Văn Học
Nghệ Thuật
Sinh Hoạt
Phiếm Luận
Trang Thân Hữu Thơ - Văn
Diễn Đàn
Giải Trí
Thư Tín
 
 
Lư Bạch - Đỗ Phủ: Giao T́nh Thi Hữu Lưu Linh
Vương Trùng Dương
 
 
Buổi chiều cuối tuần, người bạn từ phương xa đến Little Saigon mang theo chay “Trường Xuân Tửu”, bạn bè chén tạc chén thù, bàn chuyện thế gian. Hơn ba thập niên rồi, nhớ lại ngày nào ở Đà Lạt, mỗi lần nâng ly “Bạn hơi, quan hà xin cạn chén ly bôi”, cho đến khi ngất ngưởng con tàu đi... Rượu vào lời ra, ông bạn Thiết Trượng, tác giả bài “Men Nồng Trong Thơ Văn” nhắc đến bài viết của Vĩnh Phúc “Nhân Đọc Bài Thơ Lư Bạch” trên nhật báo Viễn Đông, có đôi điều lư thú nên câu chuyện ban đầu trở thành câu chuyện văn chương.
Vĩnh Phúc đề cập đến bài thơ Xuân Nhật Túy Khởi Ngôn Chí của Lư Bạch với quan niệm trong thú vui hưởng thụ cùng rượu, say suốt ngày, nằm bậy bạ trước nhà, quên mất ngày tháng và cả thân ḿnh... Vĩnh Phúc viết: “May cho Lư Bạch v́ ông không sống vào thời này, nhất là lại sống ở nước Mỹ. Bởi v́ nói theo chữ nghĩa thời nay, ông sẽ gặp nhiều pốp-lầm lắm (problem)... không thích làm mà lại thích rượu. Với cái tật nầy, mà cứ theo bài thơ đă dẫn, ông say sưa suốt ngày... Thế th́ ông cần phải vào trung tâm cai rượu. Nhưng họ Lư không quan tâm chuyện đó.
V́ không có việc làm (reference quá xấu!) ông phải đến ở nhờ nhà một người bạn... Rất may c̣n có bạn tốt nuôi ăn, cho ở nhờ. E rằng thời buổi nầy rất khó kiềm được một người bạn như thế...”. Ở đất Hoa Kỳ ngày nay mà đem ḷng tốt nuôi thiên tài nát rượu, gặp phải bao điều nhiêu khê; v́ vậy: “Ở nhờ ngoài garage, không có trợ cấp thất nghiệp, cũng không trợ cấp bệnh tật... e rằng có nằm ngay giữa rừng hoa và nghe một triệu con chim oanh hót, Lư Bạch thời nay cũng không thể có hứng thú mà sáng tác được lấy một bài thơ”
Rồi ông kết luận: “Than ôi! thế th́ thiên tài Lư Bạch chưa kịp lóe lên trên nền trời thi ca Trung Quốc đă vội tắt ngủm ngay mất rồi, c̣n đâu!”
May thay cho Lư Bạch, nếu có đầu thai lại ở thiên đàng hạ giới nầy th́ cũng than thân “sinh bất phùng thời”, nếu gặp phải ông bạn thân Đỗ Phủ, không thể nào có được áng thơ tuyệt tác để lưu truyền hậu thế.
Vương Triều nhà Đường ở Trung Hoa từ Cao Tổ (818-627) đến Ai Đế (904-9070 kéo dài gần ba thế kỷ, trong đó có Vơ Tắc Thiên (624-725) thống trị đất nước (684-690) lấy quốc hiệu là Chu.
Trong thời đại nầy được đánh dấu là thời cực thịnh của thi ca Trung Hoa, với những thiên tài lỗi lạc trên văn đàn quốc tế. “Thi Phật Vương Duy, Thi Tiên Lư Bạch, Thi Thánh Đỗ Phủ, Thi Quỷ Lư Hạ đều sinh ra vào thời Trung Đường ở thế kỷ thứ VIII. Bốn thiên tài Phật Tiên Thánh Quỷ cùng tụ hội nhau trong một giai đoạn hoàng kim của thơ ca Trung Quốc. Thế mà, Phật Tiên Thánh Quỷ đều giống nhau: rượu.
