Văn Học
Nghệ Thuật
Sinh Hoạt
Phiếm Luận
Trang Thân Hữu Thơ - Văn
Diễn Đàn
Giải Trí
Thư Tín
 
 
          Thi Sĩ Hoàng Anh Tuấn Đă Ra Đi
                                        Đỗ Vẫn Trọn

      Tôi kiếm hồn tôi xưa. Hà Nội
Thuở c̣n trong vắt gió vào Thu
Thoảng nghe ngọt tiếng cô hàng cốm
Chênh vênh đâu cuối phố Sinh Từ
Đó là những vần thơ trác tuyệt của thi sĩ Hoàng Anh Tuấn. Ông vừa ra đi lúc 8 giờ sáng ngày 1 tháng 9 năm 2006 tại viện dưỡng lăo Mission De La Casa, thành phố San Jose-California. Hưởng thọ 74 tuổi.
Hoàng Anh Tuấn sinh ngày 7-5-1932 tại Hà Nội. (Theo Hoàng Công Gia Lễ, ông là trưởng nam của dược sĩ Hoàng Hy Tuần và bà Chế Thị Châu - Cali Weekly). Ngoài làm thơ, viết văn, viết kịch với những vở kịch như: Ly Nước Lọc, Hà Nội 48… Ông c̣n là đạo diễn điện ảnh với những phim: Ngàn Năm Mây Bay, Xa Lộ Không Đèn…
Năm 1949 ông du học bên Pháp và lập gia đ́nh tại đó, vợ ông là bà Ngô Thị Liên. Hai người có với nhau 6 người con là: Hoàng Hôn Thắm, Hoàng Ánh Thép, Hoàng Thu Thuyền, Hoàng Hương Thao, Hoàng Mạc Tiên, và cô gái út là Hoàng Thái Trang kết duyên cùng anh Trần Văn Học, con trai của cố thi sĩ Nguyên Sa. Thời gian sau này ông sống chung với bà Khương Thị Phương-Trâm. Suốt thời gian ông bị bệnh bà Trâm là người cận kề chăm sóc ông.
Năm 1958 thi sĩ Hoàng Anh Tuấn về Việt Nam cộng tác với các tạp chí văn nghệ, cùng nhiều tuần báo và nhật báo ở Sàig̣n. Ông là một trong những thi sĩ được cố nhà văn Mai Thảo yêu mến nhất. Trước đó, mặc dù ông chưa có một thi phẩm nào ấn hành nhưng thơ của ông rất được mọi người yêu mến và nh́n nhận ở ông là một tài thơ lớn. Với Hoàng Anh Tuấn lúc nào cũng là bạn hữu. Tính ông thích bông đùa. Người lớn tuổi hoặc nhỏ tuổi hơn ông cũng xưng hô với nhau là “tao-mày”. Nữ tài tử Kiều Chinh hay gọi đùa ông là đạo diễn “ trẻ măi không già”. Thi sĩ Du Tử Lê gọi ông là “ Châu Bá Thông”. C̣n tôi, thân mến gọi anh là “ Hoàng Công Tử”.
Hoàng Anh Tuấn là một trường hợp vô cùng đặc biệt. Chưa có tác phẩm nhưng lại vô cùng nổi tiếng. Người ta biết nhiều đến ông qua bản nhạc: “Mưa Sàig̣n, Mưa Hà Nội” viết chung với cố nhạc sĩ Phạm Đ́nh Chương trên một căn gác ở Sàig̣n. Những năm gần đây, nhạc sĩ Phan Nguyên Anh phổ nhạc bài thơ “ Yêu Em Hà Nội” của ông được ca sĩ Như Mai tŕnh bày rất xuất sắc.
Năm 1965 ông làm quản đốc đài phát thanh Đà Lạt cho đến năm 1975. Năm 1979 th́ ông được qua Pháp.
Năm 1981 ông định cư tại Mỹ.
Năm 1987 ông lên San Jose để sống và làm việc với tôi. Ông xem tôi như người bạn vong niên của ông. Hai anh em sống gần nhau trong một căn pḥng nhỏ trên đường số 19, San Jose.
Năm 1988, ông cùng với ca sĩ Mai Hân chủ trương tờ báo “Thung Lũng T́nh Yêu”, một vài tháng th́ tờ báo này đ́nh bản. Sau đó, tôi chuyển giao vai tṛ chủ bút tuần báo Yêu thuộc Hệ Thống Truyền Thông Viên Thao để ông và nhà văn Sao Biển phụ trách. Năm 1992, tôi mời ông làm giám đốc đài phát thanh Sàig̣n. Đây là chương tŕnh phát thanh Việt ngữ đầu tiên trên làn sóng AM-1500 tại Hoa Kỳ.
Sau một thời gian dài cộng tác với Hệ Thống Truyền Thông Viên Thao đến năm 1998 th́ ông bị bệnh, thường hay xỉu nơi làm việc. Chứng bệnh mà ông cũng không hiểu tại sao mỗi ngày bụng và người ông như bị “trướng”. Ông mập ra nhiều. Tháng 1 năm 2005, bác sĩ phát giác ông bị ung thư phổi. Tháng 2 năm 2005, ông được đưa vào viện dưỡng lăo Mission De La Casa – San Jose. Thời gian này nhà báo Phạm Huấn (đă mất đầu năm nay) là người bạn tri kỷ nằm cùng pḥng với ông. Tháng 4 năm 2005, người bạn đời sau này của ông là bà Phương Trâm và cô con gái lớn là Hoàng Hôn Thắm cùng với Phạm Hùng tổ chức ra mắt thi phẩm đầu tay “Yêu Em, Hà Nội và những bài thơ khác” của Hoàng Anh Tuấn tại viện dưỡng lăo này. Buổi ra mắt tập thơ trong một pḥng ăn của viện dưỡng lăo diễn ra thật xúc động. Giới văn nghệ và bạn bè tham dự rất đông đủ.
Hiện giờ linh cữu của ông đă được đưa về nhà quàn OakHill tại San Jose. Sự ra đi của thi sĩ Hoàng Anh Tuấn đă để lại cho người yêu thơ - bằng hữu những nỗi nhớ và niềm xúc động.
                                                             Đỗ Vẫn Trọn
 
