|
| |
-
T̀NH SỬ PHƯỢNG CẦU HOÀNG
-
Vương Trùng Dương
-
-
-
“Phượng hề, phượng hề quy cố hương
-
Chu du tứ
hải cầu kỳ hoàng”.
-
-
Nghệ thuật có mối liên hệ mật thiết, gắn
liền với cuộc sống. Là chất liệu, hồn và xác, hương hoa và thể phách;
và, ngược lại. Trong thế giới nghệ thuật, âm nhạc như người bạn đồng
hành với con người từ lúc sinh ra đến khi vĩnh biệt cơi đời. Âm nhạc
có tác dụng mănh liệt, có sức lôi cuốn kỳ lạ, chất chứa đam mê đầy
quyến rũ trong tâm hồn theo từng trạng thái hỉ, nộ, ái, ố... biến
thiên theo hệ lụy cuộc sống.
-
Ngôn ngữ của âm nhạc rất đơn giản nhưng
biến thành ngôn ngữ vô cùng đa dạng, phong phú, vi diệu. Đó cũng là
ngôn ngữ chung của nhân loại, không c̣n không gian, thời gian, không
c̣n phái tính, tuổi tác... cho cả lúc tỉnh lúc mê, cho cả cảm nhận của
kẻ chính người tà. Ngôn ngữ âm nhạc là ngôn ngữ chung của con người,
không có biên cương, bất luận thời gian... cảm nhận, thưởng thức, rung
cảm theo từng giai điệu, cung bậc.
-
Nhà văn Kim Dung trong toàn bộ tiểu thuyết
kiếm hiệp từ “Thư Kiếm Ân Cừu Lục” đến “Lộc Đỉnh Kư”... đă đề cập âm
nhạc trở thành “vơ hiệp kỳ t́nh” trong thế giới vơ lâm. Những tay kiếm
khách thượng thừa trong chốn vơ lâm đă xử dụng nhạc khí như vơ công
tuyệt kỷ chấn động giang hồ. Cây đàn của Côn Luân tam thánh Hà Túc Đạo
với “Không Sơn Điều Ngữ” khiến cả chim muôn nhập vào cung bậc, ngọc
tiêu của Đông tà Hoàng Dược Sư, đảo chủ Đào Hoa, tiếng đàn của Tây độc
Âu Dương Phong trong “Đàn Chỉ Thần Thông”, khúc “Đại Giang Đông
Khứ”... làm đảo điên quần hùng, gây chấn động vơ lâm. Tiếng đàn tranh
của Âu Dương Phong đă làm cho Hoàng Dược Sư khốn đốn. Mạc Đại tiên
sinh, chưởng môn phái Hành Sơn, con người phiêu lăng, ngao du đây đó
với cây dao cầm và nổi danh vơ lâm với khúc “Tiêu Tương Dạ Vũ”. Trong
đáy cây dao cầm được giấu lưỡi kiếm nhỏ, thật mỏng; khi Mạc Đại rút
kiếm, kiếm khí vô cùng lợi hại làm vơ lâm khiếp đởm nên được xưng tụng
“cầm trung tàn kiếm, kiếm phát cầm âm”. Cây dao cầm của nhân vật quái
dị Khang Quảng Lăng với tiếng đàn hư hư thực thực, điên đảo quần
hùng.
-
Tác phẩm “Tiếu Ngạo Giang Hồ” làm mê say
hàng triệu người trên thế giới, được dựng thành phim rất ăn khách đă
dùng âm nhạc làm đề tài cho “vơ hiệp kỳ t́nh”. Lưu Chính Phong là sư
đệ của Tiêu Tương Dạ Vũ Mạc Đại tiên sinh, chánh đạo & Khúc Dương,
trưởng lăo Ma giáo, cao thủ của Triêu Dương thần giáo, hắc đạo - kẻ
thù truyền kiếp - đem dao cầm và tiêu phổ tạo thành khúc nhạc Tiếu
Ngạo Giang Hồ. Khúc Dương với thiết cầm, Lưu Chính Phong với tiêu phổ
cùng song tấu, đem vi diệu của âm nhạc vào cơi mộng và thực cuộc đời.
Tiếu Ngạo Giang Hồ được phóng tác từ âm điệu cổ xưa do hai nhạc cụ sáo
& đàn phối hợp tuyệt diệu, ḥa điệu với thiên nhiên “thanh phong minh
nguyệt”.
