|
| |
-
-
Nhạc Sĩ Lê Mộng Nguyên
-
-
Qua bài viết của nhạc sĩ Lê Mộng Nguyên
về nhà thơTuệ Sỹ. Cali Weekly nhận được nhiều email của độc giả
muốn tìm hiểu về nhạc sĩ đã có công đóng góp trong nền âm nhạc
Việt Nam. Bài viết được trích trong tờ Đại Chúng trong Số Đặc
Biệt dành cho Câu Lạc Bộ Văn Hóa Việt Nam Paris. Quý vị muốn liên lạc với NS Lê Mộng Nguyên, xin gởi
email về cali weekly để chuyển lại - VTrD, Cali
Weekly
-
-
-
Lê Mộng Nguyên sinh tại Phú
Xuân (Huế), tỉnh Thừa Thiên. Thân phụ là Lê Viết Mưu, thân mẫu là Hồ Thị
Ngô, trong một gia đ́nh nho giáo, Phật giáo đi đôi với phụng thờ tổ tiên, có 7
con (5 trai, 2 gái).

-
Trưởng nam Lê Mộng Tùng mất năm
1981, trưởng nữ Lê Thị Tố Huệ năm 1966, c̣n chồng là Ông Lê Văn Hy hiện trú
ngụ tại Montréal, Québec (Canada). Con út của gia đ́nh là Lê Mộng Quán mất tại
Lille năm 1968. Lê Mộng Nguyên hiện giờ chỉ c̣n hai người anh ở Sài G̣n: Lê
Mộng Đào và Lê Mộng Hoàng (đạo diễn phim) và một người chị: bà Lê Thị Tố Vân ở
Huế (chồng là Lê Đ́nh Sum vừa tạ thế năm 2000).
-
Lê Mộng Nguyên qua Pháp du học
từ ngày 05/10/1950, sau khi đỗ bằng Tú tài Sinh ngữ Triết lư niên học
1949-1950. Sau khi trúng tuyển Cử nhân Luật khoa Đại học Paris năm 1954 và làm
tham vụ ngoại giao tại Đại sứ quán Việt Nam ở Pháp (từ 1955 đến 1958), đỗ bằng
Luật sư năm 1959 (hành nghề Luật sư tại Ṭa Thượng thẩm Paris từ 1960 tới
1967), LMN đỗ bằng Cao Học Công Pháp năm 1959, Cao Học Khoa học Chính trị năm
1960, Cao Học Tư Pháp năm 1962. Tŕnh Luận án Tiến sĩ Quốc gia Khoa học Chính
trị (Thèse de Doctorat d'Etat ès Sciences Politiques) ngày 08/02/1962, Ưu
Hạng, với tất cả lời khen ngợi của Ban giám khảo Đại học Luật khoa Paris (và
được Giải thưởng Luận án - Prix de Thèse của Đại học Paris ngày 25/06/1963).
Từ niên học 1962-1963 cho tới niên học 1996-1997, với tư cách Giáo sư Tiến sĩ
Quốc Gia, LMN đă giảng dạy luật Hiến pháp (và trở thành chuyên môn lỗi lạc) đi
song với Khoa học Chính trị (cùng Tài chánh, Hành chánh) liên tục tại Đại học
Paris-Assas, Besanậon, Paris-Saint Denis và Paris-Sorbonne Nouvelle.
-
Lê Mộng Nguyên làm thơ nhạc và viết văn từ thuở nhỏ.
Trúng tuyển Giải Thưởng Hoàng Đế Bảo Đại (Prix S.M. Bảo Đại) trong một cuộc
Thi Văn Chương Học Sinh Trường Trung Học, được đăng báo lúc mới c̣n 15 tuổi
(Phan Đ́nh Phùng (biên khảo), Việt Nam Tân Báo 1945) và có thẻ nhà báo ngay
năm 18 tuổi. Đă cộng tác ở quốc nội với Phật Giáo Văn Tập (của Ḥa thượng Minh
Châu), Tập Văn Học Sinh (kỷ niệm niên khóa 1948-1949 trường Trung học Khải
Định), Quốc Gia (nhạc phẩm Xuân Tươi viết năm 15 tuổi, được đăng dưới biệt
hiệu Lan Đào), Việt Nam Tân Báo (dưới thời chính phủ Trần Trọng Kim) và hải
ngoại, từ ngày đi du học Pháp: Việt Nam (của Ṭa Đại sứ Việt Nam tại Paris),
Kinh Tài Pháp (của Nguyễn Văn Bông), Đường Mới (của GS Bùi Xuân Bào), Cách
Mạng (thơ đăng thường xuyên với biệt hiệu “Yên Hà”), Quê Mẹ (của Vơ Văn Ái),
Tiếng Sông Hương-Dallas (của sử gia Nguyễn Cúc), Tiếng Sông Hương-Virginia,
Việt Điểu-Giai Phẩm Mùa Thu 97 và 98 ( của Hội Thơ Tài Tử Việt Nam Hải Ngoại),
Cụm Hoa T́nh Yêu IV-1998, CHTY V-1999, CHTY VI-2000, CHTY VII-2002 (HTTTVN Hải
Ngoại, Sacramento), Flowers of Love (Vietnamese International Poetry Society,
2000, Sacramento),Chúng Ta (của Bùi Xuân Quang và Lê Thị Bạch Nhựt), Le
Médecin du Vietnam (của BS Trần Quang Lộc), Tiếng Gọi Dân Tộc (của Vơ Long
Triều), Tin Tức (của Nguyễn Đ́nh Nhân), Á Châu (Đỗ Thành, Hồng Kim Thảo), Y
Học Thường Thức (của BS Nguyễn Xuân Quang, Orange County), Ngày Mới (của Lê
Trân - Diễm Thy, Antony, Pháp), Đối Lực & Khai Thác Thị Trường (của TS Nguyễn
Bá Long, Toronto), Định Hướng (của GS Nguyễn Đăng Trúc & LM Lê Phú Hải), Biển
Đông (của nữ sĩ Dư Thị Diễm Buồn, Chicago), Đại Chúng (của kư giả Hoài Thanh,
Maryland, USA), Ḍng Việt (của Vơ Long Tê & Lê Văn, Huntington Beach), Human
Rights / Droits de lơHomme (của TS Lâm Lễ Trinh, Huntington Beach,
California), Nhân Quyền DROITS DE LơHOMME (của LM Trần Thanh Giản, Paris), Hồn
Quê, Multimedia Magazine (của kư giả Vương Huyền, trên mạng lưới), nguyệt san
Nghệ Thuật - Montréal (của Nhạc sĩ Lê Dinh) một cách thường xuyên từ tháng
12-1998 trong mục phê b́nh văn nghệ và truyện, hồi kư, tùy bút, vân vân. Lê
Mộng Nguyên đă cộng tác với “Nhóm Khởi Hưng” trong Việt Sử Khảo Luận, Tập 16,
của Luật sư Hoàng Cơ Thụy (2001).
