Văn Học
Nghệ Thuật
Sinh Hoạt
Phiếm Luận
Trang Thân Hữu Thơ - Văn
Diễn Đàn
Giải Trí
Thư Tín
 
 
                    Bạn Thù Muôn Mặt
 
  Vào thời Chiến Quốc (481-221 trước Công Nguyên) ở Trung Hoa, tại đất Dương Thành có Vương Dũ, một ẩn sĩ chọn Vân Mộng Sơn làm nơi tu luyện. Tiên sinh tài năng trí tuệ tuyệt vời, được thiên hạ xưng tụng Quỷ Cốc tiên sinh, là người biết suy việc trước, đoán việc sau, thao lược biến hóa vô cùng, bố trận điều binh rất diệu, kiến thức uyên bác, mưu lược khôn lường và có tấm ḷng khoan dung độ lượng. Tiên sinh rất kén chọn đệ tử, trong số môn sinh thụ giáo đó có 4 nhân vật mà hơn hai ngh́n năm vẫn thường nhắc nhở: Bàng Quyên, Tôn Tẫn, Trương Nghi, Tô Tần.
Cùng thọ giáo sư phụ uyên thâm, đức độ, cùng am cùng cốc, cùng chia ngọt xẻ bùi, luận kiếm bàn văn... Thế nhưng v́ danh v́ lợi, v́ ḷng đố kỵ hơn thua, từ bạn biến thành mối thâm thù lưu truyền măi với đời, làm bài học suy ngẫm cho thế thái nhân t́nh, cho tâm địa của con người trước âm mưu hành sử “cạn tàu ráo máng”.
  Thời Xuân Thu (722-480 trước Công Nguyên) Trung Hoa có trên 160 nước lớn nhỏ tranh giành quyền lực, xâu xé lẫn nhau đưa đất nước vào cảnh binh đao, mạnh được yếu thua, tiêu diệt lẫn nhau kéo dài gần 250 năm. Khi ba nước Ngụy, Triệu, Hàn h́nh thành đời Chiến Quốc, có thêm những nước nhỏ và trên mười chư hầu cùng với những nước phụ cận cũng dẫn đến t́nh trạng tranh chấp lẫn nhau, c̣n lại bảy nước: Yên, Tề, Hàn, Ngụy, Triệu, Sở và Tần. Đất nước Trung Hoa vào thời Xuân Thu, Chiến Quốc chỉ giới hạn khu vực phía Bắc sông Dương Tử và phía Nam sông Hoàng Hà. Khi bảy nước mang danh “thất hùng” liên minh để đánh lẫn nhau, lúc bạn, lúc thù... vai tṛ những tay thuyết khách rất quan trọng, chuyển bạn thành thù và ngược lai.
  Bàng Quyên người nước Ngụy, Tôn Tẫn người nước Tề cùng lúc, cùng thời, nhập cuộc làm đồ đệ của Quỷ Cốc tiên sinh.
  Sau 3 năm thọ giáo, trước khi hạ san, Bàng Quyên có thề nguyền và hứa hẹn với Tôn Tẫn sẽ tận