-
Lưu Chính Phong & Triêu Dương đă phá vỡ,
bất chấp luật lệ phân chia trong giới giang hồ khi dùng âm nhạc để hóa
giải biên giới nên bị thảm bại theo truyền thống cố chấp của giới vơ
lâm.
-
Tiếu Ngạo Giang Hồ tái xuất giang hồ với
đôi trai tài gái sắc: Lệnh Hồ Xung phái Hoa Sơn & thánh cô Nhậm Doanh
Doanh, ái nữ của Nhậm Ngă Hành, giáo chủ Triêu Dương thần giáo. Cuộc
tao ngộ bất ngờ giữa chàng trai phiêu bạt với giai nhân nơi ngơ Lục
Trúc đưa đến mối t́nh ngang trái giữa bạch đạo và hắc đạo qua âm nhạc.
Khúc “Tiếu Ngạo Giang Hồ” trở thành vơ công tuyệt kỷ, huyền diệu,
huyễn hoặc, kỳ bí... gây kinh thiện động địa trong chốn vơ lâm. Trên
ba ngh́n anh hùng hảo hán, vơ nghệ đầy ḿnh, vơ công xuất chúng đang
vây hăm Lệnh Hồ Xung để bỡn cợt bỗng tái mặt kinh hoàng, tuôn nhau đào
thoát khi nghe thoang thoảng tiếng nhạc của thánh cô làm xiêu hồn bạt
vía. Hợp tấu cầm tiêu với Lệnh Hồ Xung & Nhậm Doanh Doanh, với âm
nhạc, với t́nh yêu, với tuyệt kỷ vơ học đă làm mê hoặc con người qua
“Tiếu Ngạo Giang Hồ”. Cảm nhận ảnh hưởng từ cung bậc và nhân vật vào
thời xa xưa, trước công nguyên để nói lên cái uyên nguyên, huyền nhiệm
của âm nhạc, hư cấu thành “tác phẩm nghệ thuật” trong thế giới vơ lâm,
âm điệu cổ xưa đó, thấp thoáng bóng dáng của “Phượng Cầu Hoàng”.
-
Tương truyền rằng, vào thời Xuân Thu
(722-481 trước công nguyên), Tiêu Sử được Ngọc Hoàng ban cho ống tiêu
bằng ngọc; tiếng tiêu tựa hồ tiếng phụng hoàng tung mây lướt gió vừa
gáy vừa vũ điệu. Khi Tiêu Sử thổi, mây ngũ sắc hiện lên, nhấp nhô,
bồng bềnh, chim chóc bốn phương bay đến múa lượn cùng cất tiếng hót
chung quanh núi rừng như thiên đường huyền ảo.
-
Lộng Ngọc, con gái vua Tần Mục Công, nhan
sắc diễm ảo, có tài nghệ thổi ống sanh. Nhà vua mở cuộc tuyển chọn Pḥ
mă nhưng Lộng ngọc chưa có đối tượng vừa ư. Tiêu Sử hạ san, đến chốn
cung đ́nh trổ tài nghệ thổi tiêu, cả triều đ́nh nhẫn ngơ, Lộng Ngọc
say đắm. Nhà vua đúng ra kết duyên Lộng Ngọc cho Tiêu Sử. Tiêu Sử dạy
cho Lộng Ngọc thổi tiêu, trong ṿng nửa năm Lộng Ngọc đă thổi điêu
luyện khúc “Phượng Hoàng”. Khi hai vợ chồng ḥa với nhau khiến cho
chim muông, sinh vật lạc văo cơi âm thanh huyền diệu.
-
Rồi một đêm trăng thanh gió mát, hai vợ
chồng cảm hứng đem tiêu & sanh ra họa khúc “Phượng Hoàng”, âm thanh
thánh thót, cao vút... bay tận trời xanh. Có con xích long & con tử
phụng bay xuống. Tiêu Sử cỡi xích long, Lộng Ngọc cỡi tử phụng bay
thẳng lên chốn bồng lai tiên cảnh.
