|
|
-
Nguyễn Bá Trác (1881-1945)
-
& bài thơ Hồ Trường
-
Vương Trùng Dương
-

-
Nhà văn Nguyễn Bá Trác, bút hiệu Tiêu Đẩu đă
đóng góp nhiều công tŕnh biên soạn được đăng tải trên báo Nam Phong và
xuất bản nhiều tác phẩm vào tiền bán thế kỷ XX nhưng trải qua nhiều thập
niên, tên tuổi của ông chỉ được nhắc đến qua bài thơ Hồ Trường.
-
Bước vào năm Ất Dậu, nhân 60 năm ngày mất của ông, chúng
tôi đề cập đến h́nh ảnh người quá cố đă có công đóng góp cho nền văn học
và lịch sử đất nước nhưng bị phôi phai theo thời gian. Đây chỉ là bài
viết có tính cách tổng quát về tác giả và bài thơ được đăng tải trên tờ
Nam Phong vào đầu thập niên 20, được sao chép lại và lưu truyền rộng răi
nhưng được bàn căi khá nhiều qua nguyên tác của nó, vấn đề nầy xin nhường
cho những nhà nghiên cứu văn học, chúng tôi ghi nhận những điều qua sách
báo.
-
-
-
Đôi Ḍng Về Tác Giả
-
Nguyễn Bá Trác sinh năm Tân Tỵ, 1881 tại làng Bảo An, Điện
Bàn, Quảng Nam. Địa danh làng nầy đă được đề cập trong bài viết về nhà
văn Phan Khôi (1887-1959) ở vùng đất G̣ Nổi gồm có các làng Tư Phú, Bảo
An, La Kham, Xuân Đài, Trường Giang, Đông Bàn, Phú Bông... vùng đất đă
mang lại niềm tự hào cho quê hương Quảng Nam v́ đă sản sinh ra những nhân
vật gắn liền với lịch sử và văn học nước nhà.
-
Thuở nhỏ ông theo học ở Quảng Nam, năm 1906, ông đỗ Cử nhân
ở Huế. Hưởng ứng lời kêu gọi của các nhà ái quốc trong phong trào Đông Du
của Phan Bội Châu và Duy Tân của Phan Chu Trinh và Kỳ Ngoại Hầu Cường Để,
ông ra Hà Nội học tiếng Pháp và năm 1908, ông t́m cách theo du học sinh
sang Nhật. Khi chính phủ Nhật giải tán học sinh du học, ông sang Trung Hoa
rồi trở về Việt Nam năm 1914.
-
Ông làm Chủ Bút phần Hán văn tờ Cộng Thị Báo từ năm 1914
đến 1916. Năm 1917, dưới sự bảo trợ của Louis Marty, Phạm Quỳnh sáng lập
Nam Phong tạp chí, Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút và Nguyễn Bá Trác đảm trách Chủ
Bút phần Hán văn.
-
Rời tờ Nam Phong, ông làm Tá Lư Bộ Học ở Huế, Tuần Phủ ở
Quảng Ngăi và Tổng Đốc Thanh Hóa, B́nh Định. Tháng 8 năm 1945, Việt Minh
cướp chính quyền, ông bị xử bắn ở Quy Nhơn, Phạm Quỳnh (1892-1945) bị xử
bắn ở Huế.
-
Ngoài nhiều bài viết trên tờ Nam Phong, Nguyễn Bá Trác đă
biên soạn nhiều tác phẩm: Ngoài hai bộ sách Cổ Học Viện Thư Tịch Thủ Sách
cùng với Nguyễn Tiên Khiêm gồm 11 quyển, ấn hành năm 1921, và Hoàng Việt
Giáp Tư Niên Biểu, ấn hành năm 1925, c̣n có Bàn Về Học Thuật Nước Tàu
(1918), Hạn Mạn Du Kư (1920), Bàn Về Hán Học (1920), Hương Giang Mộng
(1920), Ngă An Nam Dân Tộc Nam Tiến Chi Lịch Sử (1921), Mấy Lời Chung Cáo
Của Các Nhà Nho (1921), Nguyễn Bá Học Tiên Sinh Chi Lược Sử Cập Kỳ Di Ngôn
(1921), Du Thanh Ḥa Kư (19210, Hán Học Văn Học Khảo (1917-1932)...
