốc tế. “Thi
Phật Vương Duy, Thi Tiên Lư Bạch, Thi Thánh Đỗ Phủ, Thi Quỷ
Lư Hạ đều sinh ra vào thời Trung Đường ở thế kỷ thứ VIII.
Bốn thiên tài Phật Tiên Thánh Quỷ cùng tụ hội nhau trong một
giai đoạn hoàng kim của thơ ca Trung Quốc. Thế mà, Phật Tiên
Thánh Quỷ đều giống nhau: rượu.
-
Thi hào Lư
Bạch (701-762) và Đỗ Phủ (712-770), nghe tiếng, trọng tài
hoa, gặp nhau ở Tràng An, trở thành “tri kỷ với rượu và
thơ”.
-
Lư Bạch được
may mắn hơn v́ trải qua thời gian được sống ở cung đ́nh, tuy
được ân sủng nhưng với tâm hồn phóng khoáng, thanh liêm nên
ghét cảnh nịnh nọt, bèn treo áo từ quan, ngao du sơn thủy.
Rồi một đêm trăng, với rượu với thơ trên chiếc thuyền lặng
lờ giữa sông hồ, thấy bóng Hằng Nga thoáng hiện, nhoài người
ra ôm bóng, ngă xuống ḍng sông, thành người thiên cổ.
-
Đổ Phủ suốt
cuộc đời lận đận khổ cực, nhờ Nghiêm Vũ mến tài vận động làm
“công chức hạng bét” ở Tứ Xuyên được bảy năm, không nuôi nỗi
vợ con, chán đời, vào chùa trên núi Hoàng Sơn nương náu qua
ngày. Được viên quan mến tài, chiêu đăi rượu thịt, nhà thơ
bị bội thực, qua đời.
-
Theo Lư
Dương Băng th́ Lư Bạch sáng tác khoảng hai vạn bài nhưng
ngày nay được lưu truyền khoảng một ngàn bài, Đỗ Phủ với số
lượng ít hơn, khoảng vài trăm bài lưu lại cho hậu thế. Tương
truyền cho rằng hai nhà thơ nầy, rượu càng vào th́ ư thơ
càng tuyệt vời, linh động...
-
Nhà thơ
Nguyễn Du khi đi sứ Trung Quốc, đến viếng mộ thi nhân và lưu
lại mấy câu thơ:
-
“Thiên cổ văn chương thiên cổ sư
-
B́nh sinh
bội phục bất thường li”
-
(Lỗi Dương Đỗ Thiếu Lăng Mộ)
-
(Ngh́n
thưở văn chương đúng bậc thầy
-
Trọn đời
khâm phục dám đơn sai)
-
Trong bài
“Tài Tử Đa Cùng Phú” nhà thơ Cao Bá Quát bày tỏ:
-
“Lúc bầu
rượu dốc nghiêng non nước lại,
-
Chén tiêu
đàm mời mọc trích tiên.
-
Hóng túi thơ
nong hết gió trăng vào,
-
Cơn xướng
họa hẹn ḥ Lăo Đỗ”.
-
Lư Bạch có
rất nhiều bài thơ ca ngợi với men nồng điển h́nh như:
-
Đối Tửu
-
“Khuyến quân
mạc cự bôi
-
(Khuyên anh
chớ từ chối chén rượu này)

-
Xuân phong
tiếu nhân lai
-
(Gió xuân
thổi đến cười cợt người ta đấy)
-
Đào lư như
cựu thức
-
(Đào mận như
quen biết nhau sẵn)
-
Khuynh hoa
hướng ngă khai
-
(Nghiêng hoa
về phía ta mà nở)
-
Lưu oanh đề
bích thụ
-
(Con oanh
chuyền hót trên cây biếc)
-
Minh nguyệt
khuy kim lôi
-
(Vầng trăng
sáng ghé vào chén vàng)
-
Tạc lai chu
nhan tử
-
(Hôm qua c̣n
là kẻ má hồng)
- Kim nhật
bạch phát thôi
-
(Hôm nay tóc
bạc đă giục đến)
-
Cúc sinh
Thạch Hổ điện
-
(Cây gai mọc
trong điện Phục Hổ)
-
Lộc tẩu Cô
Tô đài
-
(Loài hươu
chạy ở đài Cô Tô)
-
Tự cổ đế
vương trạch
-
(Chỗ ở của
vua chúa từ xưa)
-
Thành khuyết
bế hoàng ai
-
(Thành quách
đă phủ kín lớp bụi vàng)
-
Quân nhược
bất ẩm tửu
-
(Nếu như anh
không uống rượu)
-
Tích nhân an
tại tai?”
