|
| |
-
-
Trần Văn Trạch
-
Nhạc sĩ hài
hước của làng tân nhạc Việt Nam (1924-1994)
-
Trần Quang Hải
-
-
Đôi Ḍng về nhạc sĩ Trần Quang
Hải
-
Nhạc sĩ Trần Quang Hải sinh
ngày 13 tháng 5, năm 1944 tại làng Linh Đông Xă, huyện Thủ Đức, tỉnh Gia Định.
Ông là đời thứ năm tiếp nối sự nghiệp âm nhạc trong ḍng họ Trần. Thân phụ ông
là nhạc sĩ Trần Văn Khê, ông nội là Trần Quang Triều (1897-1931), biệt hiệu là
Bảy Triều, giỏi về đàn ḱm, chế ra dây Tố Lan để đàn các bài oán rất được các
nhạc sĩ trong cải lương và cổ nhạc miền Nam biết tới. Ông cố là Trần Quang
Diệm (1853-1925), một nhạc sĩ đàn tỳ bà rất nổi tiếng ở trong Nam thời đó, có
chế ra cách ghi chép nhạc. Ông sơ là Trần Quang Thọ (1830-1890) nhạc sĩ cung
đ́nh Huế, làm tới chức án sát, có tháp tùng đi với cụ Phan Thanh Giản sang
Pháp trong phái đoàn Việt Nam để thương thuyết với Pháp về ba tỉnh miền Nam
nhưng thất bại, phải treo ấn từ quan, vào trong Nam.
-
Và, chú ông là nhạc sĩ Trần Văn
Trạch (1924-1994).
-
Lúc 5 tuổi, theo học đàn măng
cầm (mandoline) ở Vĩnh Long, rồi học banjo. Lúc 6 tuổi học violon với một ông
thầy ở Vĩnh Long. Tới 8 tuổi, học đàn piano với cha Lựu cũng ở Vĩnh Long. Sau
đó lên Sài G̣n, theo học tại trường trung học Trương Vĩnh Kư và học nhạc tại
trường Quốc Gia Âm Nhạc Sai G̣n từ năm 1955 tới 1961. Năm 1961, sang Pháp học
khoa nhạc học tại trường đại học Sorbonne và trung tâm nghiên cứu nhạc Đông
Phương (Centre of Studies for Oriental Music) ở Paris. Đồng thời lại học môn
dân tộc nhạc học (ethnomusicology) tại trường Cao Học Khoa Học Xă Hội (School
of Studies for Social Sciences).
-
Tuy theo học ở Pháp nhưng ông
bỏ tất cả nhạc Tây phương, quay trở về nhạc Việt Nam, học đàn tranh, đàn c̣,
tự học đàn độc huyền, sinh tiền. Ông tự chế một số kỹ thuật đánh muỗng, tự học
đàn guitar, sáo tây. Từ năm 1966 trở đi, ông có học một năm đàn vina của Ấn
Độ, đàn tampura Ấn Độ, trống zarb Ba Tư, đàn c̣ Tàu, đàn gamelan của Nam
Dương. Năm 1967, ông gặp nhạc sĩ John Wright chỉ dẫn về đàn môi. Từ đo, ông tự
học và chế biến kỹ thuật đánh đàn môi, và tự áp dụng vào các loại đàn môi của
Việt Nam, Nam dương, Âu châu, Tây Bá Lợi Á.
-
Về nghệ thuật đánh muỗng, ông
biết từ nhỏ, khi được 5 tuổi, khi sang Pháp, ông khám phá ra kỹ thuật gơ muỗng
không phải chỉ có ở Việt Nam mà có ở Ái Nhĩ Lan, Anh Quốc, Âu châu, Mỹ,
Canada, Liên Xô, Thỗ Nhĩ Kỳ. Ngay ở Á châu, Phi Luật Tân, Nam Dương cũng có
dùng muỗng để gơ nhịp.
-
Năm 1968 làm việc tại Trung
Tâm Quốc Gia Nghiên Cứu Khoa Học (National Center for Scientific Research),
măm 1973, đậu Tiến sĩ Dân Tộc Nhạc Học và tiếp tục làm việc ở đó tới ngày nay
với chức vụ nghiên cứu gia về Dân Tộc Nhạc Học (Ethnomusicologist) chuyên về
nhạc Việt Nam và nhạc Á châu, đặc biệt về giọng hát. Ông đă tham dự khoảng 80
hội nghị quốc tế, hội viên của 20 hội nghiên cứu quốc tế, viết cho nhiều tự
điển âm nhạc của Pháp, Anh, Nhật, Ḥa Lan, 4 quyển sách về nhạc thế giới, và
300 bài viết nghiên cứu khoa học cho nhiều sách báo ngoại quốc.
-
Ngoài ra, ông được mời dạy
trên 100 trường đại học của 50 quốc gia trên thế giới. Về phương diện tŕnh
diễn nhạc Việt Nam, ông đă tŕnh diễn gần 3.000 buổi và cho trên 100 đại hội
liên hoan nhạc cổ truyền quốc tế của 60 quốc gia từ năm 1966 tới nay.