              Chân Dung Hoàng Anh TuẤn
                                      Huy Phương

       Hoàng Anh Tuấn sinh ngày 7 tháng 5 năm 1932 tại Phố Nhà Chung, Hà Nội trong một gia đ́nh năm anh em mà ông là con trai cả và duy nhất. Khi mới bắt đầu tuổi tiểu học th́ thân phụ ông, một dược sĩ phải đổi di làm việc tại Vinh, gởi ông lại nhà ông bác để di học. Ông theo học tại trường Ḍng Puginier ở Hà Nội, một trường đạo nổi tiếng là kỷ luật và nghiêm khắc. Năm 1943, phi cơ Nhật bắt dầu dội bom Hà Nội, cũng là lúc ông thân sinh bỏ việc ở Vinh, về Hà Nội mang gia đ́nh chạy loạn về Hưng Yên, một tỉnh lỵ êm đềm ở xa Hà Nội. Cho tới lúc này, Hoàng Anh Tuấn lên tới lớp ba mà chưa biết một chữ Việt nào nên được một ông thầy quốc ngữ, thầy giáo tu xuất tên Khắc kềm kẹp và dạy cả cách làm thơ cho Hoàng Anh Tuấn.
Ông giáo này chính làø Trung Tá Vũ Văn An sau này mà Hoàng Anh Tuấn gặp lại tại Cục Tâm Lư Chiến, lúc ông về làm cho tờ Nhật Báo Tiền Tuyến. Hoàng Anh Tuấn đỗ tiểu học năm 12 tuổi và theo học trường Đỗ Hữu Vị, nguyên là ngôi trường ở Hà Nội di tản về Hưng Yên. Sau một thời gian yên ổn, trường trung học này lại chuyển về Hà Nội, đổi tên trường là Nguyễn Trăi, tọa lạc tại Chùa L! áng, ngoại ô Hà Nội. Gia đ́nh của Ḥang Anh Tuấn lúc ấy dọn về Phố Tây Tuyên Quang, tức là hàng Đẫy, Sinh Từ, sau đổi tên thành Cao Bá Quát.
Trong lúc phong trào kháng chiến chống Pháp lên cao, Hoàng Anh Tuấn tuy c̣n nhỏ cũng ra khu và học trường trung học Nguyễn Huệ, tại làng Sêu, thuộc Khu 3 gần Hà Nội và tham gia toán du kích Đống Đa. Mặt trận Việt Minh lúc bấy giờ đă ảnh hưởng Trung Quốc rất mạnh, bài bản chính trị đă mang rặt học thuyết Mao Trạch Đông, cậu thanh niên “tiểu tư sản” Hoàng Anh Tuấn lại hay cắc cớ thắc mắc về “đồng chí” Mao nên được các đảng ủy bắt đầu để ư và trù giập, khiến Hoàng Anh Tuấn phải bỏ mộng đi kháng chiến, trốn về Hà Nội. Vào trường Dũng Lạc, Hoàng Anh Tuấn gặp Duy Thanh (họa sĩ), có bạn bắt đầu làm thơ văn. Năm 14 tuổi, Hoàng Anh Tuấn hănh diện có được một bài thơ lần đầu tiên đăng trên báo Tiểu Thuyết Thứ Bảy của Nhà Xuất Bản Tân Dân, Hà Nội.
Chưa học xong bậc trung học, năm 16 tuổi, sợ tới tuổi lính Hoàng Anh Tuấn đă được gia đ́nh “đẩy” qua Tây, gởi nhờ một ông bạn của bố là ông Tham Giăng (Jean), “một ông Tây lai biết chơi tổ tôm”, ở tại thành phố Nice trông coi. Hoàng Anh Tuấn học lại lớp “secondaire” ở một trường ḍng tư thục, nhưng mới một năm, ông t́nh cờ gặp Nguyên Sa Trần Bích Lan từ Paris về nghỉ hè ở Nice và rủ rê Hoàng Anh Tuấn bỏ nhà đi Paris bụi đời. Hoàng Anh Tuấn thích quá, bỏ Nice, về tới Paris mới báo cho ông già Giăng hay. Sau đó Hoàng Anh Tuấn theo học tiếp tại Povens, một tỉnh cách “thủ đô ánh sáng” khoảng 100km, nửa chừng lại bỏ vào IDHEC, một trường điện ảnh khá nổi tiếng ở Paris, nơi mà Lê Mộng Hoàng, Lê Hoàng Hoa đă theo học, về sau trở thành những đạo diễn khá nổi tiếng ở miền Nam.
Năm 1954, Hoàng Anh Tuấn kết hôn với cô Ngô Thị Liên, một sinh viên Dược Khoa tại Paris và hai ngườiø sinh hạ được một gái một trai, gái có tên là Hoàng Hôn Thắm, trai là Hoàng Ánh Thép, những cái tên rất lạ chưa từng ai dùng.
Năm 1958, Hoàng Anh Tuấn về Saigon, hy vọng theo nghề điện ảnh, ông làm đạo diễn cho hăng phim Alpha của Thái Thúc Nha. Nhưng chỉ ít lâu, nghề điện ảnh không đủ sinh sống, Hoàng Anh Tuấn lại xoay nghề đi làm báo cho các tờ Nhật báo Hiện Đại, Đồng Nai và Tiền Tuyến. Trong giai đoạn mới vào nghề, chính kư giả Huỳnh Thành Vị và Phi Vân đă truyền cho ông tay nghề để có thể lay out, làm tin hay viết các trang trong, để thành một tay làm báo “đa năng”. Năm 1965, t́nh h́nh chính trị tại miền Nam bắt đầu bất ổn, ông Vũ Đức Vinh (Huy Quang), Giám Đốc đài Phát Thanh Quốc Gia cần một người đảm trách việc điều hành đài Phát Thanh Đà Lạt, Hoàng Anh Tuấn lại nổi máu giang hồ, bỏ nghề báo đi theo tiếng gọi của ngành vô tuyến. Đây là thời gian ổn định nhất của Hoàng Anh Tuấn, khi ông làm đài phát thanh, vợ ông dạy tại trường Trung Học Yersin, gia đ́nh ở Đà Lạt gần mười năm cho tới năm 1974, ông mới về lại Saigon.
Hoàng Anh Tuấn được coi như người nghệ sĩ “bá nghệ”, về kịch, ông là tác giả nhiều vở được tŕnh diễn tại sân khấu miền Nam trong đó hai vở kịch nổi tiếng nhất của ông là “Hà Nội 48” và “Ly Nước Lọc”. Về điện ảnh, ông là đạo diễn của hai phim” Xa Lộ Không Đèn”và “Ngh́n Năm Mây Bay”...
Hai tháng sau khi miền Nam mất, ông bị tập trung cải tạo trong “diện văn nghệ sĩ phản động” tại trại Phan Đăng Lưu, một lần với các nhà văn Nguyễn Mạnh Côn, Duyên Anh, Hoàng Hải Thủy...Hai năm sau, Hoàng Anh Tuấn ra tù và sống với thành Hồ hai năm nữa với t́nh trạng rất khó khăn, đen tối trong khi toàn miền Nam c̣n đi cải tạo chưa về nhưng may mắn sau đó, chính phủ nước này đă can thiệp cho ông cùng gia đ́nh sang Pháp. Hoàng Anh Tuấn lại tái ngộ với Paris sau hai mươi năm xa cách. Tuy ông đă sinh sống ở Pháp trong một thời gian khá dài, nhưng sau đó ông lại chọn di cư sang Hoa Kỳ năm 1981 với sự bảo lănh của Hoàng Hôn Thắm, con gái ông, đă rời việt Nam từ năm 1975.