-
(Hỏi xem
người xưa nay c̣n ở đâu nào?)
-
-
Bài thơ
Tương Tiến Tửu được đánh giá là một trong những tuyệt
tác của Lư Bạch:
-
“Quân bất
kiến
-
Hoàng hà chi
thủy thiên thượng lai,
-
Bôn lưu đáo
hải bất phục hồi!
-
......
-
Chung cổ
soạn ngọc bất túc quư,
-
Đản nguyện
trường túy bất nguyện tinh
-
Cổ lai thánh
hiền giai tịch mịch,
-
Duy hữu ẩm
giả lưu kỳ danh.
-
Trần Vương
tích thời yến B́nh Lạc,
-
Đẩu tửu thập
thiên tứ hoan hước.
-
Chủ nhân hà
vi ngôn thiểu tiền,
-
Kính tu cô
thủ đối quân chước.

-
Ngũ hoa mă,
-
Thiên kim
cừu,
-
Hô nhi tương
xuất hoán mỹ tửu,
-
Dữ nhĩ đồng
tiêu vạn cổ sầu”.
-
- Bản dịch
của Trần Trọng Kim:
-
Cùng Uống
Rượu
-
“Anh chẳng
thấy Hoàng Hà nước nọ,
-
Tự trên trời
chảy đổ ra khơi.
-
Ra khơi thôi
thế là thôi,
-
Về nguồn trở
lại có nguồn nào đâu.
-
...
-
Quư ǵ soạn
ngọc cổ chung,
-
Muốn say say
măi tỉnh không thú ǵ,
-
Bao hiền
thánh xưa kia lặng lẽ
-
Chỉ anh say
tiếng để đời đời,
-
Trần-vương,
B́nh-lạc mua vui
-
Mười ngàn
đẩu rượu chơi bời thỏa thuê.
-
Chủ ông hỡi,
chớ e tiền ít.
-
Mua rượu về
chén tít cùng ta.
-
Cừu thiên
kim, ngựa ngũ hoa,
-
Đem đi đổi
rượu, khề khà uống chơi.
-
Sầu đâu dằng
dặc muôn đời”.
-
-
Nhà
thơ Lư Hạ cũng lưu lại thế gian bài
Tương
Tiến Tửu:
-
“Lưu ly
chung
-
Hổ phách
nùng
-
Tiểu tao tửu
tích trân châu hồng
-
Phanh long,
bào phượng ngọc chi khấp
-
La vi tú mạc
vi xuân phong
-
Suy long
địch, kích đà cổ
-
Hạo xỉ ca,
tế yêu vũ
-
Huống thị
thanh xuân nhật tương mộ
-
Đào hoa loạn
lạc như hồng vũ
-
Khuyến quân
chung nhật mính đính túy
-
Tửu bất đáo
Lưu Linh phần thượng thổ”
-
-
Bản dịch của
Huỳnh Ngọc Chiến:
-
Mời Uống Rượu
-
“Chén lưu ly
-
Rượu ngon
nồng
-
Thùng rượu
tuôn giọt trân châu hồng
-
Giết rồng
nướng phụng mỡ khóc nấc
-
Màn là
trướng vũ vây xuân phong
-
Thổi sáo
rồng, vỗ trống lụa
-
Cùng hát lên
-
Eo thon múa
-
Huống hồ
tuổi xuân đang tàn úa
-
Hoa đào rơi
loạn mưa tua tủa
-
Mời anh suốt
ngày say mệt mê
-
Đừng mong
rượu tưới Lưu Linh mộ”.
-
- * Lưu
Linh: tự là Bá Luân, người thời Đông Tấn, nổi tiếng ưa thích
uống rượu làm thơ. Tính t́nh hào phóng, sống bất cần đời.
Ông ca ngợi h́nh ảnh uống rượu qua bài thơ Tửu Đức Tụng.
