|
HOÀNG CẦM,
trên đỉnh yêu thương và khổ lụy
Vương Trùng Dương
Kịch tác gia với ḍng thơ trữ t́nh thời tiền chiến dấn thân vào phong trào
Nhân Văn - Giai Phẩm bước sang đầu thế kỷ XXI vào tuổi bát thập. Hoàng Cầm
là một trong ba khuôn mặt kiện tướng khởi điểm phong trào Nhân Văn - Giai
Phẩm hiện c̣n sống tại quê nhà. Suốt cả cuộc đời sống với thi ca, Hoàng Cầm
luôn luôn tôn thờ t́nh yêu, ca ngợi h́nh ảnh nữ lưu cho dù cuộc t́nh nghiệt
ngă. Đam mê trong t́nh yêu từ tiền bán thế kỷ XX cho đến thời điểm cuối đời
ở hậu bán thế kỷ XX, Hoàng Cầm tự thú:
“Tám mươi khát cả lưỡi dao
Sắc như nước loáng...
Uống vào như chơi
Chín mươi... dẫu đến mười mươi
Khát thương em quá...
Khóc thôi một ḿnh.”
T́nh Sử Lá Diêu Bông
Văn nhân mang tâm hồn lăng mạn từ tuổi ấu thơ v́ mới 8 tuổi đă vương vấn
h́nh bóng người t́nh trong tâm tưởng, con tim cậu bé sớm ngất ngây rung động
trước chân dung người con gái tuổi trăng tṛn. Mối t́nh đó được trang trải
cho đời qua h́nh ảnh “Lá Diêu Bông”. Sau ba thập niên mối t́nh đơn phương
của Hoàng Cầm được bày tỏ qua bài thơ Lá Diêu Bông h́nh thành vào mùa đông
1959:
“Váy Đ́nh Bảng buông chùng cửa vơng
Chị thẩn thơ đi t́m
Đồng chiều,
Cuống rạ.
Chị bảo:
Đứa nào t́m được Lá Diêu Bông
Từ nay ta gọi là chồng.
Hai ngày em đi t́m thấy lá
Chi chau mày:
Đâu phải Lá Diêu Bông.
Mùa đông sau em t́m thấy lá
Chị lắc đầu,
Trông nắng văn bên sông.
Ngày cưới chị
Em t́m thấy lá
Chị cười xe chỉ cắm trôn kim.
Chị ba con
Em t́m thấy lá
X̣e tay phủ mặt chị không nh́n.
Từ thuở ấy
Em cầm chiếc lá
Đi đầu non cuối bể.
Gió quê vi vút gọi.
Diêu Bông hời... ới Diêu Bông!”.
Lá Diêu Bông là chiếc lá tưởng tượng, chiếc lá định mệnh để bày tỏ ẩn t́nh
bi thương, chất ngất cho thiên t́nh sử, vượt thời gian và không gian, ḍng
thơ được đưa vào cung bậc, trở thành phổ thông qua nhiều ca khúc.
Làng Đ́nh Bảng, Bắc Ninh - quê hương nổi tiếng của quan họ Kinh Bắc - tuy là
miền quê nhưng cũng là “nơi đàn bà con gái đa t́nh, sóng sánh mắt lá răm”
trông ṃn con mắt. Trong bài Lá Diêu Bông, mở đầu, Hoàng Cầm đă viết “Váy
Đ́nh Bảng buông chùng cửa vơng” để phác họa h́nh ảnh địa phương với bóng
dáng trang phục diễm kiều của người gái quê. Năm Hoàng Cầm lên 8 tuổi, từ
tỉnh lỵ trọ học, trở về thăm nhà, gặp người con gái 16 tuổi - Vinh - yêu
kiều trong chiếc váy bước vào quán hàng xén của thân mẫu, cậu bé 8 tuổi quá
lăng mạn đă bị “tiếng sét ái t́nh” (coup-de-foudre) (amour subit & violent)
ngay tức khắc.