-
Về số dĩa hát, ông đă có 15
dĩa nhựa 33 ṿng, 8 CD, và 4 phim video, và tham gia vào 10 CD của những cơ
quan nghiên cứu ngoại quốc. Trong sinh hoạt cộng đồng Việt Nam, ông đă tŕnh
diễn tại nhiều quốc gia có cộng đồng Việt Nam như Pháp, Anh, Đức, Thụy Sĩ, Bỉ,
Ḥa Lan, Na Uy, Đan Mạch, Nga, Gia Nă Đại, Hoa Kỳ, Uùc Châu, Tân Gia Ba.
-
Viết về âm nhạc và nghiên
cứu, ông kư tên Trần Quang Hải, khi viết về sinh hoạt cộng đồng th́ có khi tôi
dùng tên khác như Trần thị Minh Tâm (tên con gái ông). Người bạn đời của
ông là ca sĩ Bạch Yến.
-
Ông đă phổ nhạc cho nhiều bài
thơ của Hà Huyền Chi, Cung Vũ, Lê Khắc Thanh Hoài, Vơ Mỹ Ngọc, Nguyễn Chí
Thiện. Trên dưới 300 bài thơ đă được tôi phổ nhạc.
-
Bài viết Tổng Kết Nhạc Việt
Hải Ngoại & Quốc Nội Trong Năm 2001 của Trần Quang Hải là công tŕnh
nghiên cứu có giá trị – Vương Trùng Dương
-
-
-
Viết về cuộc đời của một nghệ
sĩ danh tiếng là khó rồi. Viết về một nghệ sĩ “lập dị” đă chinh phục cảm t́nh
của khán giả qua ba thế hệ mà người đó lại là chú ruột của kẻ viết bài này th́
lại khó khăn hơn nữa. Làm sao có thể viết một bài phê b́nh, nói gần nói xa
như “mèo khen mèo dài đuôi”?

-
Cái khó của tôi là không biết
nhiều về ông chú của tôi đứng về mặt gia đ́nh. Có thể nói là suốt thời gian
tôi sống ở Việt Nam, tôi chỉ gặp chú tôi tổng cộng độ 10 lần mà thôi, gặp chú
ít khi nói chuyện v́ lúc đó tôi hăy c̣n nhỏ quá đi. Tôi chỉ nhớ được xem chú
Ba Trạch tŕnh diễn ba lần tại Sai Gon. Một lần vào khoảng năm 1948 ở tại
Dancing Théophile, vùng Dakao. Lúc đó tôi mới có 4 tuổi. Một lần khác chú tôi
từ Pháp về năm 1961 hát bài Chiều Mưa Biên Giới (nhạc và lời: Nguyễn Văn Đông)
với dàn nhạc Pháp thu vào băng sẵn để hát kèm theo kiểu hát playback và được
xem chú tôi biểu diễn tṛ múa rối học được ở Pháp mang về. Lần chót trước khi
tôi rời Việt Nam vào khoảng cuối năm 1961 tại một rạp hát ở Phú Nhuận với các
màn bắn súng, nhái các thú vật như chú đă thường tŕnh diễn.
-
H́nh ảnh người chú tóc dài,
chạy xe Mercedes cũ x́, được báo chí tặng cho danh hiệu “Quái kiệt” vẫn c̣n
in rơ trong trí nhớ của tôi.
-
Cái khó thứ hai là tôi không ở
trong nghề, không biết được bộ mặt thật sự của hậu trường sân khấu, cũng như
không có “sống” nếm mùi ngọt, bùi, đắng, cay của nghề bán giọng hát đổi lấy
chén cơm. Do đó, tôi không có một kỷ niệm nào để kể cho các bạn như đa số các
nghệ sĩ Việt Nam mà tôi may mắn được gặp và nghe họ kể những bước thăng trầm
của cuộc đời rày đây mai đó trên những đường ṃn Việt Nam từ thành thị đến
thôn quê.
-
Vài Ḍng Về Thời Thơ Aáu Ơû Sầm
Giang
-
Trần Văn Trạch, tên thật là
Trần Quang Trạch, sinh năm Giáp Tư (1924), tại làng Đông Ḥa, tỉnh Mỹ Tho.
Trong gia đ́nh có rất nhiều người biết về nhạc, nhất là nhạc cổ. Ông sơ tôi,
Trần Quang Thọ, nhạc sĩ triều đ́nh Huế. Ông cố tôi, Trần Quang Diệm, ngày xưa
được gởi ra Huế để học đàn tỳ bà trong thành nội và nổi tiếng về đàn tỳ bà
trong Nam cùng với sự chế cách viết bài bản cho đàn tỳ bà. Ông nội tôi, Trần
Quang Triều, tự Bảy Triều, nổi tiếng trong giới cổ nhạc qua tiếng đàn ḱm lên
dây theo kiểu dây Tố Lan do ông nội tôi sáng chế ra. Dây Tố Lan của đàn ḱm
khác với cách lên dây thường của đàn ḱm. B́nh thường đàn ḱm có hai dây được
lên dây cách nhau một quăng 5 (do - sol). C̣n lên dây Tố Lan th́ hai dây phải
cách nhau một quăng 7 thứ (do - sib). Gia đ́nh bên phía ông nội tôi c̣n có bà
cô Ba tên là Trần Ngọc Viện, người đă thành lập gánh hát Đồng Nữ vào khoảng
năm 1927 với một điểm đặc biệt là tất cả các diễn viên trong gánh hát Đồng Nữ,
một hiện tượng duy nhứt trong lịch sử hát cải lương miền Nam.