-
Nhà Tiền Hán ở Trung Hoa được h́nh thành
khi Lưu Bang lên ngôi Hoàng đế năm 202 trước công nguyên - Cao tổ nhà
Hán - dựng nên cơ nghiệp nhà Hán. Theo “Trung Quốc Sử Cương”, Hán Vơ
Đế là bậc hùng tài, sùng nho học, ưa thần tiên... v́ vậy “Vua Vơ đế
lập nhạc phủ, lượm những câu ca của các nước Triệu, Đại, Tần, Sở, sai
Lư Diên Nhiên hiệp luật, Tư Mă Tương Như đặt lời, thể nhạc phủ ra đời
từ đó”. Trước đó, nhă nhạc chỉ dùng trong các điển lễ của Triều đ́nh
rất được tôn sùng nhưng đến đời Hán bị mất dần ảnh hưởng. “Nhạc Phủ là
bài ca phổ vào nhạc, có 2 loại: loại 5 chữ & loại 7 chữ. Loại 5 chữ
chịu ảnh hưởng của Kinh Thi; loại 7 chữ chịu ảnh hưởng của Sở Từ.
Trong nhạc phủ, thơ đời Hán đă có nhiều bài miêu tả rơ ràng, có nghệ
thuật, và nhiều bài dân ca giọng mộc mạc, nhưng cảm động” (TQSC). Hán
Vũ Đế có công thành lập cơ quan âm nhạc gọi là nhạc phủ để sưu tầm thi
ca, ca dao đem ra phổ nhạc; danh xưng nhạc phủ h́nh thành từ đó.
-
Trong triều đại đó, ở đất Lâm Cùng, Thành
Đô, nước Thục, nay là Tứ Xuyên, có chàng Tương Như tự Tràng Khanh,
sinh năm 179, mất năm 117 trước công nguyên. Thuở nhỏ nhà nghèo, tư
chất thông minh, giỏi thi phú, có ngón đàn tuyệt diệu, giỏi vơ nghệ
nhưng lận đận trên bước đường công danh. Ông có tên là Khuyển Tử, lớn
lên đọc sách, yêu văn chương, thích hào khí của Lạn Tương Như thời
Chiến Quốc nên lấy tên là Tương Như.
-
Khi dấn thân, Tương Như chỉ giữ chức quan
nhỏ nên chán nản, bỏ chức, ngao du sang nước Lương giao tiếp với nhiều
văn nhân nổi tiếng thời gian rồi trở lại đất Thục. Nhờ giỏi thi phú và
có ngón đàn tuyệt diệu nên Tương Như được giới quan lại, quư tộc đón
tiếp; trong đó có quan huyện Lâm Cùng là Vương Cát, cũng là ân nhân
của Tương Như lúc khốn cùng. Vương Cát để Tương Như ở Đô Đ́nh, chiêu
đăi Tương Như như vị khách quư nên bóng dáng chàng lọt vào mắt nhà đại
quư tộc Trác Vương Tôn. Trác vương Tôn có người con gái là Trác Văn
Quân, tuyệt sắc giai nhân, giỏi thi phú, tuổi vừa mười tám nhưng đă
góa chồng.
-
Một đêm đẹp trời, Trác Vương Tôn mời Vương
Cát & Tương Như đến nhà dự tiệc. Vương Cát hiểu được dụng ư nên tỏ ra
tâng bốc Tương Như, khi hơi men đă thấm Vương Cát đem đàn ra để ḥa
nhập thú vui tao nhă “cầm kỳ thi tửu” trong khung cảnh cao sang nhà
quư tộc. Theo sự yêu cầu, Tương Như cầm đàn hậu tạ.
-
Tương Như nhờ cây ỷ cầm, gảy khúc “Phượng
Cầu Hoàng”. Không gian như lắng đọng, thời gian như ngừng trôi, tiếng
đàn réo rắt d́u dặt, du dương, trầm bỗng... lôi cuốn tâm hồn phiêu
lăng vào cơi mộng mơ.
-
“Phương ơi! Phượng ơi! Hăy bay về làng cũ
đi thôi, bao nhiêu năm ngao du bốn bể, mỏi cánh chim bằng t́m h́nh
bóng chim hoàng, ḷng mang nặng sầu vương. Nơi đây có bóng dáng mỹ
nhân, tuy cùng chung trong gan tấc nhưng lại xa xăm, ḷng nầy héo ruột
héo gan! Làm sao cho phượng gặp gỡ hoàng! Xin nguyện làm đôi chim ương
bay măi tận trời xanh...”.
-
Trác Văn Quân núp sau rèm, đắm say từng
cung bậc, say mê, cảm mến, tâm hồn ngất ngây theo khúc nhạc du dương.
H́nh ảnh Tương Như đă ngự trị trong trái tim nàng.
-
Dư âm tiếng đàn réo gọi, con tim thôi
thúc, ngay trong đêm đó Trác Văn Quân, trốn nhà, lẻn sang Đô Đ́nh để
theo Tương Như.