-
Đă sáng tác hơn một trăm nhạc
phẩm, như Trăng Mờ Bên Suối (viết ngày 13.11.49), Vó Ngựa Giang Hồ (08.11.48),
Đàn Chim Xuân (07/12/1948), Kỷ Niệm Chiều (22/05/1950) Mừng Khánh Đản (1948),
Thành Đạo, Một Chiều Thương Nhớ (29.11.49), Hoàng Hoa Thôn (22.01.50), Nhớ Huế
(28.02.50), Bài Thơ Huế (1950), Về Chơi Thôn Vỹ (25.04.50), Xa Vời Bóng Chim
(26.02.50), Mỵ Châu Trọng Thủy (06/05/1950, có lời băng tiếng Pháp, 2001),
Xuân Tha Hương, Cô Gái Huế (16.09.50), Dạ Lan Hương (1949), Ngàn Dặm Quan San
(07.08.49), Đôi Mắt Nhung, Mơ Đà Lạt (21.03.50), Từ Giă Đế Đô (08/05/1950), Ly
Hương (1950)... Bụi Đời (06.09.57, nhạc phim), Lá Thư Cho Mẹ (1951), Xuân Tha
Hương (20.03.51), Sông Seine, Bao Giờ Ta Về Nước Nam? (tự bài “Bên Gịng Sông
Seine”, 26.04.51) , Chiều Vàng Bên Chợ Đông Ba (1988), Kiếp Giang Hồ (1992),
Xuân Về Nhớ Măi Quê Hương (1981) Quê Tôi (1991), Việt Nam Thắm Tươi (2000) ...
và trong năm 2001- 2002 : T́m Lại Ngày Xưa, Mưa Trên Phố Huế Ngày Em Đi, Thề
Non Nước (Thơ Tản Đà), Giao Mùa (Thơ Phạm Ngọc), Thu Trên Sông Seine (Thơ
Vương Thu Thủy), T́nh Vô Vọng (Thơ Bích Thuận), Chiều Vàng Năm Xưa... phần lớn
do Hương Mộc Lan, Tinh Hoa (nhạc và Sách Hồng: “Lá Thư Cứu Mệnh”, là cuốn
truyện đầu tiên được xuất bản, 1949), và Ái Hoa, Á Châu, An Phú... xuất bản và
tái bản nhiều lần. Thu Hồ là nhạc sĩ danh ca đă ngay từ năm 1949 đặc biệt
tŕnh bày trên đài phát thanh Pháp Á (Radio France-Asie) hầu tất cả sáng tác
đầu ḷng của Lê Mộng Nguyên và từ đó đến lượt Mạnh Phát, Thanh Phong, Jo
Marcel, Phương Bằng, Phạm Đăng... cùng các nữ danh ca như Hoàng Oanh, Hà
Thanh, Thanh Thúy, Khánh Ly, Thái Thanh, Lệ Thu, Thanh Lan, Kim Tước, Hương
Thủy, Hương Lan, Kim Thu, Ánh Tuyết, Lê Dung, Huyền Châu, Thanh Trúc, Tuyết
Dung... đă tŕnh bày trên đài phát thanh, trên mạng lưới hoặc truyền h́nh hoặc
thu vào băng nhạc hay CD (hoặc Vidéo) cho phổ biến ở nước nhà và hải ngoại.
