Văn Học
Nghệ Thuật
Sinh Hoạt
Phiếm Luận
Trang Thân Hữu Thơ - Văn
Diễn Đàn
Giải Trí
Thư Tín
 
 
               Ái Ân, Ân Ái… Qua Ca Khúc
                                        Vương Trùng Dương
 
    Xuất thân từ người mẫu khỏa thân, cô gái tóc vàng với thân h́nh núi lửa rất khiêu gợi, hấp dẫn trở thành ca sĩ với lời ca đầy kích dục, gợi t́nh, luôn luôn mời gọi “làm t́nh” cho thỏa măn thân xác. Nữ ca sĩ Samantha Fox đă đưa t́nh dục đầy dẫy h́nh ảnh ân ái vào thế giới âm thanh đầy quyến rũ, tạo thành hiện tượng Samantha thiếu trong sáng. Ngôn ngữ đó đang “bốc lửa” ở giữa “thiên đường hạ giới” như sự chuyển ḿnh vào thập niên cuối thế kỷ XX; trong khi đó, ngôn từ nầy đă xuất hiện trên văn đàn Việt Nam từ khi “thiên đường” nầy chỉ thưa thớt người ở miền Đông, c̣n lại vùng đất bao la với núi rừng, sông hồ hoang vu.
Thi hào Nguyễn Du (1765 - 1820) trong “Đoạn Trường Tân Thanh” đă đề cập đến hai chữ ái ân, ân ái. Tố Như tiên sinh đă xử dụng nhiều ngôn từ đầy văn vẻ để nói đến h́nh ảnh “gặp gỡ” chăn gối với nhau:
“C̣n nhiều ân ái với nhau
Cơ duyên nào đă hết đâu vội ǵ!”
“Bây giờ gương găy gương tan
Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân”
Sau 15 Thúy Kiều lưu lạc trong chốn lầu xanh, trao thân cho hàng ngh́n khách làng chơi nhưng gặp lại Kim Trọng, men t́nh vẫn say đắm:
“C̣n nhiều ân ái chứa chan
Hay ǵ vầy cánh hoa tàn mà chơi.
”...Chừng xuân tơ liễu c̣n xanh,
Nghĩ rằng chưa thoát khỏi vành ái ân”
Cùng thời, trong “Hoa Tiên” của Nguyễn Huy Tự (1743 - 1790) đă đề cập đến mối t́nh hoa mộng, lăng mạn, ngang trái, khổ đau, ḥa hợp giữa Lương Sinh với hai người đẹp Dao Tiên & Ngọc Khanh. Và, h́nh ảnh người con gái thuở đó đă vượt qua hàng rào lễ nghi, vụng trộm chăn gối với nỗi niềm:
“Bấy lâu chút mảnh riêng tây
Ái ân nầy đến đêm nầy là xong”
Thời kỳ lăng mạn trong văn chương vào cuối thập niên 1930, bài thơ “Hai Sắc Hoa Ti Gôn” của T.T.Kh đă gây tiếng vang, xôn xao về mối t́nh say đắm, nồng nàn nhưng trắc trở, dám thổ lộ tâm trạng người con gái khi đă dâng hiến cho t́nh yêu để rồi sống với chuổi ngày c̣n lại:
“Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời
Ái ân lạt lẽo của chồng tôi
Mà từng thu chết, từng thu chết
Vẫn giấu trong tim bóng một người”.
Bài thơ “Hai Sắc Hoa Ti Gôn” sau nầy được Trần Trịnh cảm tác với ca khúc “Hai Sắc Hoa Ti Gôn”.
T.T.Kh c̣n nằm trong ṿng bí ẩn, nữ sĩ Vân Đài xuất hiện với Hằng Phương, Anh Thơ, Mộng Tuyết trong thi phẩm “Hương Xuân” cũng dùng ngôn ngữ đó rất tự nhiên:
“Xin đừng nói đến ái ân chi
Ái ân lời suông có nghĩa ǵ!”.
“Ái ân giục giă gọi lên đường,
Nặng áo giang hồ bụi gió sương”.