-
Trác Vương Tôn thấy con gái bỏ nhà theo
trai nên vô cùng giận giữ. Trong thời điểm đó, cả là sự sỉ nhục. Biết
được Tương Như chỉ là nghệ sĩ lăng du “vô công rỗi việc”, sau thời
gian lang bạt, “quy cố hương”, tá túc nhà Vương Cát để nương thân.
Trác Vương Tôn giận giữ, không cho tiền bạc, không cho nương tựa để
“loan” theo tiếng gọi t́nh yêu của “phượng” chịu cảnh khổ đau trong
nghèo túng.
-
Tương Như & Văn Quân phải bán những vật
dụng cần thiết để sống. Đôi t́nh nhân trở lại Lâm Cùng, mở quán rượu ở
chợ để độ nhật qua ngày. Ván bài “thấu cáy” được hiệu nghiệm, nhà đại
phú gia bị bẽ mặt và không muốn hàng ngày bị h́nh ảnh nầy ám ảnh nên
đành chia sớt tài sản để xây tổ uyên ương.
-
Trác Vương Tôn chu cấp cho Tương Như & Văn
Quân cả trăm vạn quan tiền, trăm nô tỳ và tài sản của nàng khi lập gia
đ́nh, cho tổ chức đám cưới. Vợ chồng trở lại Thành Đô mua sắm dinh
thự, sống cuộc đời vương giả...
-
Thời gian đôi vợ chồng trẻ Tương Như & Văn
Quân sống êm đềm thơ phú, rượu bầu, cầm ca rất đẹp duyên lứa đôi.
Tương Như c̣n có tài làm phú - một thể văn có vần, điệu xen lẫn nhau,
văn xuôi có vần, miêu tả trực tiếp - rất thịnh hành thời ấy.

-
Hán Vũ Đế biết tài, mời về kinh tham
chính. Tương Như có công trong việc thu phục nhân tâm ở đất Thục theo
nhà Hán, được ban khen bổng lộc triều đ́nh. Trong các chức vị Tương
Như được vua ban, chức Tư Mă rất phù hợp với danh xưng ông thích nên
được gọi Tư Mă Tương Như. Sau nầy, thi hào Bạch Cư Dị đời nhà Đường,
từng giữ chức Thượng thư Bộ H́nh. Khi làm quan chức Tả Thập Di, bị
biếm chức làm Tư Mă ở Giang Châu, trong 30 năm làm quan, nhà thơ Bạch
Cư Dị lại thích tước vị Tư Mă nên người đời gọi ông là Tư Mă Giang
Châu để nói lên h́nh ảnh văn nhân hào hoa phong nhă, nghệ sĩ tài hoa
giang hồ, xem công danh nhẹ tựa gió thoảng mây bay.
-
Sống trong bổng lộc, phú quư, ăn chơi...
Tương Như sinh tật. Tương Như được nhiều người đẹp ngưỡng mộ nên nỗi
máu phong t́nh, phóng đăng giao du. Khi mê si người đẹp đất Mậu Lăng,
Tương Như muốn đem về làm hầu thiếp để chăn gối. Văn Quân cũng rành về
thơ phú, đau khổ cho t́nh lang “thả mồi bắt bóng”, nàng viết khúc
“Bạch Đầu Ngâm” bày tỏ nỗi sầu bi ai oán khi chứng kiến người t́nh “ăn
ở hai ḷng, khi bên nhau chuốc rượu, lúc lai văng nơi kia” rồi gửi
niềm tâm sự:
-
“Mong sao người một dạ
-
Bạc đầu măi bên nhau”.
-
Khúc “Bạch Đầu Ngâm” làm cho Tương Như
thức tỉnh cơn mê, chàng dứt bỏ mối t́nh si, sống trọn vẹn với h́nh ảnh
người t́nh trăm năm Văn Quân như h́nh bóng phượng hoàng giữa trời xanh
mây thẳm.
-
Trải qua hàng ngh́n năm lưu truyền t́nh sử
đó, cuộc t́nh Tư Mă - Văn Quan đă đi vào văn học Việt Nam.