-
-
Bên phía bà nội tôi th́ có ông
Cậu Năm tên là Nguyễn Tri Khương (cháu nội của ông Nguyễn Tri Phương, một vị
quan nổi tiếng dưới thới triều Nguyễn), từ trần vào năm 1962, là một nhạc sĩ
chuyên về sáo, lại thông hiểu về lư thuyết nhạc cổ, đă giúp cho Ba tôi là GS
Trần Văn Khê khi viết luận án tiền sĩ về nhạc Việt. Ông Nguyễn Tri Khương c̣n
là thầy tuồng của gánh hát Đồng Nữ và là tác giả của những bài hát mới mà ngày
nay rất ít người biết như các bài Thất Trĩ Bi Hùng, Yến Tước Tranh Ngôn, Phong
Xuy Trịch Liễu, Bắc Cung Ai... Ông Cậu Tư, anh của ông Nguyễn Tri Khương, có
một người con rất giỏi về. Đó là cồ nhạc sĩ Nguyễn My Ca (tên thật là Nguyễn
Mỹ Ca) mất vào năm 1944 trong lúc chống Pháp. Bác My Ca là anh em cô cậu với
Ba tôi và chú tôi, chỉ được người Việt biết qua nhạc phẩm Dạ Khúc.
-
Những ḍng trên đây được viết
ra với mục đích là giúp cho các bạn hiểu rơ trong bối cảnh nào chú Trần Văn
Trạch đă sống và hấp thụ nhiều khía cạnh âm nhạc trong khoảng thời ấu thơ tại
làng Vĩnh Kim, làng Đông Ḥa, làng B́nh Ḥa Đông của tỉnh Mỹ Tho miền Nam Việt
Nam.
-
Ông Nội tôi có ba người con.
Người con cả là Trần Văn Khê (sinh năm 1921, từng là giáo sư dân tộc nhạc học
tại đại học đường Sorbonne, Paris, hưu trí năm 1987, và hiện giờ để hết th́
giờ để viết các quyển hồi kư về cuộc đời của ḿnh - đă xuất bản được 6 quyển
tại Việt Nam từ năm 1998,sang Pháp năm 1949 và hiện sinh sống tại thành phố
Vitry sur Seine, ngoại ô Paris). Kế đến là Trần Văn Trạch, sinh năm 1924, nổi
danh là Quái kiệt trong làng tân nhạc Việt, từ trần năm 1994 tại Paris. Người
con gái út, tên là Trần Ngọc Sương, sinh năm 1925, từng là ca sĩ nổi tiếng lấy
biệt hiệu là Ngọc Sương, sau đổi lại là Thủy Ngọc trong những năm 1948-50, và
hiện sống tại Montreal, Canada.
-
Chú Trạch lúc nhỏ rất có khiếu
về nhạc. Học đánh đàn ḱm và đàn tỳ bà rất sành. Lại có giọng hát ấm êm, ca
vọng cổ mùi không thua ǵ Năm Nghĩa thời thập niên 30. Tuy biết nhiều về cổ
nhạc, nhưng lại thích tân nhạc hơn. Lúc khoảng thời đó (1937-39), nhạc sĩ My
Ca rất giỏi về đàn violon, và Ba tôi thiên về đàn mandoline. Hai người thường
hợp tấu để đàn các bản nhạc Pháp nổi tiếng thời đó như J’ai deux Amours,
Marinella. Phong trào phát động nhạc mới được giới trẻ theo một cách mạnh mẽ.
Chú tôi theo học chữ ở Collège de Mỹ Tho (trường trung học Mỹ Tho) cho tới năm
1942 th́ rời ghế nhà trường.
-
Tuy ở trong gia đ́nh nhạc sĩ,
nhưng lại là người thích buôn bán làm ăn, nên chú Trạch mới lập ra ḷ làm chén
ở Vĩnh Kim. Sau một vài năm buôn bán, coi bộ không khá lắm, nên bỏ nghề lên
Saigon t́m việc sinh sồng. Khoảng năm 1945, sau khi Nhật đầu hàng, Pháp trở
lại Việt Nam, những pḥng trà nho nhỏ mở cửa trở lại. Chú tôi mới bắt đầu kiếm
được một pḥng trà nhỏ (loại salon de thé) ở đường Lagrandière.