Trong thời kỳ lăng mạn đó, Huy Thông du học ở Pháp, ảnh hưởng sâu đậm chất “lăng mạn trữ t́nh” nên trong những thi phẩm của ông bàng bạc ngôn ngữ ái ân; điển h́nh như “Tần Ngọc” xuất bản giữa thập niên 1930 với những bài như ” Tiếng Ái Ân”, “Chiều Hôm Qua”, “Trong Lúc Chia Tay”, “Gió Chiều”, “Mây Qua”, “Bấy Nhiêu Đêm”, “Gặp Gỡ”... Có khi chỉ là mộng tưởng như:
“Niềm ái ân chưa được biết bao giờ,
Ta vừa biết phút giây trong giấc mộng”
Thế nhưng, đem mộng để tỏ bầy:
“Hứa cùng ta sẽ trăm năm ân ái,
Nỡ đi đâu để bạn đắng cay ḷng?”.
Vào thập niên 1940, thi ca Vũ Hoàng Chương chất chứa cả khung trời lăng mạn, say đắm. Dù mang tựa “Quên” trong thi phẩm “Mây”, con tim vẫn dâng trào:
“Trên nẻo ấy, sẽ từ muôn đáy huyệt
Ái ân xưa vùng dậy níu chân anh”.
Có khi hợp rồi tan để bày tỏ niềm đau và oán trách như những ḍng thơ của Thái Can trong bài "Anh biết Em Đi":
"Em nhớ làm chi tienmg ái ân
 Đàn xưa đẽ lỡ khúc dương cầm.
 Dây loan chẳng đượm t́nh âu yếm
 Em nhớ làm chi tiếng ái ân".
Trong kho tàng văn chương, h́nh ảnh ái ân, ân ái được đề cập rất nhiều. Trong âm nhạc, h́nh ảnh đó cũng được thể hiện từ thuở “b́nh minh” chạy dài cho dến hôm nay ở khung trời hải ngoại. Trong t́nh yêu trai, gái... ái ân để lại vết tích mà thời gian khó xóa đi vết tích ấy, nhất là ở mối t́nh đầu như cái nh́n của nhà thơ Pháp Lamartine. Say đắm, cuồng nhiệt, ngất ngây và chết lịm trong cơn mê của “tột đỉnh yêu thương”. Cảnh tượng, h́nh ảnh ấy dấu kín trong tận đáy ḷng, mấy ai tâm sự, bày tỏ. Thế nhưng, bằng nhiều cách gọi từ sống sượng đến tao nhă, từ h́nh ảnh tầm thường, đen tối đến thanh tao, ngôn ngữ âm nhạc trở thành h́nh ảnh thân thương, quen thuộc được thể hiện qua nhiều ca khúc cả nam giới và nữ giới sáng tác.
“Thiên Thai”, ca khúc bất hủ của Văn Cao đă h́nh dung h́nh ảnh chăn gối trong yêu đương giữa nơi tiên cảnh:
“Thiên Thai ánh trăng xanh mơ lan thành suối trần gian,
 Ái ân thiên tiên em ngờ phút mê cuồng có một lần”.
Trong ca khúc “Gửi Gió Cho Mây Ngàn Bay”, Đoàn Chuẩn mô tả qua lăng kính của màu sắc:
“Gửi gió cho mây ngàn bay
Gửi phím tơ đồng t́m duyên
Gửi thêm lá thư, màu xanh ái ân
Về đôi mắt như hồ thu”.
Với “Lá Thư”, Đoàn chuẩn & Từ Linh than thở với nỗi niềm xa vắng khi đă “nếm mùi” luyến ái, giao hoan:
“Anh quay về đây, đốt tờ thư quên đi niềm ân ái ngàn xưa!
Ái ân theo tháng năm tàn,
Ái ân theo tháng năm vàng
T́nh người nghệ sĩ phai rồi!”.
Nhạc sĩ Đoàn Chuẩn đề cập đến ái ân, ân ái với h́nh ảnh mơ hồ, lảng vảng với gió mây và cung bậc để tơ tưởng về h́nh ảnh giai nhân; qua “Bóng Chiều Xuân”, Dương Thiệu Tước đề cập đến h́nh ảnh cụ thể trong giây phút đắm say:
“Một chiều ái ân
Say hồn ta bao lần
Một trời đắm duyên tơ
Cho đời bao phút ơ thờ”
Cùng trong điệu nhạc tango vừa dồn dập, vừa nóng bỏng, với mối t́nh đầu mà Lamartine baỳ tỏ không thể nào quên, Ngọc Bích thể hiện niềm cảm xúc dạt dào trong “Bóng Chiều Xuân":
“Mối t́nh đầu xuân ai thấu chăng?
Ḷng tha thiết vương theo tiếng đàn,
Mơ nguồn ái ân, những ngày phong trần
Sống trong mộng đẹp ngày mai”...