-
-
Hồ Trường
-
GS Thanh Lăng nhận định: “Muốn hiểu văn học việt Nam thời
kỳ 1913-1932 không ǵ tốt cho bằng nh́n vào Nam Phong. Nam Phong là một
tạp chí có ảnh hưởng sâu rộng, giữ địa vị của một Hàn Lâm Viện, kết nạp
tất cả mọi ngành đương thời”. Nhiều quan niệm cho rằng Nam Phong là công
cụ do Phủ Toàn Quyền sáng lập nhưng không thể phủ nhận giá trị của nó
trong lịch sử báo chí, văn học mà Phạm Quỳnh và Nguyễn Bá Trác giữ vai tṛ
quan trọng. Tiếc rằng tài liệu về Nam Phong không c̣n lưu trữ nên khó nhận
định, và ngay cả bài thơ Hồ Trường của Nguyễn Bá Trác rất nổi danh đă bị
tam sao thất bổn.
-
Nguyễn Bá Trác viết thiên kư sự Hạn Mạn Du Kư (HMDK) bằng
Hán văn, đăng trên báo Nam Phong rồi tác giả dịch ra Việt ngữ, đăng tải
lại trên Nam Phong từ số 38 đến 43 trong năm 1920.
-
Tác phẩm Hạn Mạn Du Kư, Đông Kinh ấn quán xuất bản, Hà Nội,
1921, gồm 14 chương, dày 294 trang. B́a sách có in “Lời kư của một người
đi chơi phiếm Xiêm – Tàu – Nhật Bản...”. Trong tác phẩm nầy th́ cuộc hành
tŕnh 6 năm, tác giả khởi hành từ miền Trung VN sang Thái Lan, đến Trung
Hoa rồi sang Nhật, trở lại Trung Hoa, ghé Hồng Kông rỗi trở về Việt Nam.
-
Bài thơ Hồ Trường ra đời khi Nguyễn Bá Trác lưu lạc Trung
Hoa và đứng trước hoàn cảnh trớ trêu giữa bản thân và đất nước, bắt gặp
bài ca phù hợp với tâm trạng tạo thành ư thơ. Nếu có tài liệu từ tạp chí
Nam Phong và tác phẩm HMDK để chép lại th́ bài thơ Hồ Trường không tốn
nhiều bút mực trong những thập niên qua.
-
Trong quyển Việt Nam Văn Học Sử Yếu Giản Ước Tân Biên của
GS Phạm Thế Ngũ, Sài G̣n 1965, đề cập đến giai đoạn tác giả bài thơ Hồ
Trường và bài thơ (xin đánh dấu ngoặc kép những chữ qua các bản văn thay
đổi):
-
Trượng phu không hay xé gan bẻ cột phù cương thường,
-
Hà tất tiêu dao bốn bể luân lạc tha “phương”,
-
Trời Nam “ngàn” dặm thẳm, mây nước một màu sương.
-
Học “chẳng” thành công chẳng lập, trai trẻ bao “lâu” mà đầu
bạc, trăm năm thân thế bóng tà dương.
-
Vỗ “tay” mà hát, nghiêng bầu mà hỏi, trời đất mang mang, ai
là tri kỷ, lại đây cùng ta cạn một hồ trường.
-
Hồ trường, hồ trường, ta biết rót về đâu?
-
Rót về Đông phương, nước bể Đông chảy xiết sinh cuồng lạn
-
Rót vế Tây phương, mưa Tây “rơi” từng trận chứa chan.
-
Rót về Bắc phương, ngọn Bắc phong vi vút đá chạy cát dương.