Thi hào Lư Bạch (701-762) và Đỗ Phủ (712-770), nghe tiếng, trọng tài hoa, gặp nhau ở Tràng An, trở thành “tri kỷ với rượu và thơ”.
Lư Bạch được may mắn hơn v́ trải qua thời gian được sống ở cung đ́nh, tuy được ân sủng nhưng với tâm hồn phóng khoáng, thanh liêm nên ghét cảnh nịnh nọt, bèn treo áo từ quan, ngao du sơn thủy. Rồi một đêm trăng, với rượu với thơ trên chiếc thuyền lặng lờ giữa sông hồ, thấy bóng Hằng Nga thoáng hiện, nhoài người ra ôm bóng, ngă xuống ḍng sông, thành người thiên cổ.
Đổ Phủ suốt cuộc đời lận đận khổ cực, nhờ Nghiêm Vũ mến tài vận động làm “công chức hạng bét” ở Tứ Xuyên được bảy năm, không nuôi nỗi vợ con, chán đời, vào chùa trên núi Hoàng Sơn nương náu qua ngày. Được viên quan mến tài, chiêu đăi rượu thịt, nhà thơ bị bội thực, qua đời.
Theo Lư Dương Băng th́ Lư Bạch sáng tác khoảng hai vạn bài nhưng ngày nay được lưu truyền khoảng một ngàn bài, Đỗ Phủ với số lượng ít hơn, khoảng vài trăm bài lưu lại cho hậu thế. Tương truyền cho rằng hai nhà thơ nầy, rượu càng vào th́ ư thơ càng tuyệt vời, linh động...
Nhà thơ Nguyễn Du khi đi sứ Trung Quốc, đến viếng mộ thi nhân và lưu lại mấy câu thơ:
  “Thiên cổ văn chương thiên cổ sư
B́nh sinh bội phục bất thường li”
(Lỗi Dương Đỗ Thiếu Lăng Mộ)
  (Ngh́n thưở văn chương đúng bậc thầy
Trọn đời khâm phục dám đơn sai)
Trong bài “Tài Tử Đa Cùng Phú” nhà thơ Cao Bá Quát bày tỏ:
“Lúc bầu rượu dốc nghiêng non nước lại,
Chén tiêu đàm mời mọc trích tiên.
Hóng túi thơ nong hết gió trăng vào,
Cơn xướng họa hẹn ḥ Lăo Đỗ”.
Lư Bạch có rất nhiều bài thơ ca ngợi với men nồng điển h́nh như:
     Đối Tửu
“Khuyến quân mạc cự bôi
(Khuyên anh chớ từ chối chén rượu này)
Xuân phong tiếu nhân lai
(Gió xuân thổi đến cười cợt người ta đấy)
Đào lư như cựu thức
(Đào mận như quen biết nhau sẵn)
Khuynh hoa hướng ngă khai
(Nghiêng hoa về phía ta mà nở)
Lưu oanh đề bích thụ
(Con oanh chuyền hót trên cây biếc)
Minh nguyệt khuy kim lôi
(Vầng trăng sáng ghé vào chén vàng)
Tạc lai chu nhan tử
(Hôm qua c̣n là kẻ má hồng)
Kim nhật bạch phát thôi
(Hôm nay tóc bạc đă giục đến)
Cúc sinh Thạch Hổ điện
(Cây gai mọc trong điện Phục Hổ)
Lộc tẩu Cô Tô đài
(Loài hươu chạy ở đài Cô Tô)
Tự cổ đế vương trạch
(Chỗ ở của vua chúa từ xưa)
Thành khuyết bế hoàng ai
(Thành quách đă phủ kín lớp bụi vàng)
Quân nhược bất ẩm tửu
(Nếu như anh không uống rượu)
Tích nhân an tại tai?”
(Hỏi xem người xưa nay c̣n ở đâu nào?)
 