“Anh c̣n mong chờ
Ái ân kẻo tàn ngày mơ”
Nỗi nhớ nhung trong t́nh trường được thể hiện qua ca dao cả trai và gái khi đă “vướng ṿng hệ lụy":
“Đêm khuya thắp chút dầu dư,
Tim gan cháy lụn, anh sầu tư một ḿnh”.
“Cầm lược mà nhớ đến gương,
Cầm khăn nhớ túi, đi đường nhớ anh”.
Ca khúc "Người Em Sầu Mộng" của Y Vân được phỏng theo ḍng thơ của Lưu Trọng Lư trong bài "Một Mùa Đông":
"Hăy xếp lại muôn vàn ân ái;
 Đừng trách nhau, đừng ái ngại nhau"
Nói đến t́nh yêu, ngoài gió, trăng, mây, nước... có ái ân mới tạo “dấu ấn” và nhớ măi... đâu đây, t́m gặp ở Văn Phụng đă tỏ bày trong nhạc phẩm “Yêu":
“Yêu là t́nh dâng cao, gió lao xao ngă hàng phi lao.
Phút ái ân đắm say tâm hồn,
Nhớ măi đêm nào bên nhau”
Từ nhẹ nhàng, mơn trớn đến dồn dập như những thể điệu trong âm nhạc. Nếu âm điệu dồn dập của Lam Phương rất khích động, tôn thờ giây phút, h́nh ảnh đó thể hiện trong “Thiên Đường T́nh Ái":
“Đường nào vào thiên đường ái ân
Là đường vào nhịp thở lâng lâng.
Mùa xuân đang đi trong lời yêu mới
Có hoa vàng phủ đường ṃn gót chân mềm”
Th́, Y Vân chỉ nh́n thấy màu đen cuộc t́nh dù đă trao thân cho nhau, qua điệu boston, chậm và buồn. Thể điệu nầy phù hợp với nỗi bi thương:
“Đôi ta như bước lên đỉnh sầu
Mà đời luôn cao ngất thương đau.
Bao lâu ân ái chưa đậm màu
Toàn là cay đắng giết thương yêu!”.
Ái ân, ân ái trong phút giây nồng nàn không hoàn toàn ngọt lịm, có lúc giăng mắc sự cách biệt làm thấm vị đắng cay như “Lời Đắng Trong Cuộc T́nh” của Hà Nguyên:
“Những ngày c̣n nồng nàn ân ái
Giữa đôi ta, giữa đôi ta
Có người th́ mộng một trời mây bay
Người th́ c̣n măi trắng đôi tay”
Trữ t́nh, tha thiết, da diết khi đă chăn gối, tạo dấu ấn t́nh yêu trong đời ở “Dạ Khúc Cho T́nh Nhân” của Lê Uyên Phương. Ở đây, bắt gặp niềm đau của cuộc t́nh từ h́nh ảnh thân thương, gắn bó tận khung trời Đà Lạt đến cảnh chia tay trong cuộc sống, rồi tái hợp trên sân khấu nơi hải ngoại như định mệnh khắc nghiệt, trớ trêu:
“Ái ân ơi, đừng phụ ḷng ta,
Nhớ thương sau xin gửi người xa
Khóc nhau trong cuộc đời”
Một thoáng mê ly, ngất ngây - một thoáng ngậm ngùi khắc khoải ở lời ca của Lê Uyên Phương thấp thoáng trong lời thơ Đinh Hùng trong bài “Hương Trinh Bạch” ở thi tập “Mê Hồn Ca":
Ta không biết, em ơi! ta không biết,
Ai hững hờ, ai mộng với ai say?
Những ai kề môi ân ái vơi đầy
Những ai nói, ai cười như hứa hẹn?”
Mang tâm trạng của người con gái khi yêu, trao thân cho người t́nh, không tiếc ǵ “cái giá ngh́n vàng” mà Ngọc Trọng tỏ bày qua “Em Vẫn Cần Anh":
“Dù mai xa cách chỉ biết yêu anh
Một lần ân ái, ngàn đời nhớ nhau hoài
Anh về bên ấy từng chiều có nghe ê chề
Tiếc nhau chi mảnh đời lúc xuân th́”.
Trong t́nh yêu với “Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy. Ngàn năm hồ dễ mấy ai quên” (Thế Lữ), chỉ trong giây phút, nhớ nhau trọn đời. Đôi khi tận cùng của t́nh yêu bằng sự chiếm đoạt hay mong đợi sự đ̣i hỏi chỉ ái ân, ân ái mới có biến chuyển lớn lao trong cuộc đời, nhất là nữ giới - chữ trinh - chỉ một lần trong đời thay đổi cả cuộc đời, chỉ một phút giây để thay đổi danh xưng, bước từ lằn ranh nầy sang lằn ranh khác; và, vết tích đó luôn luôn xâm chiếm.