-
Rót về Nam phương, trời Nam mù mịt, có người quá chén như
điên như cuồng.
-
Nào ai tỉnh nào ai say.
-
Chí ta cho biết ḷng ta ta hay.
-
Nam nhi sự nghiệp ở hồ thỉ, hà tất cùng sầu đối cỏ cây.
-
-
Trong tác phẩm Chơi Chữ của Lăng Nhân Phùng Tất Đắc, Sài
G̣n 1970, một vị thâm nho không nêu tên tác giả Hồ Trường mà dẫn chứng câu
chuyện gắn liền với hoàn cảnh với bài thơ vừa khí khái vừa ngông. So với
bản của Phạm Thế Ngũ trong ṿng kép và bản của Lăng Nhân Phùng Tất Đắc,
chỉ khác nhau vài chữ như: chữ hương thay chữ phương, ngh́n thay ngàn,
không thay chẳng, lăm thay lâu, sơn thay rơi và vài dấu chấm, dấu phảy,
dấu chấm hỏi ở cuối câu.
-
Trong quyển Thi Nhân Việt Nam Hiện Đại 1880-1965 của Trần
Tuấn Kiệt, Sài G̣n 1968, cũng chỉ khác nhau vài chữ trong những câu trên,
trong đó có chữ “bẻ cật” mà LN Phùng Tất Đắc cho rằng sai v́ tác giả muốn
mượn chữ theo điển tích ngày xưa chứ không phải gan cật. Đến phần cuối, ở
câu: “Rót về Nam phương, trời nam mù mịt, có người quá chén như điên như
cuồng” th́ bài thơ lại chấm dứt với câu:
-
“Rót về Nam Phương
-
Trời Nam ngh́n dặm thẳng
-
Non nước một màu sương
-
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
-
Có người quá chén như điên như cuồng”.
-
-
Sau hai thập niên ở hải ngoại, vào giữa năm 1998,
tạp chí Thế Kỷ 21 đề cập lại bài thơ Hồ Trường. Thế Kỷ 21 số 115 tháng
11-1998, trong mục Bạn Đọc Viết đăng tải bài Hồ Trường do Tôn Thất Hanh ở
Canada gởi cuốn băng cassette do chính ái nữ của Nguyễn Bá Trác thực hiện
qua giọng ngâm của Lệ Ba. Trong cuốn băng đó có lời của ái nữ Nguyễn Bá
Trác nhắn nhủ hai người con: “Bài thơ Hồ Trường là bài thơ chí khí của ông
ngoại, nhưng mà đó cũng là chí khí muôn đời của thanh niên”
-
So với bản của Phạm Thế Ngũ th́ khác nhau ở câu đầu thêm
chữ đại “Đại trượng phu”, câu thứ 3 “Chí chưa thành danh chưa đạt”, câu 4
với chữ “gươm”, “người”, câu 8 với chữ “biển”, “loạn”, câu 9 với chữ
“phương Tây”, câu 9 với chữ “đá chạy cát giương”, câu 13 với chữ “Ḷng ta
ta biết, chí ta ta hay” và câu cuối với chữ “ư”.
-
Trên tờ Vietnam Weekly News, ngày 4 tháng 9-1998, bài viết
của Nguyễn Đắc Khoa cũng dựa vào các bài vừa được đăng tải rồi đề cập đến
bài thơ được nghe để luận bàn.
-
Trên tờ Khởi Hành Xuân Canh Th́n, số 39 & 40 tháng 1 & 2
năm 2000 có đề cập đến 4 ấn bản bài thơ Hồ Trường (2 ấn bản trước năm 1975
và 2 ấn bản vào năm 1998) trong đó có bài của Đông Tŕnh trên tờ Tuổi Trẻ
Chủ Nhật ngày 7 tháng 6-1998 mà Đông Tŕnh ghi nhận từ Nguyễn Văn Xuân đọc
từ Hạn Mạn Du Kư. Đây cũng là tài liệu nghiên cứu văn học để dẫn chứng và
tế nhị v́ không kết luận ấn bản nào chính xác.