-
Danh từ “Đại Nhạc Hội” xuất
hiện
-
Có lẽ rất ít người biết từ đâu
xuất phát danh từ Đại Nhạc Hội. Chú Trần Văn Trạch hoạt náo và hát tại dancing
Théophile ở vùng Dakao từ năm 1947-48. Các bản nhạc hài hước đầu tiên không
phải do Trần Văn Trạch sáng tác mà là do nhạc sĩ Lê Thương (1914-1996) viết ra
đầu tiên. Nhạc sĩ Lê Thương được nhiều người biết qua các bản Thằng Cuội, Ḥn
Vọng Phu 1, 2, 3. Chính nhạc sĩ Lê Thương đă chính thức khơi mào một loại nhạc
hài hước như bản nhạc Ḥa B́nh 48 (Lê Thương, 1948) đă do Ba tôi hát trong dĩa
78 ṿng của hăng ORIA thu bên Pháp năm 1949, và Chú tôi hát ở Saigon với những
màn bắn súng, máy bay dội bom phát sinh từ đó. Bản nhạc Liên Hiệp Quốc (Lê
Thương, 1949) cũng được Ba tôi và chú tôi tung ra thị trường với những màn hài
hước bắt chước các thứ tiếng Anh, Nga, Tàu, vv. .. Nhạc sĩ Lê Thương có viết
năm 1948 một bản nhạc tựa là Làng Báo Sài G̣n do Trần Văn Trạch hát vài lần
trên sân khấu nhưng bị chánh phủ cấm. Lời bài hát Làng Báo Sài G̣n do nhạc sĩ
Lê Thương viết như sau:
-
Báo Sài Thành từ suốt ba năm
nay
-
Sống một cuộc đời bất b́nh, mập
mờ cũng hay
-
Nếu mai sau mà anh muốn nói láo
-
Cứ nghe tôi mà anh cứ viết báo
-
Công chúng đang buồn, nghe nói
một hồi
-
Như thác nhớ nguồn, nên cũng
đành thôi.
-
Đoạn giữa có câu
-
Nào xin kính chào này
-
Mừng tân thủ tướng mới
-
Chừng coi gió chiều nào
-
Là xoay đổi hướng...
-
Viết lời nhạc có tính cách
chính trị, nên sau đó, Lê Thương, Trần Văn Trạch, Phạm Duy, Đức Quỳnh, đă “bị
mời” vào bót Catinat mấy ngày. Đến năm 1949, Trần Văn Trạch thấy rằng tân nhạc
bắt đầu thịnh hành. Các ca sĩ như Minh Trang, Ngọc Sương, Ngọc Hà, Tâm Vấn góp
mặt trên đài phát thanh Pháp Á, trên các sân khấu tŕnh diễn tân nhạc. Trần
Văn Trạch mới có ư nghĩ lăng xê (từ tiếng Pháp là động từ “lancer”) danh từ
“Đại Nhạc Hội” Å để chỉ định những buổi hát bao gồm ca, vũ, nhạc, kịch trong
một chương tŕnh văn nghệ. Từ đó trở đi, đại nhạc hội được thông dụng cho tới
ngày nay.
-
Sau đó, chú Trần Văn Trạch thấy
rằng muốn khuếch trương khía cạnh tân nhạc, chỉ có cách là mang tân nhạc xen
kẽ với những màn ảo thuật, xiệc, vào những buổi chiếu phim hát bóng v́ lúc đó
phim hát bóng rất thịnh hành, người đi coi hát bóng rất đông, thuận tiện cho
việc phổ biến tân nhạc Việt hăy c̣n phội thai trong giai đoạn này.
-
Phụ Diễn Tân Nhạc Trên Sân Khấu
-
Sau thế chiến thứ hai, cuộc
sống trên thế giới trở lại b́nh thường. Nền kinh tế bắt đầu t́m lại thế quân
b́nh. Dân chúng bắt đầu đi xem hát, nghe nhạc, có nhiều cách giải trí hơn. Lúc
bấy giờ, xứ Việt Nam hăy c̣n là thuộc địa của Pháp. Mà ở xứ Pháp, vào thời
buổi đó, bắt đầu có chuyện phụ diễn tân hạc hay những màn hát thuật giữa phim
thời sự, quảng cáo, và phim chánh. Trần Văn Trạch thấy h́nh thức đó hay nên
mới t́m cách phổ biến hiện tượng đó tại Saigon. Nhạc sĩ Đức Quỳnh và chú tôi
hợp tác với nhau, và lựa rạp hát bóng Nam Việt làm nơi thử thách đầu tiên.
-
Lúc đó là vào khoảng năm 1951.
Được dân chúng thích và đ̣i hỏi. Trần Văn Trạch mới lần lượt phổ biến chuyện
phụ diễn tân nhạc tới những rạp hát khác và lần lần làm thành “hệ thống dây
chuyền”. Tân nhạc thiếu bài mới để hát. Các nhạc sĩ mới đua nhau sáng tác
những nhạc phẩm phù hợp với nhu cầu của dân chúng trong thành phố. Các ca sĩ
không thể đem lên sân khấu những ca khúc hùng mạnh đầy màu sắc đấu tranh, giặc
giă. Nhờ đó mà mới nẩy sanh ra phong trào sáng tác nhạc rất mạnh. Trần Văn
Trạch bắt đầu nổi tiếng về tài hài hước và kể chuyện, rồi sang hát một vài bản
nhạc diễu để chọc cười khán giả. Bài bản lại thiếu, nên chú tôi bắt buộc phải
sáng tác những bản nhạc đúng “ni tấc”. Nhờ đó mà một số bản nhạc “diễu” được
ra đời và đi sâu vào ḷng dân chúng măi cho tới ngày hôm nay nhứt là khán giả
vào lứa tuổi 50- 80 tuổi.
-
Những nhạc phẩm hài hước của
Trần Văn Trạch
-
Trần Văn Trạch có một lối hát
mộc mạc, đúng giọng miền Nam. Chú tôi là một trong số rất ít ca sĩ chuyên hát
với giọng miền Nam, phát âm không màu mè, dùng lời lẽ đơn giản, không cầu kỳ,
những tữ ngữ được nghe trong đời sống hàng ngày, nhưng chủ đề lấy từ cuộc sống
người dân nghèo nên rất dễ làm xúc động người nghe.