Đôi khi bắt gặp nỗi xót xa, hờn dỗi bởi rơi vào tâm trạng chờ mong như ḍng thơ Hồ Dzếnh:
“Em tôi ơi, t́nh nghĩa có ǵ đâu
Nếu là không lưu luyến buổi ban đầu
Thuở ân ái mong manh hơn nắng lụa”
Trong “Băo T́nh”, Hoàng Trọng đă đề cập đến “thuở lưu luyến” khó quên:
“Từ khi xa anh, lạnh xâm lấn tâm hồn em
T́m trong đơn côi luyến mơ xưa đêm từng đêm
Mộng t́nh ân ái lúc ban đầu
T́m đâu thấy đam mê nào về ray rứt thêm tâm tư ngày nối ngày”.
Vào thập niên 1940, Nguyễn Bính vang danh với nhiều thi phẩm, nhiều bài thơ được phổ nhạc rất được ái mộ. Bài thơ “Hôn Nhau Lần Cuối":
“Ta sẽ là vợ chồng
Sẽ yêu nhau măi măi
Sẽ se sợi chỉ hồng,
Sẽ hát câu ân ái”
Bài thơ nầy được Văn Phụng sáng tác thành ca khúc vào thập niên 50.
Lam Phương mang nỗi bi thương, tan nát khi người yêu trở thành “T́nh Như Mây Khói":
“Lời xưa âu yếm trao người như mây như khói tan rồi
Tựa kề vai em, sầu dâng muôn lối để nghe ái ân xa rời, tan nát ḷng tôi!”.
Trịnh Nam Sơn tha thiết, cuồng si với tâm tư t́nh cảm của người t́nh đă dâng hiến cho nhau c̣n ngất ngây cám dỗ qua ca khúc “Về Đây Anh":
“Em yêu anh trong giấc mơ nầy
Em yêu anh trong những mê say
Một trời ân ái ḿnh hăy sống buông lơi thời gian”
Trong ngôn ngữ thường dùng, chữ ái ân, ân ái ít khi nhắc nhở, nhất là nữ giới, nhưng trong âm nhạc đều có sự cảm nhận qua sáng tác để trang trải qua lời hát.
Ca khúc “Thao Thức” nhạc Trần Đ́nh Quân phổ theo thơ của Bùi Bích Hà:
“Chưa cùng em ngày tháng tới nhọc nhằn
Gối ân ái ru sợi buồn tóc rối
Người xa rồi, nghe lạ chiếu chăn
Giấc ngủ đêm qua anh về với nắng”.
Lưu Bích (ái nữ của Lữ Liên) mặn nồng, t́nh tứ, chứa chan... rồi lại xót xa với nhạc phẩm “Hăy Nói Yêu Em Đêm Nay":
“T́nh nồng say... anh đă hứa trên môi
Ngày sau đôi ta thề không rời.
Ṿng tay yêu thương ân ái đêm nao
V́ đâu nay bỗng xa nhau?”.
Nhạc phẩm “Mối T́nh Si” của Mỹ Huyền (ái nữ của Thu Hồ) nói lên nỗi niềm “tận cùng đắng cay” bởi đă dâng trọn trái tim và thân xác “giữa lúc t́nh say” để rồi:
“Bao nhiêu niềm ái ân dâng tràn khắp nơi
Bao nhiêu niềm chua xót chất ngất hồn ta
Lang thang ḷng tê tái bước hoang trên đời
Kêu than t́nh nhân thế giới giết chết niềm tin”.
Khúc Lan viết lời ở ca khúc ngoại quốc vương vấn nỗi niềm tiếc nuối bởi “Trái Tim Lầm Lỡ” khi đă dâng hiến thân xác:
“Hởi trái tim lầm lỡ, hăy sống trong dại khờ,
Những ái ân rồi sẽ ch́m vào thương nhớ;
Có nổi đau nào vẫn hoài niệm nhân gian,
Nước mắt đêm mồ côi sẽ không c̣n mang!”.
Nhạc phẩm “Khi Mộng Tàn”, nhạc ngoại quốc, lời Khúc Lan bầy tỏ nỗi niềm bi thương của cuộc t́nh đă “trao nhau” để rồi c̣n lại h́nh ảnh năo nề lúc xa nhau:
“Có những khúc hát khi chiều đông
Khi yêu thương xa vắng
Mấy ai chờ mong?