-
Trong “Bích Câu Kỳ Ngộ” đă đề cập đến con
tim của đôi t́nh nhân Tú Uyên say đắm Giáng Kiều cho đến khi chiếm
đọat được trái tim rồi quay lưng bạc đăi:
-
“Cầu hoàng tay lựa nên vần,
-
“Tương Như ḷng ấy, Văn Quân ḷng nào”
-
Thi hào Nguyễn Du rất tài t́nh khi nói về
tiếng đàn của Thúy Kiều như lúc gặp Kim Trọng:
-
“Khúc đâu Tư Mă phượng cầu
-
Nghe ra như oán, như sầu phải chăng?”.
-
T́nh yêu & định mệnh, hạnh phúc & khổ đau
từ ngh́n xưa đến nay được thoáng hiện trong bóng dáng “Phượng Cầu
Hoàng”.
-
"Phượng cầu dù tựa nên cung
-
Ngón cầm biết gảy được ḷng hay chăng?"
-
(Hoa
Tiên)
-
Ca khúc “Tà Áo Văn Quân” của Phạm Duy
Nhượng vào thời tiền chiến đă nói về h́nh ảnh Tư Mă, Văn Quân &
Phượng, Hoàng:
-
“Tư Mă người ơi! đừng đàn bên Văn Quân.
-
Nâng phím hào hoa kề làn môi giai nhân.
-
Về nhà bên suối, cung đàn áp má đào.
-
Mộng chưa tàn khúc Phượng Cầu lưu luyến
nhau.
-
Phượng ơi đàn vắng; t́m chim Hoàng nơi
nao”.
-
Năm 1964, khúc “Phượng Vũ” với nghệ thuật
sáng tác của Nguyễn Đ́nh Nghĩa dựa vào giàn nhạc Bát Aâm ở cung đ́nh
Huế qua tiếng sáo điêu luyện được tŕnh diễn ở trong nước và hải ngoại
đă làm vang bóng, giới thưởng thức say mê, ái mộ. Nghe “Phượng Vũ”,
h́nh dung được h́nh ảnh phượng hoàng đập cánh, x̣e cánh...lúc rỉa
đuôi, giủ đuôi, cụp, x̣e, quay, múa... nhặt, khoan theo từng vũ điệu.
-
-
II
-
-
Phụng Hoàng, Phượng Hoàng là một trong tứ
linh: Long, Lân, Quy, Phượng. Khi gọi “Long Phụng...”, long tượng
trưng cho nam giới, hùng mạnh, cứng cỏi; phụng tượng trưng cho nữ
giới, thướt tha, uyển chuyển. Bên cạnh chữ “Song Hỷ”, h́nh ảnh phượng
x̣e, rồng uốn khúc, cuộn mây được gọi “Long Vân Tế Hội”. Trên mũ, áo
hoàng đế trang trí h́nh rồng; trên mũ, áo hoàng hậu trang trí h́nh
phụng hoàng. Trên cung điện và ở trong nhiều công tŕnh kiến trúc thơi
xưa đều được chạm trổ, vẽ h́nh ảnh long, phụng như biểu tượng cao quư,
uy quyền, mỹ thuật, thanh tao.

-
Khi chữ viết bay bướm, linh động, có
thần, đẹp tuyệt vời - điển h́nh như chữ Hán - dùng thành ngữ "Phụng
bay rồng múa" để diễn tả nét bút độc đáo của nó.
-
Trong tứ linh đó, phượng c̣n đi với lân,
đi vào văn học để biểu lộ sự tương hợp, cùng dong dơi quyền quư với
nhau:
-
"Đồng hàng lông phượng gót lân
-
Ḱa nhà ngũ quế, nọ sân bát đồng"
-
(Nhị Độ Mai)
-
Vào triều Nguyễn, h́nh ảnh rồng danh cho
nhà vua; hoàng thái hậu, hoàng hậu, công chúa với h́nh chim phụng
hoàng trên áo mũ màu vàng, màu đỏ và cung tần được chia ra làm 3 loại
theo thứ bậc cao thấp, thêu 5, 3 và 1 con phượng trên mũ. Áo sa sợi tơ
màu đỏ, màu tía và màu trắng cũng tùy theo thứ basc cao thấp dệt h́nh
con loan.
-
Phượng hoàng là linh vật, phượng là chim
trống, hoàng là chim mái, c̣n gọi là loan.