Hoàng Anh Tuấn và gia đ́nh thoạt đầu, về định cư tại tiểu bang Ohio, thời gian này c̣n ít người Việt và rất buồn tẻ. Hoàng Anh Tuấn kể “tếu”rằng khi học tiếng Anh vừa đủ vào tiệm mua thuốc lá, ông lên Greyhound giang hồ trực chỉ Washington DC vui chơi một ḿnh. Nghe Quận Cam sinh hoạt báo chí Việt Nam rộn rịp, đồng hương đông vui , Hoàng Anh Tuấn lại lên xe bus về Westminster tham gia sinh hoạt báo chí tại đây và làm báo với Du Miên khoảng hai năm. Sau đó , để thay đổi không khí và thỏa măn máu giang hồ, Hoàng Anh Tuấn lại về Washington DC đầu quân với Nguyễn Thanh Hoàng làm thư kư ṭa soạn tờ Văn Nghệ Tiền Phong, nhưng ông chỉ dừng chân đúng một năm như lời giao hẹn.
Cuối cùng, từ gần mười năm nay, Hoàng Anh Tuấn “tự hưu trí” tại San Jose, tiếp tục làm thơ nhưng chừa rượu, bỏ thuốc lá v́ bệnh tật cũng thường lui tới thăm viếng nhà thơ này. Hoàng Anh Tuấn có sáu con, hai trai, bốn gái hiện sinh sống tại Santa Ana, Washington DC, Dallas và Houston.
Nói về lai lịch, bên nội Hoàng Anh Tuấn là người Hà Nội nhưng thân mẫu lại là gịng giơi hoàng tộc ở Huế. Ông ngoại của Hoàng Anh Tuấn nguyên là họ Chế, gốc Chiêm Thành, sau chiến tranh Chiêm Việt, vua nhà Nguyễn có bắt một số nghệ nhân Chiêm Thành đem về kinh đô. Ông họ Chế này học đỗ Tiến Sĩ, có tài viết chữ đẹp và rất được nhà Vua tin dùng. Ông “trả thù dân tộc” bằng cách kết hôn với một công chúa cháu của vua Thiệu Trị và sinh ra thân mẫu của nhà thơ Hoàng Anh Tuấn.
Cuộc đời của Hoàng Anh Tuấn đă trải qua những tháng năm ở những vùng đất đă mang ư thơ cho nhiều thi sĩ Việt Nam là Paris, Hà Nội và... Đà Lạt. Tuy vậy ta ít thấy nhà thơ này nói đến Đà Lạt hay Paris, nhưng Hà Nội, một nơi mà ông sống một thời gian rất ngắn, chỉ với mười sáu năm của thời thơ ấu, nhưng đă để lại nhiều ấn tượng nhất trong đời sống của ông.Với Nguyên Sa, t́nh yêu là Paris, với Hoàng Anh Tuấn t́nh yêu là Hà Nội, một Hà Nội xa xôi từ hơn nửa thế kỷ, Hà Nội mà chàng trai bỏ ra đi từ năm mười sáu tuổi, “mấy chục năm, xa đến mấy ngh́n năm”. Từ ngày đó cho đến nay, Hoàng Anh Tuấn chưa một lần trở lại Hà Nội, nh́n Hà Nội bây giờ dù có đổi thay, nhưng vẫn tràn đầy kỷ niệm trên những con đường góc phố ngày xưa, như những người t́nh của Hà Nội khác..Nhưng không, Hoàng Anh Tuấn chỉ muốn giữ một h́nh ảnh Hà Nội trong trí nhớ, như một kỷ niệm của mối t́nh đầu, đẹp đẽ và thanh khiết, không phải là Hà Nội bây giờ:
“Hà Nội yêu, vẫn y nguyên tưởng nhớ
Nên ngh́n năm vẫn ngỡ mới hôm qua.
Bóng hoàng lan, sân gạch mát sau nhà
C̣n vương vấn trong những bài thơ cũ”
Tập thơ “Yêu Em, Hà Nội và Những Bài Thơ Khác” là công tŕnh sưu tập “báo hiếu” của Thu Thuyền ở Dallas Texas, thứ nữ của Hoàng Anh Tuấn cho ông bố già.
Sưu tập là v́ những bài thơ đăng báo của Hoàng Anh Tuấn đă thất lạc, phải nhờ bạn bè và tốn một thời gian để thu thập lại. Một giai thoại về thơ Hoàng Anh Tuấn là Thu Thuyền đă phải t́m ṭi những “nàng thơ” mà ngày xưa HAT đă gởi thơ tặng để xin lại những bản sao hầu có thể hoàn thành tập thơ này. Hoàng Anh Tuấn vẫn mong rồi sẽ có tập thơ thứ ba hay thứ tư nữa nếu ông có khả năng sưu tập lại đủ. Một nguyện vọng khác của Hoàng Anh Tuấn là in một tập kịch Hoàng Anh Tuấn , hiện nằm rải rác trong các thư viện Hoa Kỳ qua những chồng báo Việt Nam cũ.
Đầu năm 2004, nhà thơ Hoàng Anh Tuấn đă giới thiệu tập thơ “Yêu Em, Hà Nội và Những Bài Thơ Khác” tại Pḥng Sinh Hoạt Nhật Báo Người Việt, sau một thời gian phải vào ra bệnh viện. Buổi sinh hoạt giới thiệu tác phẩm này có đầy đủ sự hiện diện của vợ và các con của nhà thơ, cũng là dịp để Hoàng Anh Tuấn gặp lại những bạn cũ và những người yêu thơ của những thời xa xưa.
Sau thời gian này, nhà thơ Hoàng Anh Tuấn đă vào nằm hẳn trong bệnh viện cho tới ngày ông mất. Ngày 20 tháng 4 năm 2004, Phạm Hùng (bào đệ của kư giả Phạm Huấn) đă thu xếp tổ chức một buổi ra mắt tập thơ trên tại chỗ, ngay nơi Hoàng Anh Tuấn đang nằm dưỡng bệnh tại Nursing Home “Mission de la Casa” trên đường Alvin thuộc thành phố San José. Cũng tại địa điểm này, năm ngoái (2005) chúng ta đă mất Phạm Huấn. Bây giờ, vào ngày đầu tháng 9, Hoàng Anh Tuấn cũng đă bỏ chúng ta ra đi.
                                      Huy Phương
               Vĩnh biệt Hoàng Anh Tuấn
         một nghệ sĩ đích thực từ tác phẩm đến cuộc đời
                                                                Văn Quang
 