Trong tác phẩm Cung Oán Ngâm Khúc có câu:
-
“Cờ tiên
rượu thánh ai đang,
-
Lưu Linh, Đế
Thích là làng tri âm”
-
Từ danh từ
riêng được trở thành từ chung, Lưu Linh thường được dùng để
chỉ những người uống rượu như từ tửu đồ.
-
-
Ngoài bài
Xuân Nhật Túy Khởi Ngôn Chí, bài Xuân Nhật Độc Chước của Lư
Bạch tỏ bày tâm sự:
-
“Xuân phong
phiến thục khí

-
Thủy mộc
vinh xuân huy
-
Bách nhật
chiếu lục thảo
-
Lạc hoa tán
thả phi
-
Cô vân hoàn
không sơn
-
Chúng điểu
các dĩ qui
-
Bỉ vật giai
hữu thác
-
Ngô sinh độc
vô y
-
Đối thử
thạch thượng nguyệt
-
Trường túy
ca phương phi”
-
-
Bản dịch của
Trần Trọng Kim:
-
Ngày Xuân
Uống Rượu Một Ḿnh
-
“Gió đông khi thổi huyên ḥa,
-
Nước cây
tươi đẹp, đậm đà nắng xuân.
-
Màu hương
sắc cỏ đượm nhuần,
-
Hoa tàn cành
rữa rụng dần bay tung.
-
Đám mây về
núi thung dung,
-
Chim bay về
tổ, đều cùng thảnh thơi.
-
Vật kia y
thác có nơi,
-
Thân ta
riêng chịu cảnh đời lẻ loi.
-
Ngắm trăn
trên đá bồi hồi,
-
Rượu rồi say
tít, hát bài phương phi”.
-
-
Đổ Phủ luôn
luôn mang tâm trạng u uẩn, mượn rượu giải sầu nhưng ít bạt
mạng hơn Lư Bạch, hoàn cảnh gia đ́nh trong cơn bỉ cực được
thể hiện qua vài thơ tiêu biểu:
-
Khách Chí
-
“Xá nam xá
bắc giai xuân thủy,
-
Đản kiến
quần âu nhật nhật lai.
-
Hoa kiến bất
tằng duyên khách tảo,
-
Bồng môn kim
thủy vị quân khai.
-
Bàn tôn thị
viễn vô kiêm vị,
-
Tôn tửu gia
bần chỉ cựu phôi.
-
Khẳng dữ
lăng ông tương đối ẩm,
-
Cách ly hô
thủ tận dư bôi” .
-
-
Bản dịch của
Trần Trọng San:
-
Khách Đến
-
“Nước xuân
đầy rẫy bắc nam;
-
Ngày ngày âu
vẫn thường sang chơi nhà.
-
Chưa v́
khách quét lối hoa,
-
Cửa bồng nay
mới mở ra v́ người.
-
Chợ xa thiếu
vị dâng mời;
-
Nhà nghèo;
chỉ có rượu ôi lâu ngày.
-
Với ông hàng
xóm cùng say,
-
Gọi đem hết
rượu ra ngay bên rào”.
-
-
Trong
Khúc Giang Kỳ có ba bài, trong đó bài số II:
-
“Triều hồi
nhật nhật điển xuân y
-
Mỗi nhật
giang đầu tận túy quy
-
Tửu trái tầm
thường hành xứ hữu
-
Nhân sinh
thất thập cổ lai hy
-
Xuyên hoa
giáp điệp thâm thâm hiện
-
Điểm thủy
thanh đ́nh khoản khoản phi
-
Truyền ngữ
phong quang cộng lưu chuyển
-
Tạm thời
tương tống mạc tương vi”.
-
-
Bản dịch của
Tản Đà:
-
Sông Khúc
-
“Khỏi bệ vua
ra cố áo hoài
-
Bến sông say khướt, tối lần mai
-
Nợ tiền mua
rượu đâu không thế ?
-
Sống bảy
mươi năm đă mấy người ?
-
Bươm bướm
luồn hoa phơ phất lượn
-
Chuồn chuồn
rởn nước lửng lơ chơi
-
Nhắn cho
quang cảnh thường thay đổi
-
Tạm chút
chơi xuân kẻo nữa hoài”.