Tiếng sét ấy đă đi sâu vào trái tim, gần 70 năm sau, Hoàng Cầm tâm sự:
“Trước mắt tôi, chị hiện ra sáng rực rỡ như một thiên thần. Ngay lập tức,
hồn tôi bị chị chiếm đoạt đến đau điếng. Kể từ giây phút định mệnh ấy, tôi
mê man chị chẳng c̣n biết trời đất, ất giáp, quên hết học hành, sách vở,
suốt ngày chỉ ngong ngóng sang bên kia đường số I, xê xế nhà tôi khoảng 20
mét, nơi thiên thần của tôi ngồi bán quán nghèo, phố nhỏ đ́u hiu, tỉnh
nhỏ... Tôi phải ḷng chị, cứ thế giăng mắc tơ t́nh quanh chị suốt 4 năm
trời, đến năm tôi 12 tuổi th́ chị đi lấy chồng” (Nguyễn Thị Minh Thái - Thi
sĩ Hoàng Cầm... - Kiến Thức Ngày Nay).
Người con gái đó vẫn biết từ lúc gặp nhau đă đi vào mối t́nh si của cậu bé
học tṛ. Thế nhưng “Chị vẫn dứt áo ra đi. Đi lấy chồng. Tôi mất tăm chị, đầu
non cuối bể tôi đi t́m, không thấy. Biền biệt tăm cá bóng chim...”. Theo
Hoàng Cầm, Lá Diêu Bông “là chiếc lá huyền thoại, chiếc lá ngây thơ về một
t́nh yêu đầy mộng mị thời thơ ấu”. Chiếc lá ấy mang theo h́nh ảnh có thật
với Hoàng Cầm: “Tôi c̣n nhớ mồn một buổi chiều mùa đông... Chị đi về phía
cánh đồng chiều c̣n trơ cuốn rạ. Những dăy núi xanh xanh mờ xa in h́nh như
dao khắc trên nền trời cuối hoàng hôn. Bí mật, tôi lặng lẽ lần theo chị. Tôi
thấy chị thẩn thờ t́m đồng chiều. Cuống rạ. Rồi chị lẩm bẩm một ḿnh, dầu
chị biết chắc tôi lẵng nhẵng sau lưng: Đứa nào t́m được Lá Diêu Bông, từ nay
ta gọi là chồng..."(NTMT - KTNN).
Sau nầy, tác giả tâm sự: “Lá diêu bông là bài thơ duy nhất tôi viết trong
trạng thái vô thức. Đó là mùa rét năm 1959, đêm nào khi lên giường, tôi cũng
cầm sẵn một tập giấy trắng bên tay trái và cây bút ch́ bên tay phải, pḥng
khi không ngủ được th́ làm thơ. Chợt vẳng bên tai một giọng nữ nhỏ nhẹ độc
chậm răi, có tiết điệu, nghe như từ thuở xa xưa nào vọng đến: “Váy Đ́nh Bảng
buông chùng cửa vơng...”. Sáng hôm sau, tôi phải mất nửa giờ mới tách được
ra các câu thơ theo thứ tự mà người phụ nữ kỳ diệu nào đó đă đọc cho tôi.
Tôi gọi những giây phút vô thức ấy là “xuất thần”, đó là phần tinh tuư của
tinh thần bật ra...”
Bài thơ gợi h́nh ảnh chị & em v́ vậy tha nhân cứ nhầm tưởng h́nh ảnh hai chị
em gái, người chị đi lấy chồng, người em c̣n lại với nỗi thẩn thờ; thật ra,
ngôn ngữ trong thơ xưng hô em và chị thể hiện cách gọi giữa tác giả với
“người t́nh” nơi cố quận. Tác giả giữ măi ẩn t́nh đó qua thời gian khá dài
gần bốn thập niên mới tâm sự nỗi niềm.