Đă có một thời Hoàng Anh Tuấn là hàng xóm của tôi ở cư xá Chu Mạnh Trinh, bên ngă tư Phú Nhuận của Sài G̣n. Khu cư xá từng có khá nhiều văn nghệ sĩ thời đó “xây tổ ấm”. Gia đ́nh anh chị Dương Thiệu Tước- Minh Trang- Quỳnh Giao, gia đ́nh ông chú Nguyễn Mạnh Côn của tôi, gia đ́nh chị Thái Hằng - Phạm Duy, danh ca Anh Ngọc, nhà văn Duyên Anh, nhà báo Linh Lan, ông chủ báo Ngôn Luận và Văn Nghệ Tiền Phong Hồ Anh… Lâu quá rồi, tôi không thể nhớ hết. Nhưng điểm lại số người đó, nay không c̣n được một nửa. Lại thêm một người nữa vừa ra đi: Hoàng Anh Tuấn ở San Jose.
Không ngạc nhiên nhưng…
Cái tin anh mất, thật sự không làm tôi ngạc nhiên. Bởi đă từ lâu, khi Phạm Huấn c̣n nằm tại “viện dưỡng lăo”, bên cạnh đó có Hoàng Anh Tuấn. Tôi vẫn thường được bạn bè ở San Jose cho biết tin tức về hai ông bạn này. Có ông tường thuật từng chi tiết. Nào là hồi này Tuấn khỏe lắm, bụng to như cái thùng, vẫn cười như trẻ thơ. Tôi cũng nhận được vài tấm ảnh của Tuấn, khuôn mặt th́ vẫn vậy, nhưng thân h́nh th́ đẫy đà, khác nhiều so với ngày nào. Khi Phạm Huấn mất, tôi chắc Tuấn buồn lắm, không c̣n bạn bên ḿnh. Trong thâm tâm tôi, vẫn cứ nghĩ, một ngày nào đó Tuấn cũng sẽ bỏ anh em, chưa biết là một ngày nào gần đây thôi.
V́ thế tôi không ngạc nhiên khi nhận được cùng một lúc gần 10 cái e mail của các bạn ở Mỹ báo tin Tuấn đă ra đi vào 7:30 sáng (giờ cali) ngày thứ  Sáu, 01 tháng 9 năm 2006. Không ngạc nhiên, nhưng nỗi ngẩn ngơ th́ vẫn cứ tràn đầy. H́nh ảnh Hoàng Anh Tuấn hiện lên quanh đây, hơn 30 năm qua rồi, xa nhau biền biệt, mà Tuấn cứ như ở trước mặt. Cái dáng vẻ hồn nhiên, vô tư của anh rơ mồn một. Con người lúc nào cũng như “cuộc đời chẳng có ǵ phải lo nghĩ, chẳng có ǵ phải tính toán”. Anh phơi phới trong bất kỳ trường hợp nào. Suốt những năm tháng ở gần anh, dường như chẳng bao giờ thấy anh buồn. Thế mà thơ của anh lại hay, lại thấm, chữ nghĩa mới và sâu sắc mới lạ. Đó là một người bạn đối với tôi rất đặc biệt.
Toàn những nghề tay trái
Hoàng Anh Tuấn có rất nhiều “nghề”. Làm đạo diễn, là nhà thơ, nhà văn, nhà báo, là quản đốc đài phát thanh Đà Lạt. Nhưng trong con người anh không có một tí công chức nào. Thông thường, bạn bè nh́n anh như một nhà đạo diễn. Không có tính “chuyên nghiệp” như Hoàng Vĩnh Lộc, Lê Hoàng Hoa… Anh là một đạo diễn rất “tài tử”. Anh đă từng tốt nghiệp tại một trường Điện Ảnh ở Pháp ngay trong thời kỳ c̣n là sinh viên ở Paris. Nhưng ai mời mà thấy “hợp gu” th́ đạo diễn… chơi cho vui. Tôi thấy h́nh như cái ǵ anh cũng làm chơi cho vui. Thích th́ làm, không thích th́ bỏ đi, giản dị có thế. Cả cuộc sống cũng vậy thôi. Ở anh, con người nghệ sĩ chân thật, hồn nhiên bao trùm lên mọi thứ. Anh chơi tất với mọi người, ngồi quán cóc, uống ly cà phê hay ăn bữa cơm Bà Cả Đọi cũng giống y chang như ngồi ở Caravel phỏng vấn những danh ca nổi danh thế giới như Dalida hoặc ngồi dancing ăn cánh gà chiên bơ, đấu láo với mấy em ca-nhe, bất kể hạng nhất hay về già. Ngay cả trong cách ăn mặc, Tuấn cũng chẳng cần chú ư, cứ “đại khái chủ nghĩa”, không “lên khuôn đóng thùng” ngay cả ở những nơi cần long trọng. Tiếng cười của anh nhiều hơn lời nói. Vẻ “tỉnh tỉnh” của anh làm nên một phong cách riêng. Nh́n thấy anh là nh́n thấy ngay “cuộc đời có cái quái ǵ quan trọng đâu”. Tôi chắc bạn bè rất thích Hoàng Anh Tuấn v́ lẽ đó.
Nhà đạo diễn hiền lành nhất thế giới
Tôi nhớ khi anh đạo diễn cuốn phim Ngàn Năm Mây Bay phóng tác theo tiểu thuyết của tôi, do Thái Lai mời. Anh gặp tôi ở đầu ngơ, hỏi:
– Lê Quỳnh đóng với Bích Sơn, được không mày?
Hai tài tử này vào khoảng thời gian đó là nổi nhất rồi. Tôi nói tùy mày và anh Thái (nhà sản xuất phim, cũng là một nhà sản xuất tài tử nốt, khác với Mỹ Vân, Alpha). Hai ông “nghề nghiệp tài tử” này thích th́ làm, chưa biết cuốn phim đi đến đâu. Nhưng quả thật là tôi cũng thấy khoái cái kiểu “vui chơi một mùa hè này” của mấy ông bạn. Ông Thái trả bản quyền bao nhiêu tôi không c̣n nhớ, nhưng chắc chắn không phải là “có một món tiến kha khá” như ông Quốc Phong làm Chân Trời Tím.
Một lần Tuấn kéo tôi lên xem đóng phim. Phim trường là căn nhà của ông giám đốc sản xuất Thái Lai phim, nằm cuối đường Hồng Thập Tự. Căn nhà mặt tiền đường, không rộng hơn những căn nhà buôn bán tạp hóa ở dẫy phố này. Kê cái comptoir ở phía trong, đèn đuốc, máy quay lỉnh kỉnh xung quanh, cứ như cửa hàng bán phụ tùng máy móc. Bữa đó không có Lê Quỳnh, chỉ có hai chị em Bích Sơn và Bích Thủy. Nhà đạo diễn Hoàng Anh Tuấn râu ria xồm xoàm, nhưng dáng điệu lại rất nhàn nhă, chứ không quát tháo, chỉ chỏ tơi bời hoa lá như những đạo diễn mà tôi đă từng nh́n thấy. Lâu lâu lại thấy nhà đạo diễn cho máy travelling bằng cách kéo cái camera di chuyển trên mặt sành gạch, chẳng cần đường ray. Lúc nào cũng thấy Tuấn nhỏ nhẹ:
– Ấy ấy, làm thế này em ơi. Em làm ơn  đứng sát vào một tí. Đừng cười nhiều, cái miệng rộng quá, mím chi thôi. Làm xem nào. Máy! Cắt!…
Họ làm việc với nhau như “anh em trong nhà”. Ấy thế mà cuốn phim cũng hoàn thành, tôi chẳng biết nó được hoàn thành trong bao lâu. Nhưng chắc chắn không quá 2 tháng v́ nhà sản xuất tài tử này làm quá 2 tháng th́ không c̣n tiền trả nhân công. Rồi cũng đem ra rạp chiếu đàng hoàng, lời lỗ bao nhiêu chẳng biết. Nếu tôi nhớ không lầm th́ ông Thái Lai chỉ sản xuất có một cuốn phim rồi thôi luôn. Sau này ông  tái bản lại cuốn tiểu thuyết Chân Trời Tím mà tôi cũng chẳng hề hay biết. Đến khi sách in xong ông mới mang đến cho tôi một cuốn, bản quyền được trả bằng một chầu ăn uống là xong. C̣n một kỷ niệm đáng nhớ là Bà cụ Hoài Bắc (chúng tôi vẫn thường gọi bà mẹ của Phạm Đ́nh Chương - Thái Thanh bằng cái tên thân mật ấy) thỉnh thoảng lại nhắc về cuốn phim, nhưng cụ gọi là Phim “Ngàn năm máy bay” v́ trong phim có cảnh máy bay trực thăng đổ quân xuống một vùng  quê. 
Sau đó, có một lần khác, tôi được xem Hoàng Anh Tuấn đạo diễn phim Hai chuyến xe hoa. Lần này phim trường ngay tại nhà đạo diễn ở cư xá Chu Mạnh Trinh. Tôi chỉ xem được một đoạn có nghệ sĩ cải lương Thành Được mở cánh cửa buồng nhà ông bà Hoàng Anh Tuấn, đi ra đi vô đến năm bảy lần. Nhưng cuốn phim được nhiều người nhắc đến nhất có lẽ là Xa Lộ Không Đèn. Tuấn không long trọng mời bạn bè mà chỉ hỏi giản dị:
– Mày có đi xem không, tao đưa vé.
Tính cách anh là như thế.
Những truyện dài không bao giờ viết hết
Ngoài ra, anh c̣n viết feuilleton ở một số tuần báo và nhật  báo của Sài G̣n thời đó. Nhưng khối ông chủ báo rên la v́ cái tật hứng th́ viết, không th́ bỏ. Hầu như  ít có truyện dài nào anh viết hết cho đến nơi đến chốn, nên rất hiếm truyện dài nào được xuất bản. Lối viết của anh khá hấp dẫn, độc giả cũng chịu đọc lắm, nhưng mỗi khi gặp đoạn “khó nhai” là y như anh tạm ngưng hoặc ngưng luôn. Người viết truyện dài nào, cũng gặp những lúc như thế này, phải cố gắng vượt qua. Nhưng Tuấn hay nản, nên bỏ ngang. Tôi rất tiếc v́ điều này, nếu không th́ Hoàng Anh Tuấn cũng có nhiều tác phẩm rất hay được xuất bản.
Lâu lâu lại thấy xuất hiện một bài thơ của Hoàng Anh Tuấn trên báo khiến anh em sững sờ. V́ thơ Tuấn hay quá. Có thể nói bài nào cũng hay. Đă có người so sánh với Nguyên Sa, Đinh Hùng, nhưng với tôi, thơ Tuấn có cả tính chất Nguyên Sa, Đinh Hùng và rất Hoàng Anh Tuấn. Chữ nghĩa mới, không trau chuốt cầu kỳ, nhưng lại rất rung động, đi thẳng vào cội nguồn trái tim người thưởng ngoạn. Cái cung bậc sâu thẳm trong t́nh yêu được đánh thức dậy đến bàng hoàng.
Những bài thơ bất hủ
Đă lâu lắm tôi không được đọc thơ Hoàng Anh Tuấn, mới đây, tôi nhận được tập thơ của anh gồm:18 bài thơ Hà Nội và 47 bài Ngoại tập. Đọc thích thú, say sưa. Vẫn như những ngày nào khi bất ngờ thơ HAT xuất hiện trên báo hoặc trong số bạn bè. Lần nào cũng là một  cú “chơi ngang” của Hoàng Anh Tuấn. Tôi không yêu bài nào hơn bài nào. Nhưng trong những cái thư điện tử của các bạn tôi khi báo tin HAT đă ra đi, có nhiều người đă nhắc lại những bài thơ ḿnh yêu thích. Ông Hồng Dương ở Santa Ana th́ c̣n cảm khái vô cùng với:
“Hương c̣n ngấn ẩn trên môi
Ươm hơi rừng cũ, đượm mùi gỗ xưa
Mươt lá đợi, óng rêu chờ
Sững im cương thạch, quanh co ôn tuyền.”
Và ông Thanh Thương Hoàng ở San Jose th́ c̣n ngân nga:
“Hà nội yêu, anh vẫn yêu muốn khóc
Mấc chục năm, xa đến mấy ngàn năm
Giă từ em – mười bẩy tuổi – một lần
Thu rất mỏng, mưa hững hờ đẫm lá
 