-
(Câu “Nhân
sinh thất thập cổ lai hy” được lưu truyền dài dài phát xuất
từ ḍng thơ của Đỗ Phủ)
-
Bài thơ
Bất Kiến nói lên tấm ḷng của thi nhân đối với bằng hữu:
-
“Bất kiến Lư
sinh cửu,
-
Dương cuồng
chân khả ai.
-
Thế nhân
giai dục sát,
-
Ngô ư độc
lân tài.
-
Mẫn tiệp thi
thiên thủ,
-
Phiêu linh
tửu nhất bôi.
-
Khuông sơn
độc thu xứ,
-
Đầu bạch hảo
qui lai”.
-
-
Bản dịch của
Trần Trọng San:
-
Không Gặp
-
“Lâu rồi
không gặp Lư sinh,
-
Giả điên vờ
dại, cho ḿnh xót ai.
-
Giết đi là ư
người đời,
-
Ngậm ngùi
riêng chỉ ḿnh tôi mến tài .
-
Lẹ mau thơ
viết ngàn bài;
-
Bây giờ một
chén nổi trôi bụi trần.
-
Nơi xưa đọc
sách Khuông Sơn,
-
Mái đầu bạc
trắng, cố nhân hăy về”!
-
-
Bài thơ
Lạc Nhật được sáng tác sau thời gian thất nghiệp:
-
Lạc nhật tại
liêm câu
-
(Bóng mặt
trời đă ngang bức mành)
-
Khê biên
xuân sự u
-
(Bên khe, vẻ
xuân vắng lặng)
-
Phương phi
duyên ngạn phố
-
(Cỏ thơm đầy
vườn bên bờ sông)
-
Tiều thoán ỷ
than chu
-
(Người đốn
củi nấu nướng trên thuyền cạnh thác)
-
Trác tước
tranh chi trụy
-
(Chim sẻ mổ
nhau giành cành rơi xuống)
-
Phi trùng
măn viện du
-
(Côn trùng
bay chơi khắp sân)
-
Trọc giao
thùy tạo nhử ?
-
(Rượu đục ai
chế ra mày ?)
-
Nhất chước
tán thiên ưu
-
(Uống một
cuộc tan hết ngh́n mối lo âu)
-
-
Chứng kiến
h́nh ảnh từ Đường Minh Hoàng và Dương Quư Phi sống trụy lạc,
xa hoa... quần thần nịnh nọt, bóc lột dân chúng đói khổ, An
Lộc Sơn âm mưu phản loạn; trên đường từ kinh đô về Phụng
tiên, Đỗ Phủ làm một mạch 100 câu thơ gồm 500 chữ, tuôn chảy
theo nỗi ḷng uẩn ức bấy nay. Trong đó có những câu nổi
tiếng được người đời truyền tụng:
-
“Chu môn tửu
nhục xú
-
Lộ hữu đống
tử cốt
-
Vinh khô chỉ
xích dị
-
Trù trướng
nan tái thuật”
-
(Cửa son
rượu thịt ôi
- Ngoài
đường đầy xác chết
-
Sướng khổ
cách gang tấc
-
Quặn ḷng
không nói được)
-
-
*
-
-
T́nh bạn
giữa Thi Tiên Lư Bạch và Thi Thánh Đỗ Phủ được dàn trải qua
ḍng thơ:
-
Xuân Nhật
Ước Lư Bạch
của Đỗ Phủ
-
“Bạch dă thi
vô địch ,
-
Phiêu nhiên
tứ bất quần .

-
Thanh tân
Dữu khai phủ ,
-
Tuấn dật Bào
tham quân .
-
Vị bắc xuân
thiên thụ ,
-
Giang đông
nhật mộ vân .
-
Hà thời nhất
tôn tửu,
-
Trùng dừ tế
luân văn” .
-
-
Bản dịch của
Trần Trọng San:
-
Ngày Xuân Nhớ Lư Bạch
-
“Không có
thơ nào hơn Lư Bạch ;
-
Ư phơi phới
nhẹ , chẳng ai bằng .
-
Thanh Tân
giống hệt Dữu Khai phủ ,
-
Tuấn dật như
là Bào tham quân .