Bài thơ Tương Tiến Tửu được đánh giá là một trong những tuyệt tác của Lư Bạch:
“Quân bất kiến
Hoàng hà chi thủy thiên thượng lai,
Bôn lưu đáo hải bất phục hồi!
......
Chung cổ soạn ngọc bất túc quư,
Đản nguyện trường túy bất nguyện tinh
Cổ lai thánh hiền giai tịch mịch,
Duy hữu ẩm giả lưu kỳ danh.
Trần Vương tích thời yến B́nh Lạc,
Đẩu tửu thập thiên tứ hoan hước.
Chủ nhân hà vi ngôn thiểu tiền,
Kính tu cô thủ đối quân chước.
Ngũ hoa mă,
Thiên kim cừu,
Hô nhi tương xuất hoán mỹ tửu,
Dữ nhĩ đồng tiêu vạn cổ sầu”.
 
Bản dịch của Trần Trọng Kim:
Cùng Uống Rượu
“Anh chẳng thấy Hoàng Hà nước nọ,
Tự trên trời chảy đổ ra khơi.
Ra khơi thôi thế là thôi,
Về nguồn trở lại có nguồn nào đâu.
...
Quư ǵ soạn ngọc cổ chung,
Muốn say say măi tỉnh không thú ǵ,
Bao hiền thánh xưa kia lặng lẽ
Chỉ anh say tiếng để đời đời,
Trần-vương, B́nh-lạc mua vui
Mười ngàn đẩu rượu chơi bời thỏa thuê.
Chủ ông hỡi, chớ e tiền ít.
Mua rượu về chén tít cùng ta.
Cừu thiên kim, ngựa ngũ hoa,
Đem đi đổi rượu, khề khà uống chơi.
Sầu đâu dằng dặc muôn đời”.
 
Nhà thơ Lư Hạ cũng lưu lại thế gian bài Tương Tiến Tửu:
“Lưu ly chung
Hổ phách nùng
Tiểu tao tửu tích trân châu hồng
Phanh long, bào phượng ngọc chi khấp
La vi tú mạc vi xuân phong
Suy long địch, kích đà cổ
Hạo xỉ ca, tế yêu vũ
Huống thị thanh xuân nhật tương mộ
Đào hoa loạn lạc như hồng vũ
Khuyến quân chung nhật mính đính túy
Tửu bất đáo Lưu Linh phần thượng thổ”
 
Bản dịch của Huỳnh Ngọc Chiến:
Mời Uống Rượu
“Chén lưu ly
Rượu ngon nồng
Thùng rượu tuôn giọt trân châu hồng
Giết rồng nướng phụng mỡ khóc nấc
Màn là trướng vũ vây xuân phong
Thổi sáo rồng, vỗ trống lụa
Cùng hát lên
Eo thon múa
Huống hồ tuổi xuân đang tàn úa
Hoa đào rơi loạn mưa tua tủa
Mời anh suốt ngày say mệt mê
Đừng mong rượu tưới Lưu Linh mộ”.
 
* Lưu Linh: tự là Bá Luân, người thời Đông Tấn, nổi tiếng ưa thích uống rượu làm thơ. Tính t́nh hào phóng, sống bất cần đời. Ông ca ngợi h́nh ảnh uống rượu qua bài thơ Tửu Đức Tụng. Trong tác phẩm Cung Oán Ngâm Khúc có câu:
“Cờ tiên rượu thánh ai đang,
Lưu Linh, Đế Thích là làng tri âm”
Từ danh từ riêng được trở thành từ chung, Lưu Linh thường được dùng để chỉ những người uống rượu như từ tửu đồ.
 
Ngoài bài Xuân Nhật Túy Khởi Ngôn Chí, bài Xuân Nhật Độc Chước của Lư Bạch tỏ bày tâm sự:
“Xuân phong phiến thục khí
Thủy mộc vinh xuân huy
Bách nhật chiếu lục thảo
Lạc hoa tán thả phi
Cô vân hoàn không sơn
Chúng điểu các dĩ qui
Bỉ vật giai hữu thác
Ngô sinh độc vô y
Đối thử thạch thượng nguyệt
Trường túy ca phương phi”
 
Bản dịch của Trần Trọng Kim:
Ngày Xuân Uống Rượu Một Ḿnh
“Gió đông khi thổi huyên ḥa,
Nước cây tươi đẹp, đậm đà nắng xuân.
Màu hương sắc cỏ đượm nhuần,
Hoa tàn cành rữa rụng dần bay tung.
Đám mây về núi thung dung,
Chim bay về tổ, đều cùng thảnh thơi.
Vật kia y thác có nơi,
Thân ta riêng chịu cảnh đời lẻ loi.
Ngắm trăn trên đá bồi hồi,
Rượu rồi say tít, hát bài phương phi”.
 