Hà nội yêu, áo lụa ngà óng ả
Thoáng khăn san nũng nịu với heo may
Hai ngón tay nhón một trái ô mai
Chiếc răng khểnh xinh nụ cười cam thảo…”
Đến đây tôi đă có phần đồng ư với nhận định của anh Nguyễn Xuân Thiệp:
“… lục bát của Hoàng Anh Tuấn mới thể hiện hết những vẻ đẹp cấu trúc ngôn từ và cảm xúc”.
Nhưng xem lại những bài khác của Tuấn, tôi lại phân vân, v́ ở thể loại nào nhà thơ cũng mang đến cho tôi những cảm xúc mạnh mẽ v́ chính trong tâm hồn tác giả cũng dông băo:
“…Lửa rạo rực c̣n nguyên trong mạch máu
Sóng cuồng quay ẩn náu dưới làn da
Gỡ mưa mềm cho nắng ấm phù sa
Cởi sương mỏng –thôi ngượng ngùng mắc cở
 
Em hoang dại cồn dâng vùng rêu cỏ
Anh ngựa điên tung vó dấy phong ba
Trời quạnh hiu nổi băo tố phấn hoa
Khe suối nhỏ ẩm nồng hương dă thú
 
Mùa hạn hán bỗng tràn lan nước lũ
Tiết đông hàn trổ lộc nơn thanh xuân
Rất ngàn xa trong ấp ủ miết gần
Nghe nhung lụa trong vuốt ve t́nh sử…”
và:
“…Mộng trong mộng đă ch́m vào đáy mộng
Anh bàng hoàng bằng choáng ngợp lên cao
Đi miệt mài chừng đă mỏi khát khao
Nên chân bước lún sâu vào dĩ văng
 