-
Vị Bắc cây
xuân trời chốn cũ ,
-
Giang đông
mây vẫn bóng chiều tàn .
-
Bao giờ rượu
lại cùng nâng chén ,
-
Câu chuyện
văn chương lại được bàn?”.
-
-
Sau khi gặp nhau, cảm mến thi tài, Đỗ Phủ
viết bài thơ Tặng Lư Bạch:
-
“Thu lai
tương cố thượng phiêu bồng
-
(Thu tới
nh́n nhau c̣n như cỏ bồng xiêu dạt)
-
Vị tựu đan
sa quư Cát Hồng
-
(Chưa luyện
xong đan thẹn với Cát Hồng)
-
Thống ẩm
cuồng ca không độ nhật
-
(Uống say
khướt hát lung tung cho hết ngày)
-
Phi dương
bạt hộ vị thùy hùng?”
-
(Đă bướng
lại ngông,v́ ai mà làm anh hùng?)
-
-
Để đáp lại
tấm ḷng của người bạn thơ, Lư Bạch phóng bút tặng Đỗ Phủ
bài Sa Khâu Thành Hạ Kư Đỗ Phủ
-
“Ngă lai
cánh hà sự
-
(Tôi đến đây
nào có việc ǵ đâu)
-
Cao ngọa Sa
Khâu thành
-
(Chỉ nằm
khểnh ở thành Sa Khâu)
-
Thành biên
hữu cổ thụ
-
(Bên thành
có cây cổ thụ)
-
Nhật tích
liên thu thanh
-
(Ngày đêm
liên tiếp phát ra tiếng thu)
-
Lỗ tửu bất
khả túy
-
(Rượu nước
Lỗ uống không thể say)
-
Tề ca không
phục t́nh
-
(Khúc hát
nước Tề cũng chẳng hợp t́nh)
-
Tư quân như
Vấn thủy
-
(Nhớ anh như
ḍng nước sông Vấn)
-
Hạo đăng kư
nam chinh”
-
(Mênh mông
gửi chảy về nam)
-
-
Lư Bạch lớn
hơn Đổ Phủ 10 tuổi, địa vị trong xă hội tuy cách biệt nhưng
trong t́nh văn nghệ, nể trọng nhau trong văn tài v́ vậy khi
mới gặp nhau, cả hai trở thành “đệ tử của Lưu Linh”. Lư Bạch
tặng Đổ Phủ trước khi chia tay trong bài Kim Lăng Tửu Tứ Lưu
Biệt:
-
“Phong suy
liễu hoa măn điếm hương,
-
Ngô cơ áp
tửu hoán khách thường.
-
Kim Lăng tử
đệ lai tương tống,
-
Dục hành bất
hành, các tận trường.
-
Thỉnh quân
thí vấn đông lưu thủy,
-
Biệt ư dữ
chi thùy đoản trường?”
-
-
Bản dịch của
Khương Hữu Dụng
-
Quán ngạt
ngào hương gió liễu bay,
-
Cô hàng rượu
đẹp ép người say.
-
Kim Lăng bạn
trẻ ra đưa tiễn,
-
Kẻ ở người
đi cạn chén đầy.
-
Nhờ ai hỏi
nước Trường Giang thử,
-
Nước ấy t́nh
kia ai vắn dài?
-
-
Bên cạnh Lư
Bạch và Đỗ Phủ, Vương Duy (701-761) làm quan đến chức Thượng
Thư Hữu Thừa, ba nhân vật nầy được người đời ban cho ba
ngôi: Thiên, Địa, Nhân. Tuy vậy, ông nào cũng lấy rượu giao
t́nh, bài Chước Tửu Dữ Bùi Địch của Vương Duy:
-
“Chước tửu
dữ quân quân tự khoan
-
Nhân t́nh
phiên túc tự ba lan

-
Bạch thủ
tương tri do án kiếm
-
Chu môn tiên
đạt tiếu đàn quan
-
Thảo sắc
toàn kinh tế vũ thấp
-
Hoa chi dục
động xuân phong hàn
-
Thế sự phù
vân hà túc vấn
-
Bất như cao
ngọa thả gia san”.