-
Trong thư riêng trả lời cho
nhạc sĩ Trịnh Hưng (đề ngày 02/03/1998), tác giả Lê Mộng Nguyên đă giăi bày
tâm sự như sau: Bài trăng mờ bên suối viết ngày 13 tháng 11 năm 1949 (tôi c̣n
giữ bản thảo), một buổi chiều không mưa ở nhà một ḿnh tôi ở Huế (đường Gia
Long), với cây lục huyền cầm Y Pha nho, vừa nhạc vừa lời song song với nhau,
rất mau lẹ (từ 20 đến 30 phút là xong), trong một cuốn vở có phân ly (papier
millimétré) đầy kư chú những bài học Lư Hóa ở trường Khải Định. Ai là nhạc
thần trong sự sáng tác bài nhạc này đă làm cho ngay tác giả lúc nghe lại chiều
ấy cũng rụng rời con tim? Tôi vừa viết xong th́ anh Lê Mộng Hoàng lúc ấy mới
đi chơi về, hát thử ngay với giọng ténor léger của anh rất xúc cảm, tôi quyết
định gửi cho Thu Hồ là một danh ca của Đài Phát thanh Pháp Á (Radio France
Asie) hồi ấy ở Sài G̣n. Hai ba ngày sau, TMBS được Thu Hồ tŕnh bày lần đầu
tiên trên làn sóng điện Việt Nam, và anh đoán biết thành tích của TMBS từ ngày
ấy đến bây giờ. Hồi ấy, chiến tranh bắt đầu giữa Quốc Gia (dưới thời Chính phủ
độc lập của cựu hoàng Bảo Đại, Quốc trưởng kiêm Thủ tướng Chính phủ thành lập
ngày 01/07/1949, với Nguyễn Văn Xuân, Phó Thủ tướng và Tổng trưởng Quốc pḥng)
và Cộng quân của Vơ Nguyên Giáp (chính phủ Hồ Chí Minh). Không hiểu sao tôi có
linh tính sẽ chia tay một cách vĩnh viễn với cuộc t́nh rất tha thiết nhưng
trong sạch thuở ban đầu? Linh tính một sự đau khổ trong tương lai v́ phải rời
quê cha đất tổ qua năm sau cùng với óc tưởng tượng dồi dào của một người thi
nhạc sĩ đă làm cho tôi biến hóa những cuộc gặp nhau bên bờ sông Hương (sau Đài
Kỷ Niệm Chiến Sĩ Trận Vong) và trên đường Nam Giao (nơi trú ngụ của cô gái Huế
người hoàng tộc mới tuổi dậy th́), những buổi chiều vàng mặt trời sắp xuống,
thành một gặp gỡ cuối cùng bên bờ suối dưới ánh trăng mờ, mà ngay hoa lá cũng
động ḷng nức nở khóc nỗi chia ly (Ngày xưa c̣n đó trăng nước mong chờ).
-
Ngoài luận án Tiến Sĩ Quốc Gia
với chủ đề Classes sociales et mouvements politiques au Vietnam de 1919 à 1939
(Giai Cấp Xă Hội và Phong Trào Chính Trị ở Việt Nam từ 1919 đến 1939), được
Giải Thưởng Luận Án Đại Học Paris năm 1963, Lê Mộng Nguyên đă cho in và phổ
thông (với tư cách Giáo sư Luật sư Tiến sĩ Quốc Gia chuyên môn luật Hiến pháp
và Chính trị học), khoảng 20 tác phẩm lược luận và nghiên cứu, tỷ dụ: La
Constitution de la Ve République, de Charles de Gaulle à Franậois Mitterrand
[Hiến Pháp Đệ Ngũ Cộng Ḥa, từ Charles de Gaulle đến Franậois Mitterrand] (xb
lần thứ tư, năm 1989, Ed. STH), Les systèmes politiques démocratiques
contemporains [Những Chính Thể Dân Chủ Hiện Đại] (xb lần thứ tư, năm 1994, Ed.
STH), Initiation au droit [Khai Tâm Luật Pháp] (1996, Ed. L'Hermès), La
Constitution de 1958 [Hiến Pháp 1958] (1996, Ed. L'Hermès), Le budget de
l'Etat [Ngân Sách Quốc Gia] (1997, Ed. L'Hermès), Finances publiques [Tài
Chánh Công Hữu] (1997, Ed. L'Hermès) và trong nhiều sách tập hợp như: La loi
nouvelle (résumé, analyse et commentaire), 1997 (L'hermès), La loi nouvelle
(résumé, analyse et commentaire), 1998 (L'Hermès), Les agglomérations urbaines
dans les Pays du Tiers Monde (Ed. de l'Institut de sociologie, Bruxelles
1971), Le Viêt-Nam au présent (1992, Đường Mới), Đảng Cộng Sản Trước Thực
Trạng Việt-Nam (1994, Đường Mới) và Những Vấn Đề Cấp Thiết của Việt-Nam (Tiếng
Gọi Dân Tộc xuất bản, 1995)...
-
Đă viết hơn 130 bài xă thuyết
về Hiến pháp và Dân chủ cho nhiều tạp chí Âu châu lừng danh: như Revue du
Droit Public, Civilisations, Approches-Asie hoặc Echos de l'Edition Juridique,
Légis-France, Lois et décrets, Mondes et Cultures (tập san của Hàn Lâm Viện
Khoa Học Hải Ngoại Pháp), Nhân Quyền, DROITS DE LơHOMME (Paris), vân vân và
trên báo song ngữ Pháp Anh ở Hoa Kỳ Human Rights (của TS Lâm Lễ Trinh,
Huntington Beach, California), Việt Pháp ở Paris như Quê Mẹ, Tin Tức, hoặc
L'Appel de la Nation hay Le Médecin du Vietnam và ở Gia-Nă-Đại như Đối Lực và
Khai Thác Thị Trường (đă nói trên)... Sẽ xuất bản một thi tập Đời Không Có Em,
một sách biên khảo Nhà Văn Hải Ngoại (Phê B́nh Văn Nghệ) và bằng Pháp ngữ (Tùy
bút): La Guerre Civile Vietnamienne, Chroniques politiques 1993-2002, (Việt
Nam Nội Chiến, Chính Trị Kư Sự 1993-2002), Contes Asiatiques, une philosophie
de la vie et du bonheur (Truyện Ngắn Á Đông, một triết lư cuộc đời và hạnh
phúc) và Poèmes dơAmour du Vietnam (T́nh Thơ Việt Nam)...