Những ngây ngất chạy ṿng quanh mê loạn
Tưởng ngàn năm không thoát khỏi cơn điên
Bằng bất ngờ sợi tóc bạc đầu tiên
Em phát văng nồng nàn vào xưa cũ….
(Những vần thơ trên đều trích trong thơ Hoàng Anh Tuấn)
Vài kỷ niệm nhỏ
Tôi nói nhiều về thơ Hoàng Anh Tuấn v́ thơ của anh đặc biệt xuất sắc hơn tất cả những “nghề tay trái” khác của anh.
Những kỷ niệm rải rác của tôi và gia đ́nh Hoàng Anh Tuấn khá nhiều. Có lần anh ở Đà Lạt, có con gái về Sài G̣n, anh điện thoại cho tôi thản nhiên nói: Mày cho xe ra phi trường đón con gái tao, Hoàng Hôn Thắm nhé. (Quả thật tôi không c̣n nhớ chính xác người con gái đó là Hoàng Hôn Thắm hay Thu Thuyền nữa). Tất nhiên tôi phải cho xe đón cháu và đưa đến nơi về đến chốn. Anh không màu mè “làm ơn đón cháu” lôi thôi.
Lần khác tôi lên Đà Lạt vào dịp lễ Gíang Sinh, đến nhà anh chị Tuấn chơi, nhưng cả mùa Noel đó Tuấn không về. Khi trở lại Sài G̣n, gặp Tuấn, tôi muốn trách anh mấy câu, nhưng nh́n cái mặt anh cười cười tỉnh rụi, tôi lại không nói ǵ được nữa. Nhưng sau đó tôi hỏi sao không về ăn Noel với vợ con. Anh trả lời gọn lỏn: Tao bận.
Đó là những ǵ tôi chợt nhớ về người bạn vừa ra đi. Tiếc rằng trang báo có hạn và th́ giờ cũng chẳng c̣n bao nhiêu nên tôi ghi vội những hàng này để tiễn đưa thêm một người bạn nữa. Với tôi, anh là một nghệ sĩ đích thực trong cả cuộc đời và tác phẩm.
Vài nét về tiểu sử Hoàng Anh Tuấn (1932- 2006)
Hoàng Anh Tuấn sanh ngày 7-5-1932 tại Hà-nội. Ngoài làm thơ, viết văn, viết kịch (Ly Nước Lọc, Hà Nội 48), ông c̣n là đạo diễn điện ảnh.
                     - 1949 Đi Pháp du học
                    - 1954 Lập gia đ́nh
                    - 1958 Về Việt Nam, cộng tác với các tạp chí văn nghệ, cùng nhiều tuần báo và nhật báo ở Sàig̣n
                    - 1965 Quản đốc đài phát thanh Đàlạt
                    - 1975 Tù cải tạo về tội phản động
                    - 1979 Trở lại Paris
                    - 1981 Qua Mỹ. sống ở San Jose, California
                    - Từ trần 7:30 sáng (giờ cali) ngày thứ  Sáu, mồng 1 thang 9 năm 2006 tức ngày 9 tháng bảy năm Bính Tuất, Thọ 75 tuổi.
 
                                  Văn Quang
                               Lộc Ninh, đầu tháng 9-2006
Cũng Phải Chào Thua
                                                         
                                                       (Viết để khóc Hoàng Anh Tuấn)
.
Gái Hà Nội đọc thơ Hoàng Anh Tuấn
Má hây hây ḷng bỗng thấy xôn xao
Đêm hôm qua trong giấc mộng chiêm bao
Trăng th́ sáng cỏ cây dường lặng lẽ
Chàng trai trẻ cầm tay nâng nói khẽ
Nước hồ Gươm sao sóng sánh đa t́nh ?
Tóc như mây trên vạt áo bồng bềnh
Chàng trẻ ấy từ ngày xa Hà Nội
Thơ t́nh ái bỗng nhiên đan chép vội
Tưởng Paris ga nhỏ đợi chờ ai 

 *            
Tuấn đă đi hoa đỏ hết ai cài
Trên vai áo của người yêu thuở ấy
Tuấn ơi Tuấn ḿnh xa nhau thật đấy
Sao ḷng ta cứ măi măi gần nhau?
                        
*
Trong t́nh yêu có một nỗi niềm đau
Có giọng nói của con người Hà Nội
Có gió lạnh cửa nhà ai khép vội ?
Để người về thức trắng suốt năm canh
                        
*
Xuân Diệu xưa chỉ biết viết thơ t́nh
Đêm Hồ Dzếnh phù kiều giăng lớp lớp
Một trăm năm vụt tàn trong ánh chớp
Không Giang Nam, Giang Bắc của Trung Hoa
Chỉ Việt Nam chỉ có trại hàng Hoa
Chỉ hàng Bạc, hàng Đào chim ríu rít
Tôi tưởng thấy bước chân nào tíu tít
Thấy tiếng ve rộn ră cửa  ô  xưa
Thấy mùa Hè đổ vội những cơn mưa
Thấy tuổi trẻ trong thơ người bạn trẻ
Bảy tư tuổi sao người thơ trẻ thế
Tuấn đi rồi ḿnh bỗng thấy già nua
A !  Thời gian rồi cũng phải chào thua …
 
Hà Thượng Nhân   (Sep/01/2006 )
 