-
-
Bản dịch của
Đông A:
- Rót Rượu
Mời Bùi Địch
-
Nâng chén
mời anh anh tự khoan
-
T́nh người
tráo trở sóng giồi lan
-
Bạc đầu quen
biết c̣n giương kiếm
-
Phú quư
thành công diễu bạn quèn
-
Sắc cỏ toàn
thường mưa móc đẫm
-
Cành hoa khẽ
động gió xuân hàn
-
Mây trôi thế
sự mong chi nữa
-
Sao chẳng
nằm dài lại được ăn.
-
-
*
-
Hăy tưởng
tượng, thi hào họ Lư “tửu nhập ngôn xuất”, sơ sơ mỗi ly mỗi
bài thơ, một xị bốn ly, cũng ngốn hết hàng ngh́n chai, lục
phủ ngũ tạng được ướp rượu phủ phê.
-
Thấm thoát
đă tṛn 8 năm, nhớ lại hôm nào Phương Triều từ Minnesota về
thăm Little Saigon cùng Lâm Tường Dũ, Nguyễn Ngọc Chấn và bỉ
nhân.Ba ông bạn nầy có duyên với nhau từ xa xưa v́ có ba bà
vợ cùng trường cùng lớp, bỉ nhân th́ sinh Trung rể Bắc nhưng
cùng máu văn nghệ nên xem nhau như xưa. Phương Triều cảm
hứng, nghêu ngao:
-
Bằng Hữu
-
“Ta lại về
chỗ lặng
-
Những chiếc
lá cuối mùa bầm dập
-
Dậy từng
tiếng hát loài sâu

-
Dồn dập hư
vô trống mỏ sầu...
-
-
Mà... Mai Vi
Phúc tuốt gươm Triều Đại Mạc
-
Mà... Ngọc
Hoài Phương già như đă trẻ lâu
-
Lâm Tường Dũ
mỏ dài hơn loài tiên điểu
-
Lăo học tṛ
Nguyễn Ngọc Chấn học lại chữ ban đầu!
-
...
-
Phạm Trọng
Phúc, Nhật Ngân, Yên Lang soạn giả
-
Soạn một lần
trăm chuyện bể dâu!
-
Chưa kịp
hát, rụng răng vào đáy rượu
-
Bịt lại răng
vàng, há miệng cười lâu!
-
-
Vương Trùng
Dương thọc tay vào mộng
-
Hái lại chùm
thi ca thâm sâu
-
Gặp Lư Bạch
chào anh buổi sáng
-
Hẹn lại nhà
Đỗ Phủ hứng mưa ngâu!
-
-
... Ta về
Thành Cam nhậu trận đầu
-
Dị nhân bằng
hữu đều rụng râu!...
-
Phương Triều
- Thành Cam
-
(Sau nầy
Phương Triều tiếp tục sáng tác với nhiều khuôn mặt trong bài
thơ Bằng Hữu)
-
-
Vào thế kỷ
thứ III, thời Xuân Thu - Tam Quốc, Quan Vân Trường, Lưu Bị,
Trương Phi gặp nhau, uống máu thề nguyền. Ngày nay, ở đất
nước văn minh, không thể bày tṛ đó được, nhậu “tiết canh
vịt” bàn chuyện tào lao. Vả lại, Lâm Tường Dũ và Nguyễn Ngọc
Chấn uống Coca Cola, làm sao Phương Triều và bỉ nhân chén
tạc chén thù cho trọn?... Bạn ta về lại nơi xứ lạnh làm bài
thơ uống rượu để đời và hẹn lúc gặp nhau.
-
Trước khi
đọc bài viết của Vĩnh Phúc, bỉ nhân đă t́m ra chân lư khi
chọn bằng hữu chỉ biết nhậu nước ngọt để cho ḷng ḿnh thanh
thản khi gặp đệ tử Lưu Linh.
-
Khi đặt chân
tỵ nạn trên mảnh đất Cờ Hoa, bỉ nhân chợt nhớ hai câu thơ
của Cao Thích:
-
“Mạc sầu
tiền lộ vô tri kỷ
-
Thiên hạ hà
nhân bất thức quân”
-
(Chớ buồn
phía trước không tri kỷ
-
Thiên hạ
không người quen biết anh).