-
Được bầu làm Viện Sĩ Hàn Lâm
Viện Khoa Học Hải Ngoại của Pháp từ ngày 05/12/1997, thay thế Cựu Hoàng Bảo
Đại (Membre de l'Académie des Sciences d' Outre-Mer depuis le 5 décembre 1997,
en remplacement de S.M. Bảo Đại), với kết quả: 81 phiếu thuận trên 90 người
bầu (90 phần trăm). Đại diện cho Việt Nam hiện giờ trong bác học viện này chỉ
có nhà văn, học giả, tiến sĩ văn chương Hương Giang Thái Văn Kiểm (được chọn lựa năm 1990, với tư cách hội
viên liên hợp-membre associé, TS Hà Vĩnh Phương được bầu ngày 03/12/1999 với
tư cách hội viên thông tín-membre correspondant và nhạc sĩ, Giáo sư Tiến sĩ Lê
Mộng Nguyên (Hội viên thực sự, với quyền bỏ phiếu bầu hội viên mới cùng ứng cử
bất cứ chức vụ nào trong Viện Hàn Lâm). Thi văn nhạc sĩ và luật gia LMN cũng
là hội viên của Hội Thơ Tài Tử Việt Nam Hải Ngoại (Vietnamese International
Poetry Society tại Sacramento, U.S.A.), SACEM (Société des Auteurs
Compositeurs et Editeurs de Musique: Hội những người Nhạc Sĩ và Xuất Bản Âm
Nhạc) và Hội Những Nhà Văn Pháp Ngữ (ADELF: Association des Ecrivains de
Langue Franậaise) tại Paris, Hội Chuyên Gia Lập Hiến Pháp Quốc (AFC:
Association Franậaise des Constitutionnalistes), vân vân... Được Thủ Tướng
Chính phủ Pháp ban thưởng Huy Chương Văn Hóa với trật Sĩ Quan (Officier dans
l'Ordre des Palmes Académiques) từ năm 1984 và vinh danh trong Vẻ Vang Dân
Việt (The Pride of The Vietnamese), Tuyển Tập IV - 1998, California.
-
-
-
Năm 1922, kư giả Paul Bourdarie
là người đầu tiên có ư kiến sáng lập một Học sĩ hội (Société savante) chuyên
môn nghiên cứu những vấn đề thuộc Pháp Quốc Hải Ngoại, lấy tên là “Hàn Lâm
Viện Khoa Học Thuộc Địa” (Académie des Sciences Coloniales) được trở thành
“Hàn Lâm Viện Khoa Học Hải Ngoại” (Académie des Sciences dơ Outre-Mer) kể từ
ngày 07 tháng 6 năm 1957. Ông cũng là người đầu tiên giữ chức Thư kư Vĩnh viễn
(Secrétaire perpétuel) của HLV này. Việc thiết lập Hàn Lâm Viện được hoàn hảo
sau nhiều cuộc hội họp trong năm 1922 và đầu năm 1923 với sự hiện diện của
nhiều nhân vật mà sau này được lấy tên thành viên sáng lập (membres
fondateurs).
-
Vào tháng 02 năm 1922, Paul
Bourdarie cùng đi với Maurice Delafosse (nhà chuyên môn lỗi lạc về những vấn
đề Phi Châu) và Giáo sư Alfred Martineau (Collège de France), đặng tŕnh cho
Tổng trưởng Thuộc Địa Albert Lebrun một văn thư về sự thành lập khẩn yếu một
Hàn Lâm Viện và được Chính phủ chấp thuận hẳn ḥi. Từ đó, nhiều cuộc hội họp
đă được tổ chức một cách liên tục cho đến ngày 08 tháng 7-1922 tại trụ sở của
“Alliance Franậaise”, số 101, boulevard Raspail (Paris, quận 6), dựa trên một
chương tŕnh thảo luận rơ ràng theo tựa đề: “Sáng lập Hàn Lâm Viện Khoa Học
Thuộc Địa; tuyên đọc và thảo luận dự án về điều lệ và qui định nội bộ và có lẽ
về văn pḥng sự vụ” (Fondation de lơ Académie des Sciences Coloniales; lecture
et discussion des projets de statuts et du règlement intérieur et
éventuellement, du bureau).
-
Văn pḥng đầu tiên gồm có:
Gabriel Hanotaux, Chủ tịch và Paul Doumer, Louis Archinard, Ernest Roume và
Auguste Pavie đồng Phó Chủ tịch, ba vị này đại diện cho Quốc Hội (Quyền Lập
Pháp), Quân đội Thuộc địa, Cơ quan Hành chánh và những nhà Thám hiểm. Danh
nghĩa Chủ tịch sáng lập HLV mới được phong cho Ông Albert Lebrun. Buổi họp
long trọng khánh thành học sĩ hội tổ chức ngày 18 tháng 5-1923, đặt dưới sự
chủ tọa của Tổng trưởng Thuộc Địa Albert Sarraut. Chính ngay trong buổi họp
lịch sử này, Ông Thư kư Vĩnh viễn Paul Bourdarie muốn đề khởi lên bốn động từ
mà trong tương lai được chọn làm phương châm (4 chữ T) hoạt động cho Hàn Lâm
Viện: Trí (Savoir), Thức (Comprendre), Trọng (Respecter), Thương (Aimer). Hồi
ấy, Ông Chủ tịch Hàn Lâm mới Gabriel Hanotaux đă không ngần ngại tán dương vai
tṛ quan trọng của bác học viện trong cái pḥng thí nghiệm mới này về mặt trí
thức và về phần tư tưởng.