 
            Tưởng Niệm Hoàng Anh Tuấn
                                  Hoàng Ngọc Liên
 
 
Thập kỷ 90 trước đây, trong nhóm “Cây Me” có mặt các anh chị em một thời cầm bút. Trong số đó phải kể đến Bé Lou, “nít mêm” của Thu Thuyền. Gọi là Bé, nhưng lúc đó Thu thuyền đă có hai Cún Con. Cây Me thuở ấy gồm Nhật Nguyễn-Hữu Việt, Quan Duong-Thu Ba, Nguyễn Khánh Ḥa, Tường Vi, Phạm Ngọc, Trần Trung Đạo, Phan Xuân Sinh, Lâm Chương, Hoàng Ngọc Liên-Nhược Trần. Chúng tôi xưng hô anh em với nhau rất tự nhiên.
Một bữa, tôi t́nh cờ đọc ở đâu đó, một bài viết, trong có đoạn ghi Thu Thuyền là con gái của Hoàng Anh Tuấn. tôi rất ngạc nhiên v́ như vậy, tôi phải đổi cách xưng hô.
Tôi bèn kêu “chàng”:
- Hoàng Anh Tuấn hả?
Hẳn là nhận được giọng nói của tôi, "Chàng" phán:
- Hoàng Ngọc Liên hả? Vậy chớ mày muốn tao là ai?
- Tao muốn mày măi măi là Hoàng Anh Tuấn!
- Ừa, có dzậy mới đặng chớ!
- Tao thăm Bà Xă mày. Cô giáo khỏe không?
- Khỏe, cảm ơn mày. Ủa, mà sao mày biết số phôn của tao?
- Bé Lou cho.
- Vậy hả?
- Ừa, tao c̣n có h́nh bé Lou với hai cháu ngoại của mày. Nè, tao và nó xưng anh, em với nhau ngọt sớt! Bi giờ biết Thu Thuyền là con mày, thành ra…
- Có sao đâu, dzăng nghệ mờ !
- Nghe nói từ sau “Xa Lộ Không Đèn” mày không được khỏe ?
- Đâu có, tao khỏe như voi, như hồi ḿnh gặp nhau ở Đài Phát Thanh Đà Lạt.
- Tao nhớ chứ. C̣n thuộc mấy bài thơ của mày. Thơ hay lắm !
- Mày lại khen tao. Bộ ảnh hưởng mặc áo thụng vái nhau hay sao ?
- Không. Thơ mày hay thiệt. Trong ba thằng  kư bút danh họ Hoàng, chỉ có mày và Hoàng Trúc Ly là xứng danh thi sĩ!
- Hoàng Ngọc Liên, mày cũng là thi sĩ mờ!
- Không dám đâu!
- Mày phải mà! Dạo này mày khỏe không? Tao nghe nói “Đoàn Quân Mũ Đỏ” tái bản lần nữa. Con ông cụ phát xồi rồi!
- Phát ǵ đâu! Tao chưa gom đủ tiền in… Viên Đạn Cuối Cùng”!
- Cần “góp gió” th́ hú tao!
- Không cần đâu! Thân mày đă xác như vờ mà c̣n hào phóng. Nhưng mày an tâm đi, tao đă được một “Mạnh Thường Quân” ở Ra Lầy En Xi tặng cho gần hai xín, đủ in một ngàn… viên đạn!
- Hay quá. Cho tao gởi lời hoan nghênh ông bạn “Ra Lầy” của mày. Có thể cho tao biết tên Ổng được không?
- “Mít tờ” Trịnh Ngọc Phát!
- Ổng cũng làm … chủ báo à!
- Không, làm báo đâu bằng làm chủ… Tiệm Ăn!
- Đúng dzậy, mới có tiền phát cho mày..
Hoàng Anh Tuấn ừ ừ rồi phán tiếp:
- Đúng là tên tiền định. Trịnh Ngọc Phát là phải… phát thôi ! Tao luôn hoan nghệnh các Anh, Chị “Mạnh Thường Quân“. Có các “Đấng“
ấy, ta mới có sách tŕnh Làng ! À, nghe nói Mông Sừ Khai Trí đă trả bản quyền tất cả các sách mày đă in. Như vậy mày khá rồi. Cũng mừng. Tao kêu ông Khai Trí là “Người Yêu Sách“
 Vi vơ  “Người Yêu Sách “, “Vi vơ“ ông Khai Trí ! Nhưng tao lạc đề rồi ! Có gặp Hoàng Trúc Ly cho tao thăm.
- Nhất định.
 
                                          *
 
Tôi mê thơ Hoàng Anh Tuấn, nhất là những bài Lục bát, như
 
Chiều Thơm Gỗ Cũ
 
Hương c̣n ngấn ẩm trên môi,
Ươm hơi rừng cũ
Đượm mùi gỗ xưa
Mượt lá đợi
Óng rêu chờ
Sững im cương thạch
Quanh co ôn tuyền
 
 
Cho Diễm Phúc
 
Này tôi đang lạc vào em
Sau lưng trăm ngón ưu phiền níu chân
Này tôi du đăng tâm hồn
Ngụy trang ngàn mảnh thơ buồn tả tơi
 
Này tôi, này vũng bùn tôi
Nắng ngang, mưa chéo ră rời ẩm nâu
 
Cuốn theo rác rưởi nhu cầu
Này tôi chới với trong mầu rất xanh
Chợt nghe hà ốc hiền lành
với rong rêu lại hóa sinh một lần
 
Này tôi trút bỏ áo quần
Thân hài nhi với tâm hồn trẻ thơ
 
Này tôi thành hạt phù sa
Để yêu em với mặn mà giọt châu.
 
Hoàng Anh Tuấn
 
 
*
Hôm nay, đọc « Người Việt » thấy đăng tin Hoàng Anh Tuấn nằm xuống ngày 1 tháng 9 năm 2006, tôi đă phân ưu với Cô Giáo và Thu Thuyền. Vậy là « ba thằng họ Hoàng » chỉ ḿnh « ên » tôi c̣n nặng nợ dzăng chương !
 
*
 
Hoàng Anh Tuấn,
Vậy là mày đi trước. Trong cuộc sống Vô Thường này, ai rồi cũng phải … đi thôi. Mày đă thanh thản về cơi Giác và sẽ đầu thai trở lại làm… thơ ! Làm thơ chớ đừng làm… báo. Bởi có ai đó từng nói : ghét người nào th́ xui người đó làm… báo !
Thiệt vậy, làm báo khó sống lâu ! Các « bạn ta » Thanh Thương Hoàng, Trần Văn Ngà, Vũ Uyên Giang, Mạc Thúy Hồng là… nhân chứng ! Có báo sống được ít năm, có báo chỉ được vài ba số rồi im luôn. Báo  Sống  ngày trước của Chu Tử, tưởng rằng sống lâu, rồi cũng… bất đắc kỳ tử. Tao c̣n nhớ Tết năm đó, Chu Tử sai cháu Chu Vi Long trao cho tao một bao thư, trong có hai chục ngàn, nói là Báo Sống ĺ x́  cho chú Liên. Tao dại dột buột miệng :
- Báo Sống chết rồi sao bố cháu c̣n gửi tiền cho chú ?
Sau đó, tao bị anh Cử B́nh nạt :
- Ai bảo với ông Hoàng Ngọc Liên là báo Sống… chết ? Báo Sống sẽ sống… muôn năm, không bao giờ … chết cả !
Nói vậy th́ nói, sau nhiều lần đóng cửa, « Sống » cũng… tịch luôn!
 
Nên chi tao mong mày kiếp tái sinh chỉ mần … thơ, đừng mần… báo.
Chúc mày phiêu diêu Miền Cực Lạc.
 
                                                                 Hoàng Ngọc Liên

 

Hoàng Anh Tuấn,
                  Coi như lần đùa chơi của “Cậu”...
                                     Phan Nhật Nam
 