-
Bài hát hài hước đầu tiên được
Chú tôi sáng tác là Anh Phu Xích Lô (1951). Về nhạc th́ sử dụng âm giai thất
cung với những câu nhạc dễ nhớ được lập đi lập lại. Về tiết tấu th́ sử dụng
nhiều nhịp ngoại, hát mau và phải “giựt” theo kiểu swing để tạo sự vui nhộn.
Tôi chỉ nhớ đoạn đầu của bài hát Anh Phu Xích Lô như sau:
-
Có ai mà muốn đi tới Chợ Lớn
-
Có ai mà muốn đi tới Chợ Mới
-
Có ai mà muốn đi chóng cho mau
tới
-
Ê Tôi xin mời lại đây
-
Chiếc xe này có bảo kiết thật
chắc
-
Bánh xe th́ tốt thùng có bọc
sắt
-
Nếu khi mà có đụng phải xe jeep
-
Quư ngài chẳng hề hấn ǵ.
-
Khi thấy loại nhạc này “hấp
dẫn” người nghe, Chú Ba Trạch mới tiếp tục viết thêm một số nhạc phẩm hài hước
khác như Chuyến Xe Lửa Mùng 5 (1952) kể lại chuyện một anh chàng lấy xe lửa về
thăm mẹ. Trên xe lửa, để cho qua th́ giờ, ngồi đếm cột đèn mà bị người bên
cạnh hỏi tới hỏi lui. Đến khi về nhà mới hay mẹ ḿnh đă từ trần. Câu chuyện
lúc đầu th́ thấy cười. Nhưng kết cuộc là “cười ra nước mắt”.
-
Cho tới ngày kư hiệp định
Genève ( 1954), Trần Văn Trạch viết khá nhiều bài như Cái Tê - lê - phôn, Cái
Đồng Hồ Tay, Anh Chàng Thất Nghiệp, Cây Bút Máy, Đừng Có Lo. ..
-
Để cho các bạn biết sơ qua một
số bài với âm điệu, tôi xin tạm ghi lại một đoạn nhỏ của một vài bài điển h́nh
như Cái Tê - lê - phôn được bắt đầu như sau:
-
Từ đâu nạn đưa tới
-
Gắn chi cái tê lê phôn
-
Bởi tôi muốn làm tài khôn
-
Khiến tôi muốn thành ra ma
-
Không vào Chợ Quán cũng đi Biên
Ḥa
-
…...
-
Trong năm 1952, tôi muốn nói
tới hai bản nhạc của Trần Văn Trạch đă được nhiều người biết tới mà không phải
là nhạc hài hước. Đó là bài ị Chiến xa Việt Nam Ể vả một bản nhạc khác mà hầu
hết những người Việt miền Nam đều đă có nghe qua rất thường. Đó là bài Xổ Số
Kiến Thiết Quốc Gia. Trong ṿng 23 năm, từ 1952 tới 1975, mỗi tuần tại rạp
Norodom (sau đổi lại thành rạp Thống Nhất), đều có nghe hát bản nhạc này trước
khi xổ số.
-
Tôi ghi lại đây bản nhạc này mà
tôi không thấy trong những tập nhạc được xuất bản tại hải ngoại sau 1975.
-
Kiến thiết quốc gia (nhạc và
lời: Trần Văn Trạch, 1952)
-
Kiến thiết quốc gia
-
Giúp đồng bào ta
-
Xây đắp muôn người
-
Được nên cửa nhà
-
-
Tô điểm giang san

-
Qua bao lầm than
-
Ta thề kiến thiết
-
Trong giấc mộng vàng
-
-
Triệu phú đến nơi
-
Chỉ mười đồng thôi
-
Mua lấy xe nhà
-
Giàu sang mấy hồi
-
-
Mua số quốc gia
-
Giúp đồng bào ta
-
Ấy là thiên chức
-
Của người Việt Nam
-
-
Mua số mau lên
-
Xổ số gần đến
-
Mua số mau lên
-
Xổ số gần đến
-
-
Bài “Chiến xa Việt Nam” (1952)
đă được nghe nhiều lần thời đệ nhất cộng ḥa. Nữ ca sĩ Bạch Yến lúc hăy c̣n là
em bé Bạch Yến đă hát bài này khi dự thi tuyển lựa tài tử ở Đài Pháp Á khoảng
1953. Trong những kỳ đi diễn binh nhân ngày Quốc khánh, chúng ta cũng có nghe
nữa. Thời gian trôi qua, những bản nhạc hùng mạnh như Thúc Quân, Xuất Quân,
Hờn Sông Gianh, Chiến Xa Việt Nam, vv... đă mờ dần trong trí nhớ người Việt
hải ngoại và trong nước. Tôi chỉ ghi lại hai câu đầu của bài Chiến Xa Việt Nam
-
-
Khi miền Nam trở thành một quốc
gia cộng ḥa dưới thời cố tổng thống Ngô Đ́nh Diệm (1956-1963), nhạc sĩ Trần
Văn Trạch sáng tác rất ít. Chỉ có một bài ca hài hước được ra đời. Đó là bài
“Ba chàng đi hỏi vợ”
-
-
Ban Sầm Giang Trên Đài Phát
Thanh
-
Những ai ở vào tuổi lục tuần
đều có dịp nghe ban Sầm Giang do Trần Văn Trạch đảm trách trên đài phát thanh
Pháp Á từ năm 1950 tới năm 1954. Con sông Sầm Giang ghi nhiều kỷ niệm trong
cuộc đời thơ ấu của Chú tôi nên khi lập một ban nhạc hay một đoàn hát, Chú tôi
mới lấy tên con sông này để “dựng bảng hiệu”. Bản nhạc được nghe báo hiệu
chương tŕnh ban Sầm Giang trên đài là một bản nhạc do cố nhạc sĩ Nguyễn My Ca
sáng tác cho một tiệm mới khai trương tại Vĩnh Kim khoảng 1940 và Chú tôi lấy
điệu nhạc này và đặt lới mới vào.