-
Trong những viện sĩ sáng lập và
ngoài ba hội viên sẽ được bầu làm Tổng thống Pháp như Albert Lebrun, Gaston
Doumergue và Paul Doumer, ta nhận thấy các Ông Paul Bourdarie, Augustin
Bernard, Maurice Delafosse, Tướng Charles Mangin, Lucien Hubert (Chủ tịch hội
Ái Hữu Cựu Học Sinh Trường Thuộc Địa), Alfred Martineau, Thống chế Lyautey,
Pierre Mille, vua Khải Định (VN)... Trong những hội viên đă làm vẻ vang cho
HLV, ta có thể chỉ tên (ngoài ba Tổng thống Cộng Ḥa nói trên) các Thủ tướng
Albert Sarraut, Edgar Faure và René Pleven; các Tổng trưởng Jean-Jacques
Juglas; Gratien Candace, Louis Marin, Georges Leygues, Henri Lemery, Marcel
Naegelen, Jean Berthoin, Léo Hamon, Jacques Soustelle, Jean Letourneau, Paul
Devinat, Robert Lemaignen; các Thống chế Pháp quốc Joseph Joffre, Franchet
dơEsperey, Hubert Lyautey, Alphonse Juin, Leclerc de Hautecloque; các Tướng
Henri Gouraud, Emile Marchand, Maxime Weygand; các y sĩ Yersin, Girard, Robic,
Jamot; những nhà thám hiểm Binger, Auguste Pavie; nhà nhân chủng địa dư học
Pierre Gourou (1); những hội viên Hàn Lâm Viện Pháp (Académie Franậaise)
Gabriel Hanotaux, André Chevrillon, Jérôme Tharaud, Thủy sư Đề đốc Lacaze,
Tướng Weygand, Thống chế Juin; các vị Toàn quyền Jules Brévié, Robert
Delavignette, Oswal Durand, Reste de Roca, Léon Pignon, Robert Bargues. Trong
quá khứ phải kể thêm nhiều Quốc trưởng lừng danh: Vương Quốc Bỉ Albert Đệ Nhất
và Léopold III, Tổng thống Côte-dơIvoire Houphouet Boigny và Hoàng Đế Bảo Đại.
-
Hiện giờ HLV Khoa Học Hải Ngoại
Pháp rất hănh diện được sự có mặt với tư cách hộI viên của Chưởng-ấn-quan Bác
Học Viện Pháp (chancelier de lơInstitut de France) Pierre Messmer (cựu Thủ
tướng), của hai Thư kư Vĩnh viễn BHV Pháp Jean Leclant (Bi kư Mỹ Văn Học Viện,
Académie des Inscriptions et Belles Lettres), Arnaud dơHauterives (Mỹ Học
Viện, Académie des Beaux Arts)... Sau đây là nhân danh những hội viên của HLV
Khoa Học Hải Ngoại mà cũng là viện sĩ Bác Học Viện Pháp: Alain Decaux và
nguyên Tổng thống Cộng Ḥa Sénégal Léopold Sedar Senghor vừa mất (HLV Pháp
Quốc, Académie Franậaise); Jean Favier (Bi Kư Mỹ Văn); Yves Coppens, Jean
Dorst, Théodore Monod vừa mất năm 2000 (Hàn Lâm Viện Khoa Học, Académie des
Sciences) và Xavier Deniau (Luân lư Chính trị Khoa học Viện, Académie des
Sciences morales et politiques)... Thêm vào đó, xin kể một số đông viện sĩ HLV
Khoa Học Hải Ngoại cựu Tổng thống các nước Liban và Portugal: Charles Hélou và
Mario Soarès; các Tổng thống đương chức Blaise Comparé (Burkina Faso) và các
nhân vật Pháp lừng danh như cựu Tổng trưởng Jacques Augarde, Alain Decaux,
Xavier Deniau, Yves Guéna (hiện giữ chức Chủ tịch Hội Đồng Hiến Pháp,
Président du Conseil constitutionnel), Jean-Pierre Soisson và Giáo sư Franậois
Luchaire, cựu thành viên HĐHP. Cách đây không lâu, Cựu Tổng Thư Kư Liên Hiệp
Quốc, hiện giữ chức Tổng Thư Kư Tổ Chức các Nước Pháp Thoại Boutros Boutros
Ghali được chọn lựa vào HLV với tư cách hội viên liên hợp, đă được đón tiếp
long trọng ngày 03 th. 4-1998 tại trụ sở HLV ở số 15, Rue La Pérouse, Paris
quận 16.