- Trải qua
vài thập niên nay, bài Hồ Trường của Nguyễn Bá Trạc hầu như
quen thuộc với dân nhậu mỗi khi cao hứng nghêu ngao đôi câu:
-
“...Vỗ gươm
mà hát,
-
Nghiêng bầu
mà hỏi
-
Trời đất
mang mang ai người tri kỷ
-
Lại đây cùng
ta cạn một hồ trường...”
-
Nếu Lư Bạch
có tái sinh, vẫn mê uống rượu, t́m mấy ông bạn không rượu,
không hút thuốc để khỏi mang vạ vào thân.
-
-
Vương Trùng Dương
-
Little Saigon
30-5-2003
-
-
Sau khi bài viết được phổ biến trên Cali Weekly, ông
bạn văn laiquangnam gởi cho bản dịch bài thơ Đối Tửu
của Lý Bạch, một trong 150 bài thơ Đường đang tuyển
chọn để dịch.
-
VTrD - June 2008
-
-
Lư Bạch
-
Đối tửu (kỳ II)
-
對酒
(其二)
-
- Nguyên tác
- 對酒 (其二)
- 1.
勸君莫拒杯,
2.
春風笑人來。
3.
桃李如舊識,
- 4.
傾花向我開。
5.
流鶯啼碧樹,
6.
明月窺金罍。
7.
昨來朱顏子,
8.
今日白發催。
9.
棘生石虎殿,
10.
鹿走姑蘇臺。
11.
自古帝王宅,
12.
城闕閉黃埃。
13.
君若不飲酒,
14.
昔人安在哉。
-
- Phiên âm
- Đối tửu (kỳ nhị)
- Khuyến quân mạc cự bôi
- Xuân phong tiếu nhân lai
- Đào lư như cựu thức
- Khuynh hoa hướng ngă khai
- Lưu oanh đề bích thụ
- Minh nguyệt khuy kim lôi
- Tạc lai chu nhan tử
- Kim nhật bạch phát thôi
- Cúc sinh Thạch hổ điện
- Lộc tẩu Cô Tô đài
-
- Tự cổ đế vương trạch
- Thành khuyết bế hoàng ai
- Quân nhược bất ẩm tửu
- Tích nhân an tại tai!
-
- Bản dịch
-
- Đối tửu (1)
-
- Huynh chớ nên chối từ
chén phạt,
- Gió mang cười phân phát
thế nhân.
- Lư đào chốn bạn quen
thân,
- Nghiêng cành hoa nở xịch
dần tới Huynh.
-
- Ḱa chú oanh cành xanh ca
miết,
- Nọ bác trăng xa liếc chén
vàng.
- Hôm qua trai trẻ ngang
tàn,
- Hôm nay tóc trắng hàng
hàng… dọc ngang.
-
- Điện Thạch Hổ (2) dưới
bàn gai mọc,
- Đài Cô Tô (3) hươu lộc
chạy rông.
- Dinh xưa riêng cơi đế
vương,
- Mà nay khuyết ră bụi vàng
thế ru!.
-
- Rượu ngon hà cớ bạn từ!
- Người xưa hỏi họ, bây chừ
ở mô (4)!
- Laiquangnam dịch
-
- Chú thích
- 1- Đối tửu, “đối mặt cùng
rượu”
- 2- Thạch Hổ là vua đời Hậu
Triệu , thường bày tiệc ở điện Thái Vũ ,Có người khách nói
rằng dưới lớp gạch của điện này có gai.Vua cho đào ,quả dưới
bàn đá có cây gai tươi tốt .
- 3- Đài Cô Tô , nơi vua Ngô
Phù Sai xây để được hú hí ,gần Tây Thi . Ngũ Tử
Tư can vua không được , bèn nói rằng: “ Tôi trông thấy hươu
nai chạy rông chỗ này”.Quả vậy, nước Ngô sau không lâu bị
Việt Câu Tiển diệt, Ngô Phù Sai tự sát v́ ô nhục .
- 4- ở mô !, ở đâu ,
- Đôi điều thưa với khách
thơ
- Nếu gặp lúc quá vui, trong
bàn rượu, đọc cho vui như “dzầy”:
- Hôm qua sức sống đang
xung
- Hôm nay bạc xụi nhở khùng
nhở điên.
- LQN
|
|
|