T́nh Yêu Qua Ca Khúc
Nhạc sĩ cảm tác, rung động với hồn thơ để sáng tác. Và, “thiên t́nh sử” Lá
Diêu Bông được nhạc sĩ phổ theo thơ, dựa vào câu chuyện để viết thành ca
khúc. Phạm Duy viết thành ca khúc Lá Diêu Bông ở hải ngoại vào giữa thập
niên 1980 trong tuyển tập “Thấm Thoát Mười Năm”, xuất bản 1985. Phạm Duy
dùng nguyên văn bài thơ để viết nhạc, chỉ bỏ vài câu đầu từ “Váy...” đến
“Chị bảo:”. “Đứa nào t́m được lá diêu bông... Diêu bông hời, hời hỡi diêu
bông” và thêm hai câu cuối vào bài hát: “Em đi trăm núi ngh́n sông! Nào t́m
thấy lá diêu bông bao giờ...”. Nhạc phẩm Lá Diêu Bông nầy mang âm hưởng, sắc
thái mới lạ, khó hát nên ít được phổ biến.
Đầu thập niên 1990, ở trong nước, Trần Tiến phổ biến bài nầy mang âm điệu
dân ca, b́nh dân, được nhiều ca sĩ tŕnh bay; v́ vậy, đă có nhiều sự nhầm
lẫn về tác giả khi nghe bài hát Lá Diêu Bông. Trần Tiến không hiểu được hồn
của bài thơ, ngộ nhận nhân vật, nhưng làm nổi tiếng tên tuổi Lá Diêu Bông:
“Lời ru buồn nghe mênh mông, mênh mông, sau lũy tre làng kiến ḷng tôi xôn
xao.
Ngày lấy chồng em đi qua con đê, con đê ṃn lối cỏ về, có chú bướm vàng bay
theo em.
Bướm vàng đă đậu cây mù u rồi, lấy chồng sớm làm ǵ để lời ru thêm buồn.
Ru em, thời thiếu nữ xa xôi; c̣n đâu bao đêm trăng thanh, tát gàu ṣng vui
bên anh.
Ru em, thời con gái kiêu sa, em đố ai t́m dược lá diêu bông, em xin lấy làm
chồng.
Ru em, thời thiếu nữ xa xôi, ḿnh tôi lang thang muôn nơi, đi t́m lá cho em
tôi.
Ru em, thời con gái hay quên, thương em tôi t́m được lá diêu bông, sao em nỡ
vội lấy chồng... Diêu bông hỡi diêu bông, sao em nỡ vội lấy chồng”.
Năm 1997, “Nhạc Vàng Productions” giới thiệu CD sẽ được phát hành “CD T́nh
Sử Hoa Diêu Bông” thơ Nguyễn Mạnh Hoàng Cương, nhạc Phạm Vinh. Có 3 bài: I
(Lời Người Con Trai) Vũ Thành An đă phổ nhạc ḍng thơ nầy của NMHC mang bóng
dáng trong thơ của hoàng Cấm, II (Lời Người Con Gái), III (Giây Phút Lỡ
Làng). Ở đây Diêu Bông “tưởng tượng” như “sắc hoa”, “ti-gôn”, “hoa sim”...
cho t́nh sử nhạc khúc nhưng danh xưng tưởng tượng “thoát xác” qua ư thơ của
Hoàng Cầm.
Trở lại h́nh ảnh Lá Diêu Bông với tơ ḷng nhà thơ đắm say trong trường t́nh.
Với h́nh ảnh người bạn đời Tuyết Khanh, Hoàng Yến; với cả mười người t́nh đi
qua đời, qua trái tim; h́nh ảnh người con gái quê Đ́nh Bảng vẫn là “đẹp nhất
trần gian” ghê thật!.