-
Theo Sắc lệnh số 72-1038 ngày
16 th. 11-1972 của Chính phủ Pháp về việc cải cách Điều lệ và Chuẩn y Quy chế
nội bộ (Règlement intérieur) của Hàn Lâm Viện Khoa Học Hải Ngoại (bổ sung
trong sắc lệnh số 82-593 ngày 06 th. 7-1982), được tu chính trong sắc lệnh mới
nhất số 2000-472 ngày 29 th. 5-2000, học sĩ hội của chúng ta gồm có: 100 hội
viên thực thụ, 25 HV chính thức tự do (có nghĩa là không thuộc vào một chi bộ
nào cả: theo điều lệ, một HV thực thụ có thể xin phép di chuyển để trở thành
HV tự do nếu chi bộ của HV thực thụ đồng ư). 50 HV liên hợp và 100 HV thông
tín (cả thảy là 275 HV). Muốn được bầu làm HV thực thụ hay tự do, phải có quốc
tịch Pháp. Những HV thông tín có thể được bầu trong những ứng cử viên người
Pháp hoặc ngoại quốc. HV liên hợp được lựa chọn trong những nhân vật lỗi lạc
nước ngoài. Tất cả những thứ HV này đều được bầu cử hoặc lựa chọn trong những
nhân vật có tiếng tăm, đă xuất bản những tác phẩm có giá trị và có công tŕnh
nghiên cứu về những vấn đề thuộc trong khung khổ hoạt động của học sĩ hội hoặc
đă (nhờ chức vị tối cao của ḿnh) thành tâm hợp tác vào công cuộc phát triển
trên các quốc gia hải ngoại Pháp về mặt văn hóa, khoa học, kinh tế, kỹ thuật
và nhân loại.
-
Ngày 05 tháng 12 năm 1997, Giáo
sư TS Lê Mộng Nguyên, luật gia, luật sư và nhạc sĩ được chánh thức bầu vào Hàn
Lâm Viện Khoa Học Hải Ngoại Pháp với tư cách hội viên tự do (81 phiếu thuận
trên 90 người bỏ phiếu: số phiếu này đă được ngay trong ṿng đầu), thay thế
Cựu Hoàng Bảo Đại tạ thế ngày 31 th. 7-1997. Sau vị Hoàng Đế cuối cùng của
nước Nam, Lê Mộng Nguyên là người Pháp gốc Việt đầu tiên được bầu làm hội viên
tự do (membre libre), nghĩa là hội viên thực sự không thuộc chi bộ (section)
nào và có quyền (như hội viên thực thụ) bỏ phiếu bầu hội viên mới cùng ứng cử
bất cứ chức vụ nào của Viện Hàn Lâm. Theo Điều 5 của Qui chế nội bộ: “Tuyển cử
đoàn (collège électoral) gồm có những hội viên thực thụ và hội viên tự do. Ủy
ban bí mật (comité secret) gồm các hội viên thực thụ và tự do; những thảo luận
của ủy ban này không được lập biên bản”, và theo Điều 12 (do sắc lệnh số
2000-472 sửa lại): Văn Pḥng (Bureau) gồm có một Chủ tịch, hai Phó Chủ tịch,
(một) Thư kư Vĩnh viễn, do hội viên thực thụ và tự do bầu và lựa chọn trong
những hội viên thực thụ và tự do. Văn Pḥng cũng có thêm hai thành viên do hội
viên thực thụ và tự do bầu theo đại đa số và lựa chọn trong những hội viên
thực thụ và tự do, để nhậm chức ba năm và có thể tái nhiệm...
-
Trong quá khứ, HLV đă được rạng
rỡ nhờ sự có mặt của một số đồng bào Việt Nam lỗi lạc như cụ Thủ tướng Phạm
Quỳnh (2) làm hội viên liên hợp (membre associé) từ 1939 đến 1945, Đại sứ Phạm
Duy Khiêm (3) làm hội viên thông tín (membre correspondant) từ 1958 đến 1974,
nhà văn Nguyễn Tiến Lăng (4) làm hội viên thông tín từ 1960 đến 1976, sử học
gia, văn sĩ Trần Minh Tiết (sinh năm 1918, được lựa chọn làm hội viên liên hợp
năm 1970, mất năm 1990), hoàng thân (cựu Đại sứ VN) Bửu Kỉnh làm hội viên liên
hợp từ ngày 05 th. 11-1980 (được lựa chọn) đến 29 th. 6-1997 (ngày Ông tạ
thế), vân vân. Và lẽ dĩ nhiên, cựu Hoàng Đế Bảo Đại đă làm hội viên tự do
(membre libre) từ ngày 20 th. 3-1935 (được bầu) cho đến ngày ngài băng hà (31
th. 7-1997). Hiện giờ, đại diện cho nước ta có ba HV: nhà văn, học giả Thái
Văn Kiểm (HV liên hợp từ ngày 07 th. 12-1990), TS Hà Vĩnh Phương, cựu Đại sứ
Việt Nam Cộng Ḥa (HV thông tín từ ngày 03 th. 12-1999) và Giáo sư TS Lê Mộng
Nguyên (HV tự do từ ngày 05 th. 12-1997).