Đổ Phủ luôn luôn mang tâm trạng u uẩn, mượn rượu giải sầu nhưng ít bạt mạng hơn Lư Bạch, hoàn cảnh gia đ́nh trong cơn bỉ cực được thể hiện qua vài thơ tiêu biểu:
Khách Chí
“Xá nam xá bắc giai xuân thủy,
Đản kiến quần âu nhật nhật lai.
Hoa kiến bất tằng duyên khách tảo,
Bồng môn kim thủy vị quân khai.
Bàn tôn thị viễn vô kiêm vị,
Tôn tửu gia bần chỉ cựu phôi.
Khẳng dữ lăng ông tương đối ẩm,
Cách ly hô thủ tận dư bôi” .
 
Bản dịch của Trần Trọng San:
Khách Đến
“Nước xuân đầy rẫy bắc nam;
Ngày ngày âu vẫn thường sang chơi nhà.
Chưa v́ khách quét lối hoa,
Cửa bồng nay mới mở ra v́ người.
Chợ xa thiếu vị dâng mời;
Nhà nghèo; chỉ có rượu ôi lâu ngày.
Với ông hàng xóm cùng say,
Gọi đem hết rượu ra ngay bên rào”.
 
Trong Khúc Giang Kỳ có ba bài, trong đó bài số II:
“Triều hồi nhật nhật điển xuân y
Mỗi nhật giang đầu tận túy quy
Tửu trái tầm thường hành xứ hữu
Nhân sinh thất thập cổ lai hy
Xuyên hoa giáp điệp thâm thâm hiện
Điểm thủy thanh đ́nh khoản khoản phi
Truyền ngữ phong quang cộng lưu chuyển
Tạm thời tương tống mạc tương vi”.
 
Bản dịch của Tản Đà:
Sông Khúc
“Khỏi bệ vua ra cố áo hoài
Bến sông say khướt, tối lần mai
Nợ tiền mua rượu đâu không thế ?
Sống bảy mươi năm đă mấy người ?
Bươm bướm luồn hoa phơ phất lượn
Chuồn chuồn rởn nước lửng lơ chơi
Nhắn cho quang cảnh thường thay đổi
Tạm chút chơi xuân kẻo nữa hoài”.
(Câu “Nhân sinh thất thập cổ lai hy” được lưu truyền dài dài phát xuất từ ḍng thơ của Đỗ Phủ)
Bài thơ Bất Kiến nói lên tấm ḷng của thi nhân đối với bằng hữu:
“Bất kiến Lư sinh cửu,
Dương cuồng chân khả ai.
Thế nhân giai dục sát,
Ngô ư độc lân tài.
Mẫn tiệp thi thiên thủ,
Phiêu linh tửu nhất bôi.
Khuông sơn độc thu xứ,
Đầu bạch hảo qui lai”.
 
Bản dịch của Trần Trọng San:
Không Gặp
“Lâu rồi không gặp Lư sinh,
Giả điên vờ dại, cho ḿnh xót ai.
Giết đi là ư người đời,
Ngậm ngùi riêng chỉ ḿnh tôi mến tài .
Lẹ mau thơ viết ngàn bài;
Bây giờ một chén nổi trôi bụi trần.
Nơi xưa đọc sách Khuông Sơn,
Mái đầu bạc trắng, cố nhân hăy về”!
 
Bài thơ Lạc Nhật được sáng tác sau thời gian thất nghiệp:
Lạc nhật tại liêm câu
(Bóng mặt trời đă ngang bức mành)
Khê biên xuân sự u
(Bên khe, vẻ xuân vắng lặng)
Phương phi duyên ngạn phố
(Cỏ thơm đầy vườn bên bờ sông)
Tiều thoán ỷ than chu
(Người đốn củi nấu nướng trên thuyền cạnh thác)
Trác tước tranh chi trụy
(Chim sẻ mổ nhau giành cành rơi xuống)
Phi trùng măn viện du
(Côn trùng bay chơi khắp sân)
Trọc giao thùy tạo nhử ?
(Rượu đục ai chế ra mày ?)
Nhất chước tán thiên ưu
(Uống một cuộc tan hết ngh́n mối lo âu)
 
Chứng kiến h́nh ảnh từ Đường Minh Hoàng và Dương Quư Phi sống trụy lạc, xa hoa... quần thần nịnh nọt, bóc lột dân chúng đói khổ, An Lộc Sơn âm mưu phản loạn; trên đường từ kinh đô về Phụng tiên, Đỗ Phủ làm một mạch 100 câu thơ gồm 500 chữ, tuôn chảy theo nỗi ḷng uẩn ức bấy nay. Trong đó có những câu nổi tiếng được người đời truyền tụng:
“Chu môn tửu nhục xú
Lộ hữu đống tử cốt
Vinh khô chỉ xích dị
Trù trướng nan tái thuật”
(Cửa son rượu thịt ôi
Ngoài đường đầy xác chết
Sướng khổ cách gang tấc
Quặn ḷng không nói được)
 