Có lúc nước mắt sao mặn môi
Ṿng tay ân ái nay đâu rồi!”
Với ca khúc ngoại quốc, vào thập niên 1960, nhạc phẩm “Histoire d'un Amour” của Carlos Almaran đă trở thành bài ca bất hủ loan rộng khắp thế giới, giới trẻ Việt Nam đă một thời say đắm, Nguyễn Đ́nh Toàn chuyển ngữ từ lời Pháp của Francis Blanch với cơn mê t́nh yêu chất ngất:
“T́nh là cơn mơ khi ta c̣n thức chẳng cần ngủ say
T́nh là cây cao vươn ḿnh đứng lên
Nhựa đời căng da mềm ái ân
Đợi ngày đang về tới sau đêm”.
Đơn cử những ca khúc tiêu biểu đề cập đến ngôn từ quen thuộc được gọi bằng nhiều cách khác nhau nhưng chọn chữ có vẻ thanh tao để đưa vào ngôn ngữ âm nhạc, phổ thông, tự nhiên khi nghe và hát bất luận tuổi tác... để mô tả đến h́nh ảnh, động tác, giây phút riêng tư, kín đáo, cấm kỵ... như vô t́nh được hợp thức hóa trong đời sống, kể cả mặt đạo đức. Có khi lạm dụng ngôn từ nầy quá trớn như ở ca khúc “Màu Xanh Noel” với câu “Cho em gửi lại màu xanh ái ân”?.
Vẫn màu xanh ấy trong “Gửi Gió Cho Mây Ngàn Bay”, với Đỗ Thu qua ca khúc “Gửi Về Anh” tơ vương h́nh ảnh dễ thương, thân quen của thuở học tṛ:
“Thư xanh màu xanh ân ái
Em vẫn lạnh lùng v́ vắng anh”.
Về địa danh, ở Đà Lạt có rừng Ái Ân, cuối con đường lên viện Pasteur, gần dinh Bảo Đại, là một trong những nơi hẹn ḥ của t́nh nhân. Tác phẩm văn chương “Rừng Ái Ân” của Hà Huyền Chi, xuất bản năm 1970 ở Sài G̣n đă chọn địa danh nầy làm đề tài, gợi sự ṭ ṃ với độc giả.
Nói đến ái ân, ân ái để ngàn đời nhớ nhau, để t́m phút giây say đắm... là nói đến “nghệ thuật yêu đương, nghệ thuật chăn gối” mà từ ngh́n xưa, ở Phương Đông khép kín đă từng đề cập. Hơn năm ngh́n năm trước công nguyên ở Trung Hoa đă có những tập cổ thư đề cập đến nghệ thuật ái ân. Trong “Tố Nữ Kinh” nói về h́nh ảnh Hoàng Đế và Tố Nữ song luyện theo âm dương, ngũ hành, dưỡng sinh luyện khí, từ điểm nóng đến huyệt đạo... Hoàng Đế là một trong Tam Hoàng, Ngũ Đế từ Phục Hy (4480-4365 trước công nguyên) đến Thần Nông (3220-3080) và Hoàng Đế (1700-2600 trước công nguyên). Với 9 cách ái ân (cửu pháp) được gọi bởi danh từ hoa mỹ của 9 loại cầm thú như Rồng, Hổ, Vượn, Ve, Rùa, Phượng, Thỏ, Cá, Hạc... đẻ mường tượng h́nh ảnh yêu đương. Vấn đề quan hệ luyến ái giữa Phục Hy & Nữ Oa đă trở thành đề tài cho giới cầm bút hằng ngh́n năm nay. Ngoài ra, phương pháp “tu luyện” nhằm tạo cảm giác lâu dài để “cho dài tiếc thương” c̣n là phương cách điều trị suy nhược t́nh dục, thoạt nghe có vẻ cấm kỵ nhưng cũng là niềm ước mong của người trần.
Theo Y sư Giang Hán Thanh, phương pháp Mật Tông trong vấn đề ái ân không phải là điều cấm kỵ mà chỉ là nguyên tắc “dĩ dục chế dục” nhằm điều hợp tính dục của con người. Phương pháp Mật Tông với nghi thức đơn luyện nam, nữ & song luyện để tạo năng lực khai mở luân xa (chakra) nhằm vấn đề “yêu đương” có được sự thông cảm tột cùng, sâu xa cho “say hồn... nhịp thở lâng lâng... ngàn đời nhớ nhau...” như lời ca của Dương Thiệu Tước, Lam Phương, Ngọc Trọng...