-
Nh́n chung, bài thơ Hồ Trường sau nầy chép lại đă ngắt và
xuống ḍng và dựa vào sự khác nhau đó để diễn giải cho có phần linh động.
-
Nếu dựa vào những chữ đă để trong ngoặc kép qua các chữ
khác nhau, không có ǵ lệch lạc nhiều, chỉ có chữ “bẻ cật” với “bẻ cột” mà
theo Lăng Nhân Phùng Tất Đắc dựa vào điển tích từ thời Trụ Vương ở Trung
Hoa “Xé gan là hành động của Tỷ Can, bẻ cột là hành động của Chu Văn” thể
hiện hào khí của bậc trung thần không chịu khuất phục dưới bạo chúa do Đắc
Kỷ lung lạc.
-
Nguyễn Bá Trác dựa từ bài hát theo lối biền ngẫu của Trung
Hoa, qua tác phẩm khi viết bằng Hán văn không ai đề cập tác giả chỉ nói về
ư nghĩa hay sáng tác thành thơ nhưng khi chuyển thành Việt ngữ tác giả dệt
thành áng thơ lưu lại tên tuổi của ḿnh. Thế nhưng, c̣n có sự nhầm lẫn
giữa Tiêu Đẩu Nguyễn Bá Trác với Tuyết Huy Dương Bá Trạc (1884-1944) v́
Dương Bá Trạc (bào huynh GS Dương Quảng Hàm), ông là nhà nho yêu nước,
cùng với Tây Hồ Phan Chu Trinh, Hoàng Hoa Thám và các sĩ phu chống Pháp,
bị Pháp kết án 15 năm tù biệt xứ, sau đó bị Nhật đưa sang Singapore. Dương
Bá Trạc cũng là nhà văn có các tác phẩm ấn hành giữa thập niên 20 cùng
thời điểm với Nguyễn Bá Trác. Theo Vũ ngọc Phan trong Nhà Văn Hiện Đại:
“Ngay hồi Nam Phong tạp chí mới ra đời, Dương Bá Trạc đă có nhiều bài kư
biệt hiệu là Tuyết Huy... ông c̣n là thi sĩ, tác giả hai tập thơ: Trai
Lành Gái Tốt và Nét Mực T́nh”. Có lẽ dựa nghiệp dĩ và tâm trạng con người
có tài nhưng chán ngán trước cảnh đời, sinh bất phùng thời mới mượn bầu
rượu nhập vào ư thơ hào khí ngất trời trước thời thế đổi thay nên tưởng
nhầm Dương Bá Trạc là tác giả. Cách đây vài năm, có bài viết “Biến Thể
Ngông Bài Hồ Trường”, tác giả dẫn giải và nhầm lẫn bài thơ đó của Dương Bá
Trạc rồi chỉ trích, thật oan cho nhà văn ái quốc Dương Bá Trạc!
-
Tiếc rằng sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Bá Trác không được
nhắc nhở, chỉ c̣n bài thơ rất hay, đóng góp áng thơ tuyệt vời trong kho
tàng thi ca Việt Nam nhưng bị tam sao thất bổn mà các nhà nghiên cứu văn
học trong cùng thế kỷ chưa minh chứng để lưu lại hậu thế!.
-
Hồ Trường là nậm rượu, bầu rượu h́nh dáng như trái bầu mà
người xưa thường dùng nó để đựng rượu, bài thơ Hồ Trường có câu “nghiêng
bầu mà hỏi”. Trong văn hóa Đông phương, điển h́nh như Trung Hoa, có nhiều
loại cho đồ đựng rượu và uống rượu là nghệ thuật tạo h́nh trải dài qua mấy
ngh́n năm. Từ vật dụng đựng rượu có sẵn trong thiên nhiên như gỗ, tre,
sừng, vỏ ốc, quả bầu (hồ lô) đến vật dụng được chế biến từ đất nung, sành
sứ, kim loại, thủy tinh... theo tiến tŕnh văn minh của con người sáng tạo
ra nhiều loại khác nhau và mỗi loại lại có h́nh dáng riêng của nó.