Hoàng Cầm, nghệ sĩ sống thật với cơi ḷng. Qua bao nhiêu đau thương, biến
động dồn dập trong cuộc sống, Hoàng Cầm vẫn mang nặng tâm hồn nghệ sĩ, chấp
nhận tất cả mọi hệ lụy để sống c̣n và sáng tác. Trôi nỗi giữa cuộc sống
phong ba, băo táp, nhà thơ Sông Đuống có lẽ bị hai cú “shock” mạnh nhất là
ngày chị Vinh đi lấy chồng lúc 12 tuổi và ngày Bùi Thị Hoàng Yến - đứa con
thân yêu nhất - vĩnh viễn ra đi khi 63 tuổi đă làm Hoàng Cầm “hoàn toàn sụp
đổ, hàng tháng sau vẫn chỉ là cái xác vật vờ, lờ lững mà thôi”!.
Đọc Lá Diêu Bông, nghe Lá Diêu Bông... một mối t́nh đơn phương đầy lăng mạn,
một huyền thoại về h́nh ảnh chiếc lá biểu tượng cho t́nh yêu chất ngất, rướm
máu... Chỉ có Hoàng Cầm đam mê, nóng bỏng, lăng mạn của kiếp đời nghệ sĩ.
Nếu so sánh Hán Quang Vơ đa t́nh, đa cảm... mẫn mê với thở Lệ Quyên “thơm
như hoa lan”, giữa Ôn Như Hầu (tác giả Cung Oán Ngâm Khúc...) và Dục Đức (Tự
Đức) (tác giả Ngự Chế Việt Sử tổng vịnh tập, Luận ngữ Diễn Ca...) cách nhau
một thế kỷ c̣n mập mờ tranh nhau h́nh ảnh Thị Bằng - “Đập cổ kính ra t́m
bóng cũ. Xếp tàn y lại để dành hơi” - th́ Lá Diêu Bông có lẽ tha thiết, nặng
t́nh, bi thương hơn bội phần. Nếu so sánh với tuổi yêu đương, có lẽ Hoàng
Cầm đứng đầu danh sách nghệ sĩ.
Với “thiên t́nh sử” Lá Diêu Bông, với Hoàng Cầm, người nghệ sĩ bị chôn vùi
tâm hồn lăng mạn qua thời gian lâu dài trong vùng đất ngục tù, cay đắng...
nhưng vẫn giữ được trái tim rực lửa như thuở học tṛ với người gái quê Kinh
Bắc.
Tên tuổi Hoàng Cầm được nhắc nhở qua cung bậc với Lá Diêu Bông, ở hải ngoại,
Phạm Duy đă phổ nhiều ca khúc qua ḍng thơ của Hoàng Cầm, nổi tiếng như ca
khúc T́nh Cầm (thơ Nếu Anh C̣n Trẻ, 1941):
“Nếu anh c̣n trẻ như năm ấy
Quyết đón em về sống với anh
Những khoảng chiều buồn phơ phất lại
Anh đàn, em hát níu xuân xanh...”
Chân Dung Nhà Thơ
Hoàng Cầm, tên thật: Bùi Tằng Việt. Sinh năm 1921, làng Đ́nh Bảng, thôn Phúc
Tằng, Việt Yên, Bắc Ninh. Theo Hoàng Văn Chí trong tác phẩm Nhân Văn Giai
Phẩm - Sài G̣n VN, 1957 - Hoàng Cầm sinh năm 1922 ở làng Lạc Thổ, huyện
Thuận Thành, tỉnh Hải Dương. Theo Đinh Cường trong bài viết “Hoàng Cầm, Nhà
thơ Cho Ta Yêu Sông Đuống” sau ngày gặp mặt Hoàng Cầm tại Sài G̣n: “Sinh nắm
1921 tại làng Lạc Thổ, Chợ Hồ, huyện Lang Tài, phủ Thuận Thành, tỉnh Bắc
Ninh. Thân phụ anh hoạt động trong phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục nên từ bé
anh đă được hun đúc tinh thnầ dân tộc và ái quốc”. Yêu thơ văn từ thuở học
tṛ, lớn lên, Hoàng Cầm không thích nghề giáo nên dấn thân vào con đường
kịch nghệ & thi ca.