Những ḍng chữ sau xin gởi Anh lần cuối, coi như thêm vào câu chuyện (đùa) chúng ta hằng trao đổi suốt mấy mươi năm qua..
Thật ra, chúng tôi không phải là bạn cùng lứa, Anh và tôi cách nhau một thế hệ, trên dưới mười tuổi. Hoàng Anh Tuấn thuộc hàng những niên trưởng chúng tôi ở sinh hoạt dân sự, báo chí cũng như trong quân ngũ. Năm 1970, trong lần tiếp xúc đầu tiên ở 104 B Công Lư, Sàig̣n, chi nhánh quảng cáo của Báo Sóng Thần (hậu thân Báo Sống, Chu Tử), khi nghe Đằng Giao nói về t́nh trạng “kẹt” của tôi trong nạn nghiệp nhà binh. Anh ra tay “cứu bồ”.. Mầy có xe không? Mau mắn bỏ chân xuống ghế, xỏ vào dép quai da, cho thân áo vào quần (Chiếc áo màu đỏ chói chang nhưng lại thích hợp với cách “tay chơi bụi đời” của anh)... Có, tôi có cái Honda. Thế là sang rồi, tao chỉ chuyên đi xe ôm. Mày đi với tao.. Anh quyết định mau chóng, quàng túi vải (loại túi du lịch của phái nữ, những cô gái trẻ nhiều màu sắc) lên vai, bước ra cửa.
- Nhưng đi đâu “Anh Hai”? Tôi ngần ngại trước một ông anh quá nồng nhiệt (mà theo quan niệm chung, người Bắc (phải) là kín đáo, mực thước như “Ông Cả” Doăn Quốc Sỹ) trong lần tiếp xúc đầu tiên..
- Hai, Ba cái ǵ, “cậu” đưa mầy đến gặp “thằng Tr...
Tôi ngại ngần từ chối.. Áo quần như thế nầy đến chỗ ông ấy đâu được, mà có phải “Ông Tr” tổng cục trưởng không?
- Nó đấy, nó là bạn tao từ ngoài Bắc Kỳ, bây giờ nó làm tướng cái ngành a-lô của nhà binh chúng mầy. Tao nói một tiếng, mầy về chỗ nó ngay. Mầy đi nhảy dù kinh bỏ mẹ, có ngày chết con trai!
Trên xe Honda, tôi cố gắng thoái thác thêm một lần.. Tôi có biết “Anh Hai” từ ngày ở Building Cửu Long, tôi là cháu ông Hiệp, gọi ông Vũ Đức Duy bằng cậu. Lúc ấy, năm 1960 tôi c̣n nhỏ, chưa đi lính...
- Là cháu thằng “Hiệp Lai” th́ tao càng phải “móc” mầy ra khỏi vũng bùn dưới Long An mà bên nhảy dù vừa tống mầy xuống đó. Về đây, cậu đưa mầy đi ăn, đi chơi..
- Thôi “Anh Hai”.. Đừng vào chỗ ông tướng nữa, tôi không quen mấy ông lớn, anh Phạm Huấn cũng đă có ư như thế..
- Lớn cái đếch ǵ. Mầy yên tâm..
Tại văn pḥng ông tướng, anh nói như ra lệnh... Mầy xem có chỗ nào kéo “thằng cu” nầy về đi. “Cậu” chẳng bao giờ xin mầy điều ǵ, lần nầy mới xin cho nó. Nó viết tốt lắm. Anh quay qua tôi.. Xong rồi, mầy với tao tới chỗ “Bà Cả Đọi” hoặc về nhà xin cô Thủy cái ǵ ăn.. Mầy có theo chúng tao không? Anh xoay qua ông tướng hỏi thay câu chào. Tôi lúng túng.. Kính trung tướng..
Trên lưng xe honda, tôi nói lời than vản.. Anh Hai làm vậy kẹt cho tôi,  tướng, tá người ta không thích cách ào ào như vậy đâu. Là dân nhà binh thực thụ, tôi biết điều ấy.
...Tướng hay tá là cái... đếch ǵ với cậu!
 
Dần đà, sau một, hai lần tiếp xúc, tôi nhận biết ra.. Những đối thoại, cung cách như trên hoàn toàn do, của Tính Thật tâm chất phóng khoáng trung trực của anh. Của riêng Anh. Sao chẳng bao giờ thấy anh mang giày cả? Tôi lăm lăm nh́n bàn chân trần bám bụi ngồi xếp bằng trên ghế bành, nêu thắc mắc. Cậu mang giày tây từ thuở mầy c̣n cởi truồng, mặc quần thủng đít.. Ở đất An-nam nóng nực nầy, đi giày, mang vớ cực bỏ xừ! Nhưng làm việc trên Đà Lạt, trời lạnh th́ anh phải mang giày chứ, lại khi phải tiếp khách, dự lễ lạc.. Ối khi ấy th́ cậu bảo thằng cha phó giám đốc nhà quê đi thay. Cậu mang dép, cởi ra lẹ, lên giường nằm “phê” mới tiện chứ! Anh nói về thú hút á phiện của ḿnh thản nhiên như tṛ chơi thoáng qua.
Và anh thật sự đùa chơi trong tất cả.
 
Năm 1972, một hăng điện ảnh người Pháp đề nghị nhóm Sóng Thần làm cuốn phim về chiến tranh Việt Nam. Chu Tử ngồi ghế chủ tŕ, mặt vui vẻ, sống động như đang chơi ván bài hên. Cuối cuộc, Đỗ Ngọc Yến giữ vai thư kư đọc báo cáo tổng kết: Chu Tử chủ biên; Đỗ Quư Toàn phụ tá; Phan Nhật Nam viết truyện phim; Trần Lê Nguyễn (kịch tác gia) phân cảnh, và cuối cùng: Đạo diễn Hoàng Anh Tuấn. Đỗ Quư Toàn kết thúc với nhận định tổng hợp theo cách hóm hỉnh sở trường: Ông Tuấn đạo diễn đă đành, nhưng đừng như Xa Lộ Không Đèn là.. vỡ mặt! (ư Toàn nói về việc thất bại tài chánh của cuốn phim). Hoàng Anh Tuấn đáp tỉnh: Cậu chỉ biết làm phim. Xa lộ không đèn chết thằng nào thằng ấy chịu. Cậu không biết. Chưa hề thấy anh tỏ thái độ giận hờn ai trong suốt tháng năm dài giao tiếp. Cũng không hề nghe anh lớn tiếng về những bài báo đă viết ra, những cuốn phim đă thực hiện, về những bài thơ.. Cậu chỉ đùa chơi thôi. Anh kết luận đối với tất cả mọi sự. Và anh thực hiện đúng như lời xác nhận trong suốt cuộc chơi của ḿnh.
Anh học nghề điện ảnh từ thập niên 50 tại Pháp nhưng không bao giờ nhắc chuyện “đi Tây” như những người cùng thời đă một lần “đi Tây”. Anh đạo diễn những bộ phim Hai Chuyến Xe Hoa, Ngàn Năm Mây Bay, Xa Lộ Không Đèn.. nhưng đùa cợt với những “tác phẩm” của chính ḿnh: “Đóng phim cho cậu th́ không chết cũng bị thương.. Lên xe bông một lần cũng đủ vỡ mặt, chứ hai phùa th́ có mà ngàn năm mây bay!!” Với Thơ, chữ nghĩa Anh hằng theo đuổi, dựng nên, thành h́nh với nhiệt tâm tuổi trẻ: Lửa Ở Ngă Tư Đường, tái tạo bi kịch vĩ đại của Ḥa Thượng Thích Quảng Đức hóa thân trong Lửa Từ Bi , 1963. Và Thơ, Mưa Sài G̣n. Mưa Hà Nội, qua nhạc Phạm Đ́nh Chương hoàn thành bản Tuyên Ngôn về Tự Do của Miền Nam..
Mưa hoàng hôn
Trên thành phố buồn gió heo may vào hồn
Thoảng hương tóc em ngày qua
Ôi người em Hồ Gươm
về nương chiều tà
..
Mưa ngày nay
Như lệ khóc phần đất quê hương tù đày
..
Mưa mùa Thu
Năm