|
| |
- Phan Xuân Sinh,
Đứng Dưới Trời Đổ Nát
Vương Trùng Dương
“Le moi est haisable”. Hơn ba trăm năm về trước, Blaise Pascal (1623 - 1662)
để lại cho đời câu nói “cái ta - th́, là, thật - đáng ghét”. Albert Camus
(1913 - 1960) đă lặp lại lời đó và được đề cập rất nhiều trong thời hiện
đại. Paul Valéry (1871 - 1945) cho rằng cái ta đáng ghét nhưng đó là cái ta
của người khác. Ba khuôn mặt lẫy lừng trong văn học Pháp cùng nhận định khe
khắt về cái ta, không biết trước Pascal, có danh nhân nào đă nói câu đó
nhưng sau Camus th́ bắt gặp rất nhiều, đôi khi bị lạm dụng thái quá, có phần
phiến diện?.
Nh́n lại thi ca Việt Nam, cái ta trong ngôn ngữ thi ca thể hiện qua ca dao
rất nhiều, điển h́nh về cái ta với h́nh ảnh “ta tắm ao ta”, cái ta đó, chan
chứa t́nh người, gói trọn tâm tư t́nh cảm cho nhau với quê hương, đất nước.
Lăng mạn, trữ t́nh trong t́nh yêu như: “Ḿnh ơi, có nhớ ta chăng? Ta như sao
Vượt, chờ trăng giữa trời” để tỏ bày tâm sự, nỗi niềm nhớ thương như thông
điệp t́nh yêu được dàn trải tự ngh́n xưa cho đến mai sau.
Vào thế kỷ XV, Bạch Vân Cư Sĩ Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 - 1585) với vần thơ
trác tuyệt về cái ta trong bài thơ Thú Thôn Ở, cái ta trong Tự Thuật của
tiên sinh vào tuổi bát thập được truyền tụng qua bao niên kỷ. Trên thi đàn
Việt Nam, rạng rỡ với cái ta trong thơ Tản Đà, Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng,
Nguyễn Bính, Quang Dũng, Thâm Tâm... của thời tiền chiến, Tô Thùy Yên,
Nguyễn Bắc Sơn... tuyệt vời, thân thương và làm sao nhẫn tâm ghét bỏ.
Mùa Hè năm 2000, thi phẩm Đứng Dưới Trời Đổ Nát của Phan Xuân Sinh, tạp chí
Văn xuất bản, được góp mặt trong ḍng văn học lưu vong. Với Phan Xuân Sinh,
vào đầu thập niên 60, tôi đă cảm mến đôi bài thơ của anh trong tuổi học tṛ.
Trải dài những bốn thập niên, đợi vào thời điểm thiên niên kỷ mới, chào đời
tập thơ.
Đứng Dưới Trời Đổ Nát gồm năm mươi bài thơ được tuyển chọn, trong đó có bốn
mươi sáu bài với bóng dáng cái ta. Cái ta trong thơ Phan Xuân Sinh được
trang trải trong t́nh yêu, bằng hữu, cái ta với rượu, cái ta của người lính
trận trong cơn binh lửa, cái ta trong thân phận kẻ chiến bại lưu lạc phương
xa... nó tàng ẩn, bàng bạc, thoáng hiện trong cuộc sống giữa thế nhân, mang
nặng t́nh người, gắn bó với hệ lụy cuộc đời và bi kịch thời đại.
Ta, Tuổi Trẻ, T́nh Yêu
Sinh trưởng và lớn lên ở Đà Nẵng, mang tâm hồn lăng mạn ngay từ thuở học
tṛ, Phan Xuân Sinh đă si t́nh bóng h́nh thục nữ đất thần kinh:
“ta chết điếng một thời, em Thượng Tứ
bởi nụ cười, môi mỏng gái thâm cung”
(chút t́nh cho Huế)
“em đỏng đảnh treo mảnh t́nh trên giá
ta ngước nh́n thèm ứa máu chạy quanh”
(vài đoạn tứ tuyệt... mùi hương)
Ngày xưa, Nguyễn Nhược Pháp qua bài thơ Chùa Hương ghi lại thiên kư sự cô
gái đi chùa, gặp một văn nhân, tâm hồn say đắm “Em cầu xin Trời Phật. Sao
cho em lấy chàng”. Ngày nay, tuy ngoại đạo nhưng mănh lực t́nh yêu đă đưa
đẩy chàng trai:
“ta tắm gội ăn chay nằm đất
cũng chắp tay khấn vái tứ phương...