Với bút hiệu Hoàng Cầm, tác giả cho biết: “Ông cụ thân sinh tôi là nhà nho
và làm nghề bốc thuốc. Trong các vị thuốc bắc ông dùng chữa bệnh đau mắt có
một cây cỏ có tên Hoàng Cầm, vị rất đắng. Nhưng không phải tôi nghĩ đến thứ
cỏ này để đặt tên đâu. Tôi thích tên Cầm một cách vô thức, và tôi thích cây
đàn hoàng tử vừa đẹp vừa sang trọng. Thế là tôi lấy chữ Hoàng ghép với chữ
Cầm. Cái tên Hoàng Cầm xuất hiện lần đầu tiên trên Tiểu Thuyết Thứ 7 của NXB
Tân Dân năm tôi tṛn 17 tuổi”.
Vào thập niên 1940, Hoàng Cầm nổi danh với tác phẩm kịch nghệ như Lên Đường,
Kiều Loan, Hận Nam Quan... Năm 1945, kịch thơ Kiều Loan ra đời, diễn viên
Tuyết Khanh đóng vai Kiều Loan. Vở kịch Kiều Loan tŕnh diễn lần cuối vào
tháng 11-1946 rồi đ́nh bản v́ t́nh h́nh chiến sự.
” Anh đang sống chung với Tuyết Khanh, nữ kịch sĩ của đoàn kịch Đông Phương
do anh Hoàng Tích Linh thành lập trước đây. Tuyết Khanh là người thủ vai
chính trong vở Người Điên của Hoàng Cầm. Vở kịch cón mang thêm cái tên Kiều
Loan... Đi theo Hoàng Cầm ra vùng kháng chiến, Tuyết Khanh, mà lúc đó Hoàng
Cầm cũng đổi luôn tên là Kiều Loan, đang có thai và bắt buộc phải ở lại vùng
trung du để Hoàng Cầm và chúng tôi lên đường lưu diễn” (Hồi Kư Phạm Duy -
Thời Cách Mạng Kháng Chiến). Và, mối t́nh thơ mộng đó đă cho ra tác phẩm
bằng xương bằng thịt: Kiều Loan. Thế rồi: “Suốt thời gian từ 1948 cho tới
năm 1954, từ trong vùng địch chiếm, Kiều Loan mẹ viết thư cho Hoàng Cầm
nhiều lần và chẳng bao giờ được trả lời. Sau hiệp định Genève chia đôi đất
nước, Kiều Loan mẹ đành phải bế con lên sán di cư vào Nam, trong khi Hoàng
Cầm hăy c̣n ở một nơi nào đó trong vùng quê miền Bắc.
... Đứa bé nằm trong bụng mẹ trong thời kháng chiến năm xưa, hôm nay, trong
một ngày lành tháng tốt của năm 1968, đă lấy chồng. Qua tới Mỹ năm 1975, tôi
biết tin Kiều Loan mẹ cũng đi tị nạn và đang sống tại vùng Hoa Thịnh Đốn.
Vào nam 1982 tôi lại nghe tin Kiều Loan con cũng vượt biên qua tới Mỹ và về
sống với Kiều Loan mẹ tại Los Angeles. Ngày đầu năm 1983, trong buổi đi chơi
t́nh cờ, tôi được một người bạn đau lại gặp hai mẹ con Kiều Loan tại căn nhà
nhỏ ở downtown Los Angeles” (Phạm Duy - Hồi Kư TCMKC).
Khi định cư tại Hoa Kỳ, Kiều Loan nối nghiệp song thân, cùng với phu quân là
Trần Nhật Hiền, nguyên Giám đốc trường Quốc Gia Âm Nhạc Huế, lập ra ban
kịch, ra mắt vở kịch Kiều Loan vào năm 1982 tại San José, được lưu diễn
nhiều nơi, góp mặt trong việc hồi sinh nền kịch nghệ hải ngoại.