-
Ban Sầm Giang quy tụ một số
nhạc sĩ gạo cội như cố nhạc sĩ Vơ Đức Thu, Kháng Băng. Về sau có nhạc sĩ
Nghiêm Phú Phi (ở Mỹ hiện nay), các ca sĩ nổi tiếng thời 50 như Trần Văn
Trạch, Ngọc Sương, Ngọc Hà, Tôn Thất Niệm, Linh Sơn, Mạnh Phát, Minh Diệu, Túy
Hoa, Tâm Vấn. Đến năm 1953, có thêm những bộ mặt mới như nữ kịch sĩ Bích
Thuận, ban Thăng Long, Duy Trác, Tùng Lâm, và ... em bé Bạch Yến.
-
Với một chương tŕnh hàng tuần
về ca, nhạc, kịch, Trần Văn Trạch đă chinh phục thính giả và nhờ đó những
chương tŕnh “đại nhạc hội” được nối tiếp và phát triển trên toàn xứ.
-
Năm 1953, Trần Văn Trạch diễn
tại Hà Nội và rất được hoan nghinh, v́ bộ môn hài hước không có trên đất Bắc.
Chú tôi phải dời ngày về Saigon mấy lượt khiến cho những bạn bè đi đón “hụt”
mấy lần ví Chú tôi “không chịu về”. Sau chuyến đi thành công này, Trần Văn
Trạch dự định đưa một đoàn văn nghệ miền Nam ra diễn ngoài Bắc lấy tên là
“Đoàn Gió Nam”. Việc tổ chức đang tiến hành th́ hiệp định Genève (1954) đă
chia xứ Việt Nam ra làm hai, nên chuyến đi Bắc của đoàn nghệ sĩ miền Nam không
bao giờ được thực hiện.
-
-
Trần Văn Trạch Với Điện Ảnh
-
Nền điện ảnh Việt Nam ở trong
giai đoạn phôi thai. Khoảng 1955, Chú tôi mới cộng tác với hăng phim Mỹ Phương
bên Pháp do bà Mỹ Phương (vợ ông Trần Văn Trai, chủ nhà hàng Âu Cơ ở Paris),
làm giám đốc sản xuất với sự phụ lực của Phùng thị Nghiệp và Eric Lê Hùng
(từng làm đạo diễn nổi tiếng ở Pháp). Hai cuốn phim được quay là “Ḷng Nhân
Đạo “ (1955) với Trần Văn Trạch, Kim Cương, Hà Minh Tây (anh Tây lúc trước làm
việc cho đài truyền h́nh Pháp, giờ về hưu) thủ vai chánh, và phim “Giọt Máu
Rơi “ (1956) với Trần Văn Trạch và Kim Cương. Tuy rằng hai cuốn phim này chưa
đạt được đúng mức tŕnh độ diễn xuất, nhưng rất được sự ủng hộ của khán giả
Việt Nam lần đầu thấy người Việt đóng phim.
-
Trần Văn Trạch sau đó mới rời
hăng phim Mỹ Phương để cộng tác với người Tàu ở Chợ Lớn để lập hăng phim Việt
Thanh, và tự làm đạo diễn cho hai cuốn phim về chuyện cổ tích Việt Nam. Đó là
hai cuốn phim “Thoại Khanh Châu Tuấn“ (1956) với Kim Cương, Vân Hùng thủ vai
chánh, và “Trương Chi Mỵ Nương” (1956) với Trang Thiên Kim và La Thoại Tân.
Năm 1957, Chú tôi bị đau thập tử nhứt sanh suốt cả năm. May nhờ có bác sĩ Phan
Văn Đệ cứu sống. Rồi Chú tôi từ giă nghề điện ảnh Việt Nam lúc đó bắt đầu bành
trướng và phát triển mạnh với những nhà đạo diễn chuyên nghiệp và những tài tử
điện ảnh như Lê Quỳnh, Kiều Chinh, Kiều Hạnh.
-
Tuy Chú tôi không có tiếp tục
ngành điện ảnh, nhưng cũng có đóng góp khá nhiều cho sự h́nh thành nền điện
ảnh Việt Nam tại miền Nam Việt Nam.