-
Ngày nay, có nhiều thứ trở thành đồ cổ quư giá với lai lịch
của nó h́nh thành trong mỗi triều đại. H́nh ảnh bầu rượu được buộc dải lụa
ở nước ta được thấy trên các mái đ́nh, miếu, am và trên nóc Tháp Rùa ở Hà
Nội, điện Thái Ḥa, Thế Miếu, Ngọ Môn ở Huế... c̣n lưu lại h́nh ảnh nầy.
Từ thời xa xưa, quả bầu được xem như biểu tượng thiêng liêng đựng nước
thiêng rồi sau đó đựng thức uống rất quư là rượu. H́nh ảnh “bầu rượu túi
thơ” được minh họa qua nhân vật nổi danh như Lă Đồng Tân, Lư Thiết Quảng,
Lư Bạch, Lưu Linh... trở thành quen thuộc qua nhiều thế kỷ ở Đông phương.
B́a thi phẩm Mây của Vũ Hoàng Chương do Tô Ngọc Vân vẽ bầu rượu đựng túi
mây phiêu bồng mô tả tâm hồn thi nhân nơi trần gian.
-
Trong thi ca Trung Hoa và Việt Nam, có hàng trăm bài thơ đề
cập đến rượu, có bài nhắc đến tên rượu, có bài thể hiện ở nội dung...
Nguyễn Bá Trác dùng vật dụng là tựa đề cho bài thơ, vừa hay về âm điệu vừa
gợi h́nh ảnh đồ dùng của loại men nồng, trở thành nét đẹp trong nghệ thuật
tạo h́nh.
-
Trong khi đợi nguyên bản bài thơ Hồ Trường để xác minh, tạm
thời căn cứ vào bài thơ do ái nữ của người quá cố để khỏi phụ ḷng người
thân:
-
-
Hồ Trường
-
Đại trượng phu không hay xé gan bẻ cật phù cương thường
-
Hà tất tiêu dao bốn bể lưu lạc tha phương
-
Trời Nam ngh́n dặm thẳm
-
Non nước một màu sương
-
Chí chưa thành, danh chưa đạt
-
Trai trẻ bao lăm mà đầu bạc
-
Trăm năm thân thế bóng tà dương
-
Vỗ gươm mà hát
-
Nghiêng bầu mà hỏi
-
Trời đất mang mang ai người tri kỷ
-
Lại đây cùng ta cạn một hồ trường.
-
Hồ trường! Hồ trường!
-
Ta biết rót về đâu
-
Rót về Đông phương, nước biển Đông chảy xiết sinh cuồng
loạn
-
Rót về Tây phương, mưa phương Tây từng trận chứa chan
-
Rót về Bắc phương, ngọn Bắc phong vi vút cát chạy đá giương
-
Rót về Nam phương, trời Nam mù mịt có người quá chén như
điên như cuồng.
-
Nào ai tỉnh, náo ai hay
-
Ḷng ta ta biết, chí ta ta hay
-
Nam nhi sự nghiệp ư hồ thỉ
-
Hà tất cùng sầu đối cỏ cây.
-
Bước vào năm Ất Dậu 2005, đúng vào chu kỳ 60 năm,
ngày mất của Tiêu Đẩu Nguyễn Bá Trác, với cái nh́n khách quan và vô tư
trên lănh vực văn học, chúng tôi ghi lại để tưởng nhớ bậc tiền bối đă có
công đóng góp trong thời kỳ báo chí c̣n phôi thai và giai đoạn trưởng
thành của chữ Quốc ngữ.
-
Vương Trùng Dương
|
|
|