-
Vào thời Hán Vũ Đế, máu chim loan được
dùng làm keo nối dây cung, dây đàn, rất chắc, bền. Giao là keo, v́ vậy
có câu "An đắc giao loan tục đoạn huyền" (Ước ǵ có keo loan để nối
giây đàn đứt). Thi hào Nguyễn Du đề cập qua ḍng thơ:
-
"Giữa đường đứt gánh tương tư,
-
Giao loan chắp nối, tơ thừa mặc em"
-
(Kiều)
-
H́nh ảnh phụng loan tượng trưng cho điều
lành, tốt đẹp, bền vững bên nhau, v́ vậy, khi chúc mừng cho đôi uyên
ương được nên duyên tốt đẹp, dùng “Loan Phụng Ḥa Minh” để bầy tỏ
duyên tơ thắm thiết vợ chồng.
-
Trong thi ca việt Nam đă đề cập đến h́nh
ảnh giữa phụng và loan:
-
“Sẵn sàng phượng liễn loan nghi,
-
Hoa quan giấp giới, hà y rỡ ràng”
-
(Kiều)
-
“Nào người phượng chạ loan chung,
-
Nào người tiếc lục tham hồng là ai”
-
(Kiều)
-
Ca dao Việt Nam có câu:
-
"Phụng với loan hai đàng phân rẽ
-
Qua với nàng chẳng lẽ phân nhau".
-
“Loan ôm lấy phụng, phụng bồng lấy loan”
-
Mối t́nh đầy lăng mạn, thơ mộng của Phan
Tất Chánh & Trần Kiều Liên từ thời Tống Tĩnh Khang ở Trung Hoa thời xa
xưa được viết qua truyện thơ nôm “Phan Trần” đi vào văn học Việt Nam,
ghi lại h́nh ảnh đôi kẻ t́nh si lúc hội ngộ:
-
"Vũ môn mừng đă đến tuần
-
Phượng loan rày gặp, phong vân phải t́m”.
-
(Phan
Trần)
-
Vào tiền bán thế kỷ XX, nhà thơ Tản Đà có
bài thơ chúc mừng tân hôn:
-
"Mừng ai gối phượng, chân loan
-
Khuyên ai gánh lấy giang san nhà chồng
-
Chúc ai tay bế tay bồng
-
Con tiên rồi lại cháu Rồng về sau"
-
Khi mối t́nh găy đỗ, nhẹ nhàng mượn h́nh
bóng “phụng loan chếch cánh” cho có vẽ nhẹ nhàng, văn chương. Khi trai
và gái chưa thành hôn mà sống chung chạ với nhau, người xưa đă gọi
"phượng chạ loan chung". Và, bày tỏ t́nh cảnh vợ chồng ngăn cách, vợ
một nơi, chồng một ngă: "loan phiêu phụng bạc"
-
Loan giá: xe của vua đi. Loan dư: kiệu
của vua đi. Loan tường phụng chủ: chữ viết sinh động như loan liệng
phụng bay. Phượng cái: lọng của vua có thêu h́nh chim phượng. Phượng
chiếu: tờ chiếu của vua có vẽ h́nh chim phượng. Phượng kỳ: nghi
trượng của vua. . .
-
Theo GS Thái Văn Kiểm, nhà điểu học Nhật
Bản Hachisuka quả quyết chim trĩ cũng giống như chim phụng hoàng.
Phụng hoàng co đuôi dài chấm nhăn khá nhiều, vừa giống chim trĩ, vừa
giống chim công, Tay gọi là Faisan ocelle', Faisan argus; tên La tinh
là Argusianus Argus…... Chim loan (chim mái) có lông ngũ sắc nhưng sắc
xanh óng ánh nhiều hơn, c̣n chim phụng cũng lông ngũ sắc nhưng màu đỏ
tía nhiều hơn.
-
Phượng hoàng luôn luôn sát cánh bên nhau
vượt đại dương, núi rừng, thảo nguyên bát ngát, bay tận trời xanh, cỡi
mây, lướt gió.
-
Trong khoảng bốn trăm loài chim, phụng
hoàng được xem như chúa tể. Ăn quả trúc, uống nước suối trong. Vào
thời xa xưa, phụng hoàng vượt núi rừng, biển cả về núi Côn Luân, uống
nước suối Để Trụ, tắm nước Nhược Thủy, phơi nắng trên đỉnh Đơn Tuyệt.
Khi bay có nhiều giống chim khác bay theo tháp tùng. Khi hót, hàng
trăm loài chim cùng cất theo, ḥa thành bản đại hợp tấu với muôn ngh́n
âm điệu. Phụng hoàng thân cao, dáng vẻ thanh nhă, mầu sắc lộng lẫy. Mỏ
như mỏ gà trống, trên mỏ có mồng, cổ như cổ rắn, lưng tựa rùa, lông
mầu ngũ sắc, đuôi sặc sở như đuôi công, xếp lại như đuôi cá.