... ta cũng có đôi ba ngày tịnh khẩu
bởi v́ em tụng măi những tràng kinh”
(theo em lên chùa)
Và, thổ lộ tâm trạng của kẻ si t́nh, có lẽ đó cũng là tâm trạng của hầu hết
chàng trai khi vương vấn trong cuộc t́nh bàng bạc qua ḍng thơ:
“ta bâng khuâng đứng bên đường
xa em c̣n chút vấn vương bên ḷng”
(mờ phai)
“hai tay đưa chén ngang mày
mời em cạn chút rượu nầy cùng ta
ngồi đây, ta trải chiếu hoa
đặt đôi gối gấm để mà tựa lưng”
(mời em uống rượu)
Theo ḍng thời gian, Phan Xuân Sinh vấp phải nỗi đau thương, khổ lụy để rồi
bày tỏ qua ḍng thơ đầy ngậm ngùi, xúc động:
“mới hay đâu dễ ǵ quên được
em một thời dậy sóng đời ta
là để lại lưỡi dao oan nghiệt
cứa nát ta bằng êm ái mượt mà”
(cho người t́nh phụ)
“gặp nhau chi giữa con đường
nên lời ta đượm hàng hàng cách ngăn
em về chia nửa vầng trăng
khóc giùm ta giữa gối chăn bạc t́nh”
(gặp người xưa giữa phố Boston)
Bao nhiêu năm lang bạt kỳ hồ, bao năm đeo đuổi theo bóng h́nh với thú đau
thương. Trở về với thực tại, trở về t́nh yêu đích thực, kẽ t́nh si đành tạ
lỗi vời người bạn đời:
“một đời em tối ngày tất bật
nên yêu em ta gác chuyện ăn chơi
ngựa hoang đàng là ngựa quen đường cũ
ta hoang đàng ta chỉ biết hầm hơi...
... ta chết lặng, trách ḿnh lầm lỡ
tạ lỗi cùng em. Em thiệt dễ thương”
(ta lỗi với vợ hiền)
“em v́ ta lao ḿnh cứu rỗi
trải ḷng ra, phơi giữa đất trời...
... ta gượng dậy qua cơn bạo bịnh
đời có em. Ta thật b́nh yên”
(sớm chiều lặn lội)
Ta, Bằng Hữu, Lưu Linh
Lớn lên trong thời chiến, Phan Xuân Sinh cũng phải “Xếp bút nghiên theo
nghiệp kiếm cung” như hầu hết bằng hữu của anh trong thời chiến. Và, một
thời, chàng trai lăng mạn trong t́nh yêu và thơ văn, nổi tiếng Sĩ quan trẻ
gan ĺ của Đại đội Trinh sát thuộc Trung đoàn 51 Biệt Lập ở Quảng Nam.
“ta bao năm lửa hờn tàn rụi
chuyện đao binh như giấc chiêm bao
gặp lại bạn, ḷng ta quay quắt
chuyện xa xưa như mới thuở nào”
(gặp lại bạn ta)
Đơn vị anh nhiều lần xung trận, và anh đă nhiếu lần ngă xuống trên quê hương
với nhiều chiến tích. Trong hoàn cảnh đó, niềm vui c̣n lại trong anh với
rượu và bằng hữu.
“quanh ta, bạn bè đâu chết tiệt
chỉ thấy toàn một lũ hám danh...
... bạn hiền ta, cùng nhau nâng chén
giũ sạch bên ngoài chút hư danh”
(nói chuyện với những bạn hiền)
“ta uống cùng ta thêm cốc nữa
lừ đừ ta cất giọng say say...
... ta muốn quên đi đời hệ lụy
nhủ với ḷng ta cố gắng cười”
(lu rượu đầu xuân)
“chếnh choáng vài ly quên ráo trọi
ngủ vùi khi thiên hạ ngả nghiêng”
(trong cơn say)
“đêm nay, ta muốn say cùng bạn
chuyện bên ngoài, vất lại đằng sau”
(chén rượu, tạ ḷng bạn hiền)
Năm 1990, Phan Xuân Sinh được định cư tại Hoa Kỳ, vẫn như thuở nào, trọn đời
anh sống với bạn bè dù cuộc sống xứ người bị xô đẩy bởi nhu cầu cuộc sống.