                                                     *
 
T́nh bạn giữa Thi Tiên Lư Bạch và Thi Thánh Đỗ Phủ được dàn trải qua ḍng thơ:
Xuân Nhật Ước Lư Bạch của Đỗ Phủ
“Bạch dă thi vô địch ,
Phiêu nhiên tứ bất quần .
Thanh tân Dữu khai phủ ,
Tuấn dật Bào tham quân .
Vị bắc xuân thiên thụ ,
Giang đông nhật mộ vân .
Hà thời nhất tôn tửu,
Trùng dừ tế luân văn” .
 
Bản dịch của Trần Trọng San:
Ngày Xuân Nhớ Lư Bạch
“Không có thơ nào hơn Lư Bạch ;
Ư phơi phới nhẹ , chẳng ai bằng .
Thanh Tân giống hệt Dữu Khai phủ ,
Tuấn dật như là Bào tham quân .
Vị Bắc cây xuân trời chốn cũ ,
Giang đông mây vẫn bóng chiều tàn .
Bao giờ rượu lại cùng nâng chén ,
Câu chuyện văn chương lại được bàn?”.
 
Sau khi gặp nhau, cảm mến thi tài, Đỗ Phủ viết bài thơ Tặng Lư Bạch:
“Thu lai tương cố thượng phiêu bồng
(Thu tới nh́n nhau c̣n như cỏ bồng xiêu dạt)
Vị tựu đan sa quư Cát Hồng
(Chưa luyện xong đan thẹn với Cát Hồng)
Thống ẩm cuồng ca không độ nhật
(Uống say khướt hát lung tung cho hết ngày)
Phi dương bạt hộ vị thùy hùng?”
(Đă bướng lại ngông,v́ ai mà làm anh hùng?)
 
Để đáp lại tấm ḷng của người bạn thơ, Lư Bạch phóng bút tặng Đỗ Phủ bài Sa Khâu Thành Hạ Kư Đỗ Phủ
“Ngă lai cánh hà sự
(Tôi đến đây nào có việc ǵ đâu)
Cao ngọa Sa Khâu thành
(Chỉ nằm khểnh ở thành Sa Khâu)
Thành biên hữu cổ thụ
(Bên thành có cây cổ thụ)
Nhật tích liên thu thanh
(Ngày đêm liên tiếp phát ra tiếng thu)
Lỗ tửu bất khả túy
(Rượu nước Lỗ uống không thể say)
Tề ca không phục t́nh
(Khúc hát nước Tề cũng chẳng hợp t́nh)
Tư quân như Vấn thủy
(Nhớ anh như ḍng nước sông Vấn)
Hạo đăng kư nam chinh”
(Mênh mông gửi chảy về nam)
 
Lư Bạch lớn hơn Đổ Phủ 10 tuổi, địa vị trong xă hội tuy cách biệt nhưng trong t́nh văn nghệ, nể trọng nhau trong văn tài v́ vậy khi mới gặp nhau, cả hai trở thành “đệ tử của Lưu Linh”. Lư Bạch tặng Đổ Phủ trước khi chia tay trong bài Kim Lăng Tửu Tứ Lưu Biệt:
“Phong suy liễu hoa măn điếm hương,
Ngô cơ áp tửu hoán khách thường.
Kim Lăng tử đệ lai tương tống,
Dục hành bất hành, các tận trường.
Thỉnh quân thí vấn đông lưu thủy,
Biệt ư dữ chi thùy đoản trường?”
 
Bản dịch của Khương Hữu Dụng
Quán ngạt ngào hương gió liễu bay,
Cô hàng rượu đẹp ép người say.
Kim Lăng bạn trẻ ra đưa tiễn,
Kẻ ở người đi cạn chén đầy.
Nhờ ai hỏi nước Trường Giang thử,
Nước ấy t́nh kia ai vắn dài?
 