-
Ngày xưa, vua Phục Hy đời thượng cổ, thấy
chim Phụng Hoàng đậu trên cây ngô đồng, nhà vua cho hạ cây ngô đồng,
cưa làm 3 khúc. Nhà vua cho người thử, khúc ngọn phát ra tiếng trong,
khúc gốc tiếng đục, khúc giữa phát ra chuổi âm điệu từ trong đến đục.
Nhà vua cho ngâm khúc giữa vào ḍng nước chảy 72 ngày rồi giao cho Lưu
Tử Kỳ đẽo thành cây đàn, gồm 13 phím, 5 giây (Cung, Thương, Giốc, Chủy
Vũ), đặt tên là Diêu Cầm. Đời Văn Vương, Vơ Vương thêm hai giây (Văn,
Vơ). Một loại cây thông thường được Phụng Hoàng đậu đă trở thành danh
mộc, khai sinh ra loại đàn. Trong thơ cổ có câu: “Phục Hy chế tác lễ
nghi”, cây Diêu Cầm là h́nh ảnh đầu tiên cho lễ nhạc.
-
Vào thời Xuân Thu, Kính Trọng công thành
danh toại nhưng quá thận trọng về đường t́nh duyên và khi bói được quẻ
"Phụng Hoàng" mới chọn người phối ngẫu.
-
H́nh ảnh phượng hoàng trở thành điển tích
,như huyền thoại và được dè cập trong văn học cho lương duyên cuộc
t́nh:
-
"Phượng bay bốn bể cầu hoàng
-
Giai nhân chẳng ở đông sàng th́ đâu"
-
(Tây Sương Kư)
-
"Nước trong xanh lơ lửng con cá vàng
-
Cây ngô cành bích con chim phượng hoàng nó
đậu cao.
-
Anh tiếc cho em phận gái má đào
-
Tham đồng bạc trắng mới gán ḿnh vào lấy
chú Tây đen"
-
(Tản Đà)
-
“Thơ mừng kính có lời trân trọng,
-
Gia thất ḥa vui tiếng phượng hoàng”
-
(Đông Hồ)
-
“Phượng cầu dù lựa nên cung
-
Ngọn cầm biết gẩy được ḷng hay chăng”
-
(Nguyễn Thiện - danh sĩ đời Lê - cháu
Nguyễn Du)
-
“Phượng bay bốn bể cầu hoàng
-
Giai nhân chẳng ở đông trường th́ đâu”
-
(Tây
Sương)
-
"Công danh chờ thử xuân sang
-
Thế nào rồi sẽ phượng hoàng rủ nhau"
-
(Phan
Trần)
-
Ca dao Việt Nam đă đề cập đến duyên nợ
trời cho:
-
“Thiên duyên kỳ ngộ gặp chàng
-
Khác ǵ như thể phượng, hoàng gặp nhau”.
-
Tuy phượng hoàng là h́nh tượng rất phổ
biến từ chốn cung đ́nh đến sinh hoạt văn hóa nhưng h́nh ảnh đó được
phát họa trong óc tưởng tượng về linh vật từ ngàn xưa cho tới nay với
bao truyền thuyết.
-
Đời nhà Đường, Vơ Tắc Thiên phát họa lại
đồ án từ thời Thái Tông và Cao Tổ xây cất điện Minh Đường. Vơ Tắc
Thiên giao phó cho t́nh lang Tiết Hoài Nghĩa sai nho sĩ phái Bắc Môn
vẽ kiểu, dùng địa điểm bên trong Nam Môn của hoàng cung ở Lạc Dương.
Điện Minh Đường hoàn thành năm 688, cao 100 mét, gồm 3 tầng, rộng 100
mét vuông. Trên nóc điện với h́nh ảnh con phượng hoàng làm bằng sắt mạ
vàng, cao 3 mét, biểu tượng của Vơ hậu. Không đứng vững được bao lâu
v́ bị điện Minh Đường bị đốt cháy, không c̣n di tích bóng phượng
hoàng.