Khi Hoàng Cầm về Hà Nội th́ Tuyết Khanh và Kiều Loan đă di cư vào Nam. Hoàng
Cầm lập lại cuộc đời với Lê Hoàng Yến ở 43 Lư Quốc Sư Hà Nội. Đứa con gái ra
đời được lấy tên mẹ Bùi Thị Hoàng Yến, sau nầy trở thành diễn viên kịch
nghệ. Tháng 5-1982, Hoàng Yến qua đời, Hoàng Cầm rơi vào t́nh trạng khủng
hoảng tinh thần trầm trọng, như ḍng thư gởi ra hải ngoại cho Kiều Loan:
“Đến khi chị Yến chết th́ bố hoàn toàn sụp đổ, hàng tháng sau vẫn chỉ là cái
xác vật ṿ, ḷ lững mà thôi...”.
Tưởng nhớ người vợ, Hoàng Cầm bày tỏ niềm rung ảm qua Nén Linh Hương:
“Đă hẳn em bay cơi im-vô-cực
Sao c̣n mưa mau quất đau lá cành...
Từ hôm em đi ghi âm cười khóc
Ghi nét mày chau ghi sắc môi hồng...”
Bài thơ Xa, khóc L.H.Y viết vào tháng 8 năm 1985, vô cùng cảm động:
“Em đâu? Ai xé hồn muôn mảnh
-Tiếng mối tường bên xé tiếng mưa...
Đêm đêm hương khói, ngày không nói
Trang giấy vùng âm đắp ẩm êm
Ai khấn gọi ǵ qua mộ chí
Chơi sao nuốt nghẹn khối u mềm...”
Tham gia trong thời kỳ kháng chiến, ḍng thơ tuyệt vời của Hoàng Cầm qua
“Bên Kia Sông Đuống” và “Đêm Liên Hoan” vang vọng, được lan truyền khắp nơi.
Hoàng Cầm bị bắt lần thứ hai và trải qua 3 năm ở nhà giam Hỏa Ḷ.
Đó là hai người t́nh, bạn đời chính thức của Hoàng Cầm.
Năm 1989, tập kịch Men Đá Vàng được xuất bản ở Sài G̣n, sau gần nửa thế kỷ
im bóng.
Về thi ca, Hoàng Cầm sáng tác được 2 tập: Bên Kia Sông Đuống & Về Kinh Bắc.
Cho đến năm 75 tuổi, chọn lọc trong khoảng 300 bài thơ liên quan đến h́nh
ảnh 13 người đẹp đi vào trái tim với “Thơ Hoàng Cầm - 99 T́nh Khúc”. Theo
nhà thơ: “Tôi biết ơn tất cả những người con gái đă đi qua đời tôi, đă gieo
gió băo trên cánh đồng thi ca của riêng tôi”. Năm 1998, thi phẩm Thơ Hoàng
Cầm gồm hai phần: Vọng Về Kinh Bắc và Thơ T́nh (T́nh Ngây, T́nh Si Mê, T́nh
xưa) được xuất hiện.
Trước kia, Hoàng Cầm gắn liền với h́nh ảnh Kiều Loan. Ngày nay, bài thơ Lá
Diêu Bông, rất ngắn nhưng đă làm sống lại tên tuổi Hoàng Cầm, ngay cả hải
ngoại.
Có bài thơ đă vượt không gian và trường tồn với thời gian vào quảng đại quần
chúng; chẳng hạn, Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu.
Ngày xưa, thi hào Lư Bạch xem bài thơ Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu cùng thời
Thịnh Đường ở Trung Hoa, ngưỡng mộ phóng bút: “Nhăn tiền hữu cảnh đạo bất
đắc?. Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu!”. Hoàng Hạc Lâu làm sống măi tên tuổi
Thôi Hiệu trải qua ngh́n năm sau. Hoàng Hạc Lâu được rất nhiều thi sĩ Việt
Nam dịch, cảm tác từ thời tiền chiến cho đến nay, trong tâm trạng con người
lưu vong khắp bốn phương trời.
Vương Trùng Dương
|