-
Trong năm 2002, HLV đặt dưới sự
điều khiển của các Ông Raoul Girardet, Chủ tịch, Jean Louis Miège (HV tự do),
Đệ Nhất Phó Chủ tịch, Jacques Alibert, Đệ Nhị Phó Chủ tịch và Ông Gilbert
Mangin, Hội thẩm danh hàm Ṭa Phá Án (conseiller honoraire à la Cour de
cassation), giữ chức Thư kư Vĩnh viễn kể từ năm 1988. Theo Điều 1 của Pháp chế
(Statuts), HLV Khoa Học Hải Ngoại là một cục sở công lập (établissement
public) có khuynh hướng nghiên cứu những vấn đề liên quan tới các nước hải
ngoại trên mọi phương diện, nhất là dưới những h́nh thức khoa học, chính trị,
kinh tế, kỹ thuật, lịch sử, xă hội và văn hóa. HLV có mục đích kết hợp trong
tác dụng này những nhân vật Pháp và ngoại quốc có tài năng, trong một tinh
thần hoàn toàn khách quan và liêm khiết (bất vụ lợi). Trụ sở hiện giờ ở tại
đặc phủ (Hôtel particulier) số 15, đường La Pérouse, Paris (quận 16). HLV hội
họp 2 kỳ mỗi tháng (ngoại trừ ba tháng 7, 8 và 9), vào ngày thứ sáu tuần thứ
nhất và tuần thứ ba. Trong những phiên nhóm công cộng này, các hội viên có
quyền tŕnh bày những thông đạt (communications) với chủ đề mà Văn Pḥng đă
chuẩn y, và tiếp theo đó là thảo luận chung giữa quan khách hiện diện. Tất cả
những thuyết tŕnh (cùng biên bản mỗi buổi họp đều được đăng trong đặc san của
HLV gọi là “Mondes et Cultures” (Địa Cầu và Văn Hóa) và phổ thông khắp thế
giới kể từ năm 1924. Hai bài thuyết tŕnh của Lê Mộng Nguyên: 1. Constitution
et démocratie dans les États de lơex-Indochine franậaise (ngày 06 th. 11-1998)
và 2. Bảo Đại, dernier empereur et chef dơ État du Viêt Nam (ngày 19 th.
11-1999) đă được đăng trong “Mondes et Cultures” Tome LVIII - 2 - 3 - 4 - 1998
(tr. 209-220) và Tome LIX - 3 - 4 - 1999 & Tome XL - 1 - 2000 (tr. 99-118).
Hàn Lâm Viện cũng là một nhà xuất bản đă phát hành những tác phẩm nghiên cứu
lừng danh về hải ngoại. Hơn nữa, cứ mỗi năm, HLV ban cấp nhiều Giải Thưởng
(Prix de lơAcadémie) để khuyến khích những tác giả đă viết, cho in và phổ
thông những tác phẩm dính dấp đến nhiều vấn đề nằm trong vùng nghiên cứu của
học sĩ hội. Tỉ dụ: đầu năm 2002, HLV đă cấp Giải Thưởng Albert Bernard cho
sách “Le sud du Tchad en mutation” của Gérard Magrin (nhà xb Cirad Sepia),
Giải Thưởng Thống chế Lyautey cho sách “Si nous nous taisons... Le martyre des
moines de Tibhirine” của René Guitton (nhà xb Calman-Lévy), Giải Thưởng
Auguste Pavie cho sách “Les belles heures de lơIndochine Franậaise” của
Christiane dơ Ainval (nhà xb Perrin), Giải Thưởng Robert Cornevin cho sách
“Les fous dơ Afrique-histoire dơune passion franậaise” của Jean de la
Guérivière (nhà xb Seuil), Giải Thưởng Louis Marin cho sách “Abolitionnistes
de lơesclavage et réformateurs des colonies” (1820 - 1851) của Nelly Schmidt
(nhà xb Karthala), Giải Thưởng Robert Delavignette cho sách “Les sociétés
traditionnelles de lơAfrique Noire” của Jean Bruyas (nhà xb LơHarmattan).
-
-
Để kết luận và với mục đích
nâng đỡ những nhà nghiên cứu vấn đề hải ngoại (nhất là về vùng Đông Nam Á và
Việt Nam), Hàn Lâm Viện Khoa Học Hải Ngoại chiếm hữu một Thư Viện gồm 60 000
tác phẩm, 3 000 tạp chí (có định kỳ mà trong đó 500 c̣n tiếp tục), khoảng một
ngàn nguyên cảo và chừng 10 000 quyển sách khâu sơ (brochures) và những bản in
riêng cho tác giả một bài báo (tirés à part). Thư viện rất phong phú này mở
cửa rộng cho công chúng (vào đọc tự do) từ ngày thứ hai đến ngày thứ sáu (14
giờ - 18 giờ) tại trụ sở, tầng lầu 2.
-
-
-
CHÚ GIẢI:
-
-
(1) Pierre Gourou, tác giả
những sách nghiên cứu về Việt Nam: La terre et lơhomme en Extrême-Orient
(Paris 1940); Lơ avenir de lơIndochine (Paris 1947); Les paysans du delta
tonkinois (Paris 1936)...
-
(2) Phạm Quỳnh, tác giả sách: Le paysan tonkinois à
travers le parler populaire (Hà Nội 1930); Lơévolution intellectuelle et
morale des Annamites depuis lơétablissement du protectorat (Paris 1922);
Essais franco-annamites 1929-1932 (Huế 1937); Nouveaux Essais franco-annamites
(Huế 1938); Redressement franậais et restauration annamite (Huế 1941); Charles
Maurras penseur politique (Huế 1942), vân vân.
-
(3) Phạm Duy Khiêm - Cựu Đại sứ Phạm Duy Khiêm (VNCH tại
Paris) là tác giảácủa tập truyện lừng danh: Légendes des Terres Sereines
(Mercure de France 1951) và một tiểu thuyết (tự truyện): Nam et Sylvie (Plon
1957)...