Bên cạnh Lư Bạch và Đỗ Phủ, Vương Duy (701-761) làm quan đến chức Thượng Thư Hữu Thừa, ba nhân vật nầy được người đời ban cho ba ngôi: Thiên, Địa, Nhân. Tuy vậy, ông nào cũng lấy rượu giao t́nh, bài Chước Tửu Dữ Bùi Địch của Vương Duy:
“Chước tửu dữ quân quân tự khoan
Nhân t́nh phiên túc tự ba lan
Bạch thủ tương tri do án kiếm
Chu môn tiên đạt tiếu đàn quan
Thảo sắc toàn kinh tế vũ thấp
Hoa chi dục động xuân phong hàn
Thế sự phù vân hà túc vấn
Bất như cao ngọa thả gia san”.
 
Bản dịch của Đông A:
Rót Rượu Mời Bùi Địch
Nâng chén mời anh anh tự khoan
T́nh người tráo trở sóng giồi lan
Bạc đầu quen biết c̣n giương kiếm
Phú quư thành công diễu bạn quèn
Sắc cỏ toàn thường mưa móc đẫm
Cành hoa khẽ động gió xuân hàn
Mây trôi thế sự mong chi nữa
Sao chẳng nằm dài lại được ăn.
 
*
Hăy tưởng tượng, thi hào họ Lư “tửu nhập ngôn xuất”, sơ sơ mỗi ly mỗi bài thơ, một xị bốn ly, cũng ngốn hết hàng ngh́n chai, lục phủ ngũ tạng được ướp rượu phủ phê.
Thấm thoát đă tṛn 8 năm, nhớ lại hôm nào Phương Triều từ Minnesota về thăm Little Saigon cùng Lâm Tường Dũ, Nguyễn Ngọc Chấn và bỉ nhân.Ba ông bạn nầy có duyên với nhau từ xa xưa v́ có ba bà vợ cùng trường cùng lớp, bỉ nhân th́ sinh Trung rể Bắc nhưng cùng máu văn nghệ nên xem nhau như xưa. Phương Triều cảm hứng, nghêu ngao:
Bằng Hữu
“Ta lại về chỗ lặng
Những chiếc lá cuối mùa bầm dập
Dậy từng tiếng hát loài sâu
Dồn dập hư vô trống mỏ sầu...
 
Mà... Mai Vi Phúc tuốt gươm Triều Đại Mạc
Mà... Ngọc Hoài Phương già như đă trẻ lâu
Lâm Tường Dũ mỏ dài hơn loài tiên điểu
Lăo học tṛ Nguyễn Ngọc Chấn học lại chữ ban đầu!
...
Phạm Trọng Phúc, Nhật Ngân, Yên Lang soạn giả
Soạn một lần trăm chuyện bể dâu!
Chưa kịp hát, rụng răng vào đáy rượu
Bịt lại răng vàng, há miệng cười lâu!
 
Vương Trùng Dương thọc tay vào mộng
Hái lại chùm thi ca thâm sâu
Gặp Lư Bạch chào anh buổi sáng
Hẹn lại nhà Đỗ Phủ hứng mưa ngâu!
 
... Ta về Thành Cam nhậu trận đầu
Dị nhân bằng hữu đều rụng râu!...
Phương Triều - Thành Cam
(Sau nầy Phương Triều tiếp tục sáng tác với nhiều khuôn mặt trong bài thơ Bằng Hữu)
 
   Vào thế kỷ thứ III, thời Xuân Thu - Tam Quốc, Quan Vân Trường, Lưu Bị, Trương Phi gặp nhau, uống máu thề nguyền. Ngày nay, ở đất nước văn minh, không thể bày tṛ đó được, nhậu “tiết canh vịt” bàn chuyện tào lao. Vả lại, Lâm Tường Dũ và Nguyễn Ngọc Chấn uống Coca Cola, làm sao Phương Triều và bỉ nhân chén tạc chén thù cho trọn?... Bạn ta về lại nơi xứ lạnh làm bài thơ uống rượu để đời và hẹn lúc gặp nhau.
Trước khi đọc bài viết của Vĩnh Phúc, bỉ nhân đă t́m ra chân lư khi chọn bằng hữu chỉ biết nhậu nước ngọt để cho ḷng ḿnh thanh thản khi gặp đệ tử Lưu Linh.
Khi đặt chân tỵ nạn trên mảnh đất Cờ Hoa, bỉ nhân chợt nhớ hai câu thơ của Cao Thích:
“Mạc sầu tiền lộ vô tri kỷ
Thiên hạ hà nhân bất thức quân”
(Chớ buồn phía trước không tri kỷ
Thiên hạ không người quen biết anh).
Trải qua vài thập niên nay, bài Hồ Trường của Nguyễn Bá Trạc hầu như quen thuộc với dân nhậu mỗi khi cao hứng nghêu ngao đôi câu:
“...Vỗ gươm mà hát,
Nghiêng bầu mà hỏi
Trời đất mang mang ai người tri kỷ
Lại đây cùng ta cạn một hồ trường...”
Nếu Lư Bạch có tái sinh, vẫn mê uống rượu, t́m mấy ông bạn không rượu, không hút thuốc để khỏi mang vạ vào thân.
 