Theo sự nghiên cứu của Viện Y Học Đài Bắc, công cuộc khám phá, khai quật ở Tứ Xuyên, Trường An, Giang Tô, Tân Cương... cho thấy h́nh ảnh ái ân “ngoại giao, tọa giao, lập giao...” bằng hội họa và điêu khắc có từ thời Tây Hán & Đông Hán từ thế kỷ thứ II trước công nguyên đến thế kỷ thứ II sau công nguyên. Sau nầy được vẻ lại trong nhiều bức tranh cổ của Trung Hoa & Nhật Bản cách nay cũng vài thế kỷ.
Nghệ thuật ái ân của Ấn Độ cũng được hướng dẫn cách đây hơn hai ngh́n năm nhưng trở thành “giáo khoa thư” vào thế kỷ XVI với danh xưng Kama Sutra với “bát thức”. Nghệ thuật nầy được giới điện ảnh Hollywood đưa vào nghệ thuật thứ bảy với h́nh ảnh của Declan, âm thanh của Michael Danna hư thực, thực hư thu hút hàng triệu triệu khán giả khắp thế giới. “Bát thức” của Kama Sutra “The Art of Making love” từ “opening flower” đến “suspended” đă bắt gặp ở thi ca của Tố Như tiên sinh trong “Đoạn Trường Tân Thanh” với bài học “vành trong tám nghề” từ “kích cổ thôi hoa” đến “nhiếp thần nhiệm tỏa” mà thuở học tṛ chỉ biết biết khái quát Tú Bà dạy cho Thúy Kiều.
Âu Mỹ dựa vào “nghệ thuật” đó thời xa xưa của Đông Phương rồi sáng tạo thêm, phổ biến bừa băi qua phim ảnh, video... tạo thành mối nguy đầu độc cho cả trẻ vị thành niên bị tiêm nhiểm, sa ngă vào con đường trụy lạc.
Vào thời điểm cuối thế kỷ XX, môn thuốc  được xem như "thần dược" được phổ biến khắp nơi trên trái đất để kéo dai giây phút ái ân. Thuốc Viagra của hăng bào chế Pfizer được tung ra trong thị trường Hoa Ky vào tháng 4-1988ø như một hiện tượng làm rùm beng trong ngành truyền thông. Ba nhà nghiên cứu bào chế thuốc Viagra là GS R.F. Furchgott thuộc Viện đại học New York, GS Louis J. Ingarro thuộc Viện đại học Los Angeles, GS Ferid Murad thuộc Viện đại học Y Khoa Texas được trao giải Nobel về Y Khoa năm 1998.
H́nh ảnh ái ân, ân ái qua điêu khắc, hội họa, phim ảnh không có tính cách trong sáng nếu gợi h́nh cụ thể, sống sượng kích thích tính dục... Nó mang t́nh chất nghệ thuật, lăng mạn khi thể hiện góc cạnh nào đó để cảm nhận. Với ngôn ngữ âm nhạc vừa tượng thanh vừa tượng h́nh, có vẻ nhẹ nhàng, êm ái, thấp thoáng giây phút yêu đương như tơ vương giăng mắc mối giao ḥa, giao cảm mà người nghệ sĩ ghi lại qua cung bậc bằng nhiều thể loại khác nhau. Hăy thả hồn vào cơi mộng mơ để “t́m lại h́nh ảnh đă qua” trong lời ca, tiếng nhạc để con tim rung động, ngất ngây cho cuộc t́nh “thà một phút huy hoàng rồi chợt tắt” có c̣n hơn không, khỏi tiếc nuối, khỏi ân hận v́ thời gian là tên đồ tể với trái tim.
Vào thời kỳ đại chiến thứ II, trong chiến tranh Erich Maria Remarque đă viết tác phẩm văn chương lừng danh "Le Temps d'Aimer et Le Temps de Mourir" (Một Thời Để Yêu & Một Thời Để Chết). Trong t́nh yêu của mỗi người làm sao măi măi trong êm đềm, “thà một phút huy hoàng” để yêu, nhỡ rơi vào “một thời để chết” th́ cũng c̣n chút ǵ để nhớ.
 
                                                     Vương Trùng Dương
 
 
                                     
                                      Trở lại trang nhà >>>
 
 
Vương Trùng Dương  Email: caliweekly@yahoo.com - vuongtrungduong@yahoo.com