-
(4) Nguyễn Tiến Lăng, tác giả sách: La France que jơai
vue (Huế 1940); Pétrus Trương Vĩnh Kư, lettré et apôtre franco-annamite
(1939)...
-
-
Thơ song ngữ (Phạm Ngọc – Lê Mộng Nguyên)
-
| |
-
Câu ly biệt không thể là lời nói
-
Poème vietnamien de Phạm Ngọc
-
-
C̣n lời nào
-
cho nhau
trong giây phút cuối cùng
-
tiếng nấc
nghẹn ngào của em
-
vang động
cả không trung
-
Niềm đau
của anh –
-
bao la
như trời đêm
-
Những lời
trăn trối cũng lặng im
-
v́ “câu
ly biệt không thể là lời nói”
-
bao nhiêu
kỷ niệm hiện về rất vội
-
trùng
điệp như những vết rạn nứt –
-
trên cánh
đồng hoang
-
sau cơn
địa chấn
-
-
Trên
những hàng cây
-
trải dài
qua dăy phố
-
tuyết
trắng giăng đầy
-
báo hiệu
mùa Đông đă đến
-
những cơn
mưa cuối mùa
-
cũng vừa
tan biến
-
Chỉ c̣n
lại một khoảng không gian
-
bạc trắng
– già nua
-
Từ xa
-
Cánh chim
rừng lạc lối
-
gọi đàn
hoang mang
-
lao ḿnh
vào vách núi giá băng - hấp hối
-
-
Anh vẫn
hoài mong một chút nắng
-
dù rất
mong manh
-
Anh miệt
mài
-
kiếm t́m
trong vực sâu hoang vắng
-
những đam
mê không c̣n hiện hữu
-
Từ một
kiếp nào
-
em đă hóa
thân thành loài hoa vĩnh cửu
-
mà ngàn
sau vẫn tồn tại
-
trong
tiềm thức anh
-
như vết
thương không bao giờ lành lặn
-
-
Những
trăn trở
-
trong đời
sống
-
như con
thuyền trôi giạt giữa băo giông
-
chưa một
ngày biển lặng sóng yên
-
T́nh yêu
-
và hạnh
phúc
-
mà anh
hằng đeo đuổi
-
vẫn như
cơn mộng chập chờn
-
chưa bao
giờ gần gủi
-
-
Như thế
-
cuối cùng
tất cả chỉ là ảo tưởng
-
mộng và
thực
-
vẫn quấn
quyện vào nhau
-
chung một
hướng
-
Anh và em
-
mỗi người
một phương
-
cơn mộng vẫn
chơi vơi
-
và thực tại
đă thành nước mắt
-
lắng đọng
trên môi…
-
-
Phạm Ngọc
-
|
-
|
-
-
Adieux sans paroles
-
Traduit en français par
Lê Mộng Nguyên
-
-
-
Que pouvions-nous nous confier mutuellement
-
en ces derniers instants de notre séparation
-
alors que tes sanglots suffoquant d’émotion
-
résonnèrent dans le firmament
-
Ma douleur était immense
-
comme le ciel dans la nuit finissante
-
Même les ultimes mots n’ont pas été dits
-
Car « les adieux ne sauraient être exprimés en paroles »
-
tant de souvenirs en accéléré de notre vie
-
nous revinrent empilés, entassés
-
telles des empreintes fendues et ébréchées
-
laissées sur un champ désertique
-
après le passage des ondes sismiques
-
-
Sur le feuillage des arbres bien alignés
-
s’étendant tout au long des rues de la cité
-
la neige tissait sa toile immaculée
-
annonçant la venue d’un Hiver prématuré
-
en chassant les pluies de fin de saison
-
il ne restait plus qu’un coin de ciel blanc
-
reflétant l’image d’une vieillesse déclinante
-
Dans le lointain, à l’orée de la forêt
-
un oiseau sauvage se perdant, angoissé
-
poussant des cris de désarroi et alarmants
-
cherchant désespérément à retrouver sa bande
-
tout en se lançant inconsidérément
-
dans la fente de la montagne glacée, agonisant
-
-
Je continue malgré tout à espérer
-
un petit rayon de soleil même fragilisé
-
Je m’adonne dans l’abîme de mon âme errante
-
à la recherche du mirage des passions d’antan
-
Car depuis je ne sais quelle destinée
-
tu as dû te métamorphoser en fleur éternelle
-
en perdurant au travers des milliers d’années
-
dans mon subconscient et pourtant bien réelle
-
telle une blessure à jamais non cicatrisée
-
-
Les vicissitudes de la vie
-
pareilles à une barque à la dérive
-
dans la tempête, au milieu des orages terribles
-
ne connaissant pas de mer calme et paisible
-
L’amour et le bonheur
-
que j’ai toujours voulu rechercher
-
m’apparaît comme un rêve éveillé
-
et dont je n’ai jamais pu m’approcher
-
-
Ainsi va le monde
-
tout n’est finalement qu’illusion
-
le rêve et la réalité se confondant
-
dans la fidélité à notre serment
-
Toi et moi
-
chacune et chacun en sa solitude
-
et dans nos rêves aventureux en prélude
-
aux réalités fondant en larmes amères
-
perlant silencieusement sur tes lèvres…
-
-
Lê Mộng Nguyên
-
Membre de
l’Académie des Sciences d’Outre-Mer
-
|
| |
|