-
-
Giai đoạn tổ chức
Đại Nhạc Hội
-
Không một nghệ sĩ Việt Nam nào
mà không biết Trần Văn Trạch. Đa số đă có dịp làm việc chung với Chú tôi ít
nhất là một lần trong đời. Có người gọi Chú tôi là “Anh Ba”, có người trong
lớp nghệ sĩ trẻ gọi Chú tôi là “Chú Ba”. Với những chương tŕnh “đại nhạc
hội”, Chú Trạch đă có dịp đi khắp các tỉnh, các làng ở miền Nam. Trong thời đệ
nhứt cộng ḥa (1956-1963), Trần Văn Trạch đă thực hiện nhiều chương tŕnh ca,
vũ, nhạc, kịch ngày càng vĩ đại với một thành phần nghệ sĩ càng ngày càng
đông. Rồi Kim Cương, ban Dân Nam, Hoàng Thi Thơ... nhảy vào làng tổ chức nhạc
hội cho tới Saigon thất thủ (tháng 4, 1975)
-
Năm 1960, Chú tôi mới đi sang
Paris t́m những ư kiến mới. Ở Paris, Chú tôi thường xuyên hát tại nhà hàng “La
Table du Mandarin”, Paris, quận 1, nơi duy nhứt ở Paris có chương tŕnh văn
nghệ Á châu mỗi đêm cho khách Tây phương. Cũng nơi này do ông Phạm Văn Mười
(từ trần vào thập niên 80) làm chủ, đă được những ca sĩ Việt nổi tiếng thời đó
như Thiên Hương (Tini Yong) rồi Bạch Yến (lúc sang Pháp từ 1961-63), và Bích
Chiêu (1962-64), kế đến tới nữ nghệ sĩ Phùng Há và Kim Cương (1964-65) đến
hát. Sau một thời gian lưu tại Pháp khoảng 6 tháng, Chú tôi trở về Saigon với
một tiết mục mới là tṛ múa rối (marionnettes / puppet show) và bản “Chiều Mưa
Biên Giới” của Nguyễn Văn Đông được hát theo kiểu sound track, có nghĩa là hát
thật sự trên sân khấu với dàn nhạc của Pháp thâu sẵn trên băng nhựa. Tôi có
dịp đi xem Chú tôi diễn lần đó tại một rạp hát ở Saigon (dường như là rạp Hưng
Đạo, tôi không nhớ rơ lắm)
-
Từ khi có quân đội Mỹ vào miền
Nam ngày càng đông, những night clubs dành cho lính Mỹ mọc lên như nấm. Các ca
sĩ hát nhạc trẻ càng thấy nhiều hơn. Chú tôi đóng vai “ông bầu” để tổ chức
những chương tŕnh nhạc trẻ cho lính Mỹ từ năm 1965 trở đi. Trong thời gian
này, Chú tôi có sáng tác một vài bản nhạc không được phổ biến cho lắm như bài
“Highway 19” đặt theo điệu Long Hổ Hội, nhạc cổ nhưng trên lời Anh và theo
nhịp swing.
-
-
Trần Văn Trạch sau năm 1975
-
Khi cộng sản vào “chiếm đóng”
miền Nam từ 30 tháng 4, 1975, Trần Văn Trạch không c̣n giữ chức vụ “quản lư”
các nghệ sĩ miền Nam nữa. Chú tôi tạm sống một cuộc đời b́nh thường, với những
chuyến lưu diễn địa phương cùng với một số nghệ sĩ miền Nam c̣n bị “kẹt” lại
như Nguyễn Long (tự Long Đất, hiện ở Cali, Hoa Kỳ, làm nghề báo chuyên về văn
nghệ, điện ảnh và sinh hoạt các nghệ sĩ Việt Nam ở hải ngoại, chụp ảnh, Quốc
Anh (sang Pháp và sau đó định cư tại Hoa kỳ từ thâp niên 90)
-
Cho tới tháng 12, 1977, Trần
Văn Trạch rời Saigon sang Paris. Từ đó trở đi cho tới ngày từ trần (12 tháng
4, 1994) nghệ sĩ Trần Văn Trạch, từng nổi tiếng là “Quái Kiệt” vẫn âm thầm
hoạt động trong văn nghệ. Có một dạo đi đóng kịch với một đoàn hát Pháp, lưu
diễn khắp các tỉnh ở Pháp. Rồi thỉnh thoảng đi đóng một vài vai phụ trong các
phim của Pháp. Chú tôi tạm ngưng làm việc cho Pháp để xoay ra làm nghề khác để
sinh nhai.
-
Sáng tác âm nhạc dường như bị
“nghẹn”đi. Suốt gần 18 năm sống ở Pháp, chú chỉ sáng tác một vài bài thôi, v́
lẽ cuộc sống ở hải ngoại thúc hối con người ta phải luôn luôn chạy với nhịp
sống quá ồ ạt, khiến cho Chú tôi lớp phải lo việc đem vợ con sang Pháp, rồi
lại phải lo kiếm việc làm độ nhựt.