“gặp lại bạn, ḷng ta quay quắt
chuyện xa xưa như mới thuở nào”
(gặp lại bạn ta)
“chén ruoụ đựng chút t́nh thân cũ
ta thấy đời đang dậy mùi hương
nh́n nhau hai đứa đâu c̣n trẻ
mái đầu điểm bạc chút phong sương”
(uống rượu với bạn cũ bên bờ vịnh Half Moon bay)
Đời nhà Tấn ở Trung Hoa, Lưu Linh tự Nguyễn Lăng ở Trúc Lâm suốt đời sống
phóng đăng với rượu và bằøng hữu,, tiên sinh nổi danh với bài Tửu Đức Tụng,
được lưu truyền qua bao thế kỷ. Người đời mến chuộng tiên sinh nên khi thả
hồn trong rượu, muốn làm đệ tử người xưa. Thuở c̣n đi học, Phan Xuân Sinh
rất mê bài Hồ Trường của Nguyễn Bá Trác vào thời tiền chiến. Và, h́nh như nó
đă lôi cuốn cả tâm hồn yêu thơ, con người PSX nhập cuộc qua mấy thập niên.
Ta, Chiến Chinh, Đời Lính
Đă từ lâu, trong lần gặp anh, Phan Xuân Sinh tâm sự: Trong chiến cuộc khủng
khiếp đó luôn luôn đe dọa và ám ảnh cuộc sống, đôi khi men rượu như ngọn lửa
hâm nóng bầu nhiệt huyết, đôi lúc ḥa nhập cùng đồng đội trong thời điểm tử
sinh, phó mặc tuổi trẻ với chiến chinh. V́ vậy, ḍng thơ của anh thể hiện
cuộc sống bạt mạng của người lính trận:
“dừng quân ta cũng thường ngồi nhậu
rượu đế vài ly cũng sụt sùi...
... th́ thôi, ta uống cho say đă
một chút danh rồi cũng tiêu ma”
(nhớ ngày ra quân)
“ta vẫn nằm. Trên đồi gió thổi
chim hót ban ngày, pháo dội ban đêm
em cứ chạy theo từng mốt mới
c̣n ta, uống rượu để t́m quên”
(nghe chim hót trên đồi 55)
“cái thuở ta làm tên lính trận
ôm ba lô ngồi mơ mộng một ḿnh...
...ta mang vết thương làm người si dại
những t́nh thư ta viết thật điên cuồng”
(dấu xưa)
“thôi hăy uống. Mọi chuyện bỏ lại sau
nếu có thể ta gầy thêm cuộc nhậu
bầy làm chi tṛ chơi xương máu
để đôi bên nuôi mầm mống hận thù”
(uống rượu với người lính bắc phương)
Ta Với Tiền Nhân
Nghĩ lại thân phận tuổi trẻ trong hoàn cảnh đất nước đắm ch́m trong hận thù
và lửa đạn. Anh lại nghĩ về h́nh ảnh người xưa. Lâm Chương cho rằng, nói với
người xưa là cái cớ để anh tỏ rơ cái uất của ḿnh.
“đêm nay nằm, ta lại nhớ tới ngài
gối lên nỗi đau của người thất thế”
(đêm nằm nhớ Ức Trai)
Ức Trai là bút hiệu của Nguyễn Trăi vào thế kỷ XV, thời Hậu Lê, tiên sinh là
bậc khai quốc công thần đă cùng với anh hùng đất Lam Sơn Lê Lợi, suốt mười
năm nằm gai nếm mật để kháng quân Minh, khôi phục lại sơn hà xă tắc. Trong
đỉnh vinh quang của danh vọng, tai ương tại vườn Lệ Chi đem lại thảm thương
cho tiên sinh và ḍng họ bị tru di tam tộc!.
“ta bạc đầu sao chẳng ra chi
ngài bạc đầu làm nên việc lớn...
... người với ta cùng quê người đất lạ
ta hư cả đời ngài đă thành danh”
(hầu chuyện cùng Ngũ Tử Tư)
Vào thời Chiến Quốc, Sở B́nh Vương giết thân phụ và anh của Ngũ Tử Tư nên
Ngũ Tử Tư t́m cách trốn ra kḥi nước Sở để mong ngày phục hận. Trên đường
đến cửa ải Chiêu Quan, quân Sở canh pḥng cẩn mật, trong một đêm t́m cách
vượt biên giới, tóc bạc phơ. Đông Cao Công cảm kích t́m phương kế trốn
thoát, sang nước Ngô, pḥ Hạp Lư, thôn tính nước Sở. Sau, Phù Sai lên ngôi
vua, Câu Tiễn dùng mỹ nhân kế Tây Thi, Ngũ Tử Tư can ngăn, Phù Sai nổi giận
chém đầu.