                                          Vương Trùng Dương
                                                     Little Saigon 30-5-2003
 
    Sau khi bài viết được phổ biến trên Cali Weekly, ông bạn văn laiquangnam gởi cho bản dịch bài thơ Đối Tửu của Lý Bạch, một trong 150 bài thơ Đường đang tuyển chọn để dịch.
                                                                         VTrD - June 2008
 
Lư Bạch
Đối tửu (kỳ II)
對酒 (其二)
 
Nguyên tác
對酒 (其二)
1.         勸君莫拒杯,

2.         春風笑人來。

3.         桃李如舊識,

4.         傾花向我開。

5.         流鶯啼碧樹,

6.         明月窺金罍。

7.         昨來朱顏子,

8.         今日白發催。

9.         棘生石虎殿,

10.       鹿走姑蘇臺。

11.       自古帝王宅,

12.       城闕閉黃埃。

13.       君若不飲酒,

14.       昔人安在哉。

 
Phiên âm
Đối tửu (kỳ nhị)
Khuyến quân mạc cự bôi
Xuân phong tiếu nhân lai
Đào lư như cựu thức
Khuynh hoa hướng ngă khai
Lưu oanh đề bích thụ
Minh nguyệt khuy kim lôi
Tạc lai chu nhan tử
Kim nhật bạch phát thôi
Cúc sinh Thạch hổ điện
Lộc tẩu Cô Tô đài
 
Tự cổ đế vương trạch
Thành khuyết bế hoàng ai
Quân nhược bất ẩm tửu
Tích nhân an tại tai!
 
Bản dịch
 
Đối tửu (1)
 
Huynh chớ nên chối từ chén phạt,
Gió mang cười phân phát thế nhân.
Lư đào chốn bạn quen thân,
Nghiêng cành hoa nở xịch dần tới Huynh.
 
Ḱa chú oanh cành xanh ca miết,
Nọ bác trăng xa liếc chén vàng.
Hôm qua trai trẻ ngang tàn,
Hôm nay tóc trắng hàng hàng… dọc ngang.
 
Điện Thạch Hổ (2) dưới bàn gai mọc,
Đài Cô Tô (3) hươu lộc chạy rông.
Dinh xưa riêng cơi đế vương,
Mà nay khuyết ră bụi vàng thế ru!.
 
Rượu ngon hà cớ bạn từ!
Người xưa hỏi họ, bây chừ ở mô (4)!
Laiquangnam dịch
 
Chú thích
1- Đối tửu, “đối mặt cùng rượu”
2- Thạch Hổ là vua đời Hậu Triệu , thường bày tiệc ở điện Thái Vũ ,Có người khách nói rằng dưới lớp gạch của điện này có gai.Vua cho đào ,quả dưới bàn đá có cây gai tươi tốt .
3- Đài Cô Tô , nơi vua Ngô Phù Sai xây để được hú hí ,gần Tây Thi . Ngũ Tử Tư can vua không được , bèn nói rằng: “ Tôi trông thấy hươu nai chạy rông chỗ này”.Quả vậy, nước Ngô sau không lâu bị Việt Câu Tiển diệt, Ngô Phù Sai tự sát v́ ô nhục .
4- ở mô !, ở đâu ,
Đôi điều thưa với khách thơ
Nếu gặp lúc quá vui, trong bàn rượu, đọc cho vui như “dzầy”:
Hôm qua sức sống đang xung
Hôm nay bạc xụi nhở khùng nhở điên.
LQN
 
 
 
                                        Trở lại trang nhà >>>
 
 
Vương Trùng Dương  Email: caliweekly@yahoo.com - vuongtrungduong@yahoo.com

VTrD