-
Tuy nhiên Chú tôi cũng có góp
mặt trong làng tân nhạc Việt ở hải ngoại qua ba cuốn băng “Hài hước Trần Văn
Trạch” (Thúy Nga Paris, 1982) “Con đường hạnh phúc “ (Thanh Lan, 1983), và
“Allô Paris” (Giáng Ngọc, Paris 1986). Về phía phim video, Trần Văn Trạch cũng
có làm một cuốn kỷ niệm “Hài hước Trần Văn Trạch” do ông Cử ở quận Cam, Cali,
Hoa kỳ thực hiện năm 1983. Chú tôi cũng có góp mặt trong cuốn thi ca nhạc kịch
“Việt Nam” do Hà Phong thực hiện tại Paris năm 1984 với nữ nghệ sĩ Bích Thuận
(vần c̣n sống tại Paris), Trần Văn Trạch, Trần Quang Hải,, Bạch Yến và Hùng
Tiến (từ trần tại Paris, 2002)
-
Chú tôi cũng có đi diễn cho
cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ năm 1983 và 1986, ở Úc châu năm 1984, và thường
trực có mặt trong những buổi hát giúp lấy tiền cho những con tàu vớt người di
tản. Ở Âu châu từ Anh sang Đức, từ Bắc Âu sang Thụy Sĩ, Chú tôi vẫn c̣n tạo
những trận cười qua những màn diễu ăn khách ngày xưa. Tôi có dịp diễn chung
với Chú tôi tại Luân Đôn và tại Marseille vài năm trưóc khi Chú tôi mất. Đó là
những dịp duy nhứt hai chú tôi hàn huyên với nhau và nhờ đó tôi mới ghi lại
đuợc một số dữ kiện chính xác về cuộc đời của chú Trần Văn Trạch.
-
Trong những năm cuối cùng của
cuộc đời, Chú tôi thường đi sang Hoa kỳ làm nghề quảng cáo trên đài Truyền
h́nh Việt Nam ở Quận Cam. Cơn ung thư gan hoành hành vào cuối tháng giêng 1994
đă đưa Chú tôi trở về Paris, và nằm trị bịnh tại nhà thương Thenon ở Paris,
quận 20 từ đầu tháng 2 cho tới ngày từ trần (12 tháng 4, 1994). Vợ chồng chúng
tôi thường vào thăm Chú tôi và tôi t́m cách chọc Chú tôi cười. Lúc đó chú tôi
chỉ thều thào nói không ra tiếng v́ sức quá yếu sau mấy lần mổ gan mà không
cứu chửa được. Chú tôi nhắm mắt ra đi ngày 12 tháng 4, 1994 trong khi tôi đang
ở Toronto (Canada).
-
Rất đông nghệ sĩ đă đi đưa tiễn
một nhạc sĩ thiên tài đến nơi yên nghĩ cuối cùng. Có GS Trần Văn Khê, cô tôi
Trần Ngọc Sương từ Montreal sang. Nhạc sĩ Phạm Duy từ Hoa kỳ tới cùng với Duy
Quang. Ở Pháp hầu hết các nghệ sĩ đều có mặt như Hữu Phước (từ trần), Ngọc Lưu
(từ trần), Cao Thái, Bạch Yến và tôi từ Canada bay về Paris, Mỹ Ḥa, Thiên
Nga, Minh Đức, Thu Hương, Hoàng Long, Kiều Lệ Mai, Minh Đức, Minh Thanh, Kim
Chi, Tài Lương, Minh Tâm, Thanh Phong, vv& Di hài được chôn tại nghĩa tranh
Cimetière intercommunal ở Valenton, ngoại ô Paris.
-
Với trên 40 năm trong nghề,
từng là người tiên phong trong việc tổ chức nhạc hội, người đă đặt ra danh từ
“đại nhạc hội”, người đă góp công vào nền điện ảnh Việt, người duy nhứt của
Việt Nam đă viết những bản nhạc hài hước lấy từ những đề tài tả cảnh khổ của
người dân nghèo, Trần Văn Trạch ngày nay không c̣n nữa
-
Tôi nghĩ rằng, đối với những
người làm văn nghệ, Trần Văn Trạch đă đi vào lịch sử tân nhạc Việt Nam như một
số nhạc sĩ đàn anh như Phạm Duy, Lê Thương, Hùng Lân, Hoàng Thi Thơ, Lam
Phương, Dương Thiệu Tước, Thẩm Oánh, Lưu Hữu Phước, Hoàng Giác, Đoàn Chuẩn Từ
Linh, Nguyễn Văn Thương, Văn Cao, Trịnh Công Sơn...
-
Có ngưới sáng tác gợi hứng từ
dân ca (Phạm Duy), hùng tráng có tính cách tranh đấu (Lưu Hữu Phước), hay mang
tính cách địa phương (Lam Phương ), và cũng có ngưới thích khôi hài (Lê
Thuơng, Trần Văn Trạch, Lữ Liên). Sự đóng góp của biết bao nhạc sĩ có tài của
miền Nam Việt Nam cần phải được duy tŕ qua những bài viết, hay những quyển
sách ghi lại những tài năng âm nhạc của miền Nam trong giai đoạn 1954-75. Chỗ
đứng của Trần Văn Trạch hoàn toàn riêng biệt trong vườn hoa âm nhạc Việt Nam
và sự đóng góp của Chú tôi cho nền tân nhạc Việt sẽ để lại cho thế hệ mai sau
một h́nh ảnh khó kiếm giữa rừng nhạc Việt đầy hoa thơm cỏ lạ.
-
-
Trần Quang Hải (Paris, Pháp)
-
| |
|