Thời Tam Quốc, Tào Tháo bỏ chạy và sau đó lập nên nghiệp dĩ. tào Tháo, Tôn
Quyền vàn Lưu Bị trang giành quyền lực, chia trung Hoa ra làm ba. Người đời
cho Tào Tháo là kẻ gian hùng nhưng PXS lại có cái nh́n ngược lại, đem ḷng
ngưỡi mộ:
“ta kẻ hậu sinh, giở lại pho sách cũ
mà khen ông đúng là bậc tài hoa
ta vỗ án thư thét lên khàn cổ
phải giải oan nầy mới thỏa được ḷng ta”
(giải oan cho Tào Tháo)
Ta, Đất Nước, T́nh Người
Trần Hoài Thư cho rằng thơ Phan Xuân Sinh ngậm ngùi như một ḍng sông cũ
mang theo những nỗi buồn của lịch sử và thân phận. Vâng, thời trai trẻ, PXS
đă theo tiếng gọi của núi sông, gán bó với quê hương, đất nước v́ vậy h́nh
ảnh ấy vẫn canh cánh bên ḷng. PXS mang trong ḷng niềm đau trên đất khách:
“ta khách lạ lạc xứ người
manh hồn phương đông, văn vật”
(Chào New Orleans)
“ta một ḿnh cuối băi
lơ láo, kẻ cùng đường...
đứng giữa triền vực thẳm
ta thành đứa khùng điên”
(giữa đất trời, vật vă)
“đứng giữa ḷng phố thị
ta làm tên thất thời...
,,, ta gian truân thấm mệt
khoanh tay nh́n t́nh trôi”
(bên kia nỗi nhớ)
Có lẽ, tâm trạng của PXS cũng là tâm trạng chung của nhiều người đă một thời
sinh tử, gắn bó với quê hương. Ở đó, với bao hệ lụy, kỷ niệm buồn vui đă in
đậm trong tâm tưởng.
“đứng bên bờ ta thử làm tráng sĩ
cứ nh́n theo người bước qua sông...
... ta chỉ biết ngó về sông nước cũ
t́nh đă sang cổ lụy mấy ai ghi”
(muộn màng)
“có một cái ǵ xôn xao rất lạ
để hồn ta bay theo lá vu vơ”
(lời tỏ bày cùng quê nhà)
“những tiếng kêu như xé nát ḷng ta
thốn tận tim gan như lời trách móc
ta nghe như tiếng ai đang khóc
đầu ta dău như ai bửa làm đôi”
(quê nhà lũ lụt)
Qua bao năm xa cách, trở về cố hương, trở về nơi chôn rau cắt rốn, PXS vẫn
như thuở nào với cảnh cũ người xưa.
“bao năm ta trở về chốn cũ
ngồi bên sông chờ chuyến đ̣ qua
cây với ta một màu ủ rủ
người có hay ta lệ nhạt nḥa”
(bên sông nhớ người)
“ta cùng nhau uống giếng nầy
h́nh như giếng cũng mang đầy nhớ thương”
(bài lục bát cho Đà Nẵng)
“ta thèm chiếc xe trâu, thủng thẳng
trên đường làng ngất ngưởng chiều về”
(người lữ hành, lỡ chuyến tàu năm hai ngh́n).
Kết
Qua năm mươi bài thơ được chọn lọc trong bốn thập niên với thi phẩm Đứng
Dưới Trời Đổ Nát, cái Ta của Phan Xuân Sinh là nỗi niềm, tâm sự, khắc khoải,
yêu thương... và hoài niệm trong t́nh bạn, t́nh yêu, quê hương.
Phan Xuân Sinh làm thơ vào đầu thập niên 60. Bài thơ đầu tiên Chiều Công
Viên xuất hiện trên tuần báo Nắng Mới vào năm 1962. Và, trong năm đó anh
được giải thưởng về thơ do Ty Thông tin Đà Nẵng tổ chức. Anh có vài bút
hiệu, và cuối cùng trở về với tên tuổi bản thân.
Là bằng hữu, đọc lại từng bài thơ của anh, bao nhiêu kỷ niệm hiện về. Với
thơ, với rượu, với bằng hữu, tha nhân... được dàn trải trong ngôn ngữ thi ca
rất thật và sinh động.
Nếu có lần nào, ngồi bên Phan Xuân Sinh, uống rượu, nghe âm điệu trầm khuất
qua giọng ngâm của anh, nhỡ có say cũng “cạn chén hồ trường”.
Vương Trùng Dương
| |
|