-
Vào thời Tây Sơn (1788-1802) tháng 10 năm
1788 Nguyễn Huệ ban chiếu chọn Vinh xây dựng kinh đô. Phụng Hoàng
Trung Đô, giữa nứi Dũng Quyết và núi Kỳ Lân, dưới sự chỉ huy của La
Sơn Phu Tử và Trấn thủ Nghệ An Nguyễn Thận, đó là kinh đô thứ năm sau
kinh đô Văn Lang ở Việt Tŕ, kinh đô Cổ Loa (Hà Nội), kinh đô Hoa Lư
ở Ninh B́nh, kinh đô Thăng Long.
-
Thi hào Nguyễn Du, trên đường lai kinh vào
năm 1804, sáng tác bài thơ "Phượng Hoàng Thượng Lộ Tảo Hành" mô tả
cảnh tượng xa xăm, đêm xuống sắc trời mờ mờ, nghe tiếng vượn hú, thấy
dâu chân cọp, ngủ đưởng gặp tiều phu, thương nhau tuy không cùng cảnh
ngộ: "Chinh phu hoài văng lộ, Dạ sắc thượng mông mông, Nguyệt lạc viên
thanh ngoại, Nhân hành hổ tích trung..."
-
Có vài địa danh mang tên phụng hoàng như
đảo Phụng Hoàng dùng làm nơi phát tuyến đài Tự Do thời Việt Nam Cộng
Ḥa, núi Phượng Hoàng ở Pleiku nhưng nơi nầy không có bóng dáng loài
chim trĩ, phượng hoàng.
-
Trong tem thơ Việt Nam Cộng Ḥa có tem
thư với đề tài "Chim Phượng Hoàng Đang Bay" do họa sĩ Nguyễn Thanh Thu
vẽ, ngày phát hành 7 tháng 9 năm 1955, màu tím, đỏ giá 4$00.
-
Âm nhạc Trung Hoa h́nh thành từ Linh Luân,
Hậu Quỳ; đời Ngũ Đế, Tam Vương, âm nhạc trở thành lễ nghi trong cung
đ́nh; đời Xuân Thu nổi danh với Sư Khoáng tinh thông âm pháp đưa âm
nhạc đến mức vi diệu, cao siêu. Và, Tư Mă Tương Như đời Hán với khúc
“Phượng Cầu Hoàng” trở thành bất tử, lưu truyền hậu thế.
-
Tố Như tiên sinh trong thi phẩm “Kiều” đă
đề cập về âm nhạc Trung Hoa cũng như Đông phương:
-
“Cung thương lầu bậc ngũ âm... Lọt tai
nghe suốt năm cung”.
-
Ngôn ngữ, âm giai của âm nhạc Đông phương
chỉ có ngũ âm - năm bậc, năm cung: Cung, Thương, Dốc, Thủy, Vũ (Cống,
Xừ, Xang, Xế, Líu) nhưng cũng được biến hóa muôn sắc, muôn âm, rất
phong phú và huyền diệu. Theo Lê Qúy Đôn trong Vân Đài Loại Ngữ : "Lấy
hoàng chung làm cung, lấy lâm chung làm chủy, lấy thái tấu làm
thương, nam lă làm vũ, cô tiến làm giốc, ứng chung làm biến cung, sanh
tan làm biến chủy. Đấy là thất luật để làm đờn cho thanh âm điều ḥa .
. . ".
-
Nhạc khí Đông phương gồm đàn, sáo, nhị...
Riêng sáo, có đến 6 loại, tên gọi khác nhau tùy theo thổi ngang, thổi
dọc, không và có lưỡi gà, 2 ỗ, 6 lỗ, 7 lỗ, chín lỗ...: Tiêu, Địch,
Hoàng, Quản, Tŕ, Huân.
-
Năm 1964, khúc “Phượng Vũ” với nghệ thuật
sáng tác của Nguyễn Đ́nh Nghĩa dựa vào giàn nhạc Bát Aâm ở cung đ́nh
Huế qua tiếng sáo điêu luyện được tŕnh diễn ở trong nước và hải ngoại
đă làm vang bóng, giới thưởng thức say mê, ái mộ. Nghe “Phượng Vũ”,
h́nh dung được h́nh ảnh phượng hoàng đập cánh, x̣e cánh...lúc rỉa
đuôi, giủ đuôi, cụp, x̣e, quay, múa... nhặt, khoan theo từng vũ điệu.
-
Qua năm tháng, qua bao biến thiên, vật
đổi sao dời, khúc “Phượng Cầu Hoàng” dù đă thất truyền nhưng t́nh
sử... vẫn vượt thời gian, không gian với dấu ấn cuộc t́nh.
-
Vương Trùng Dương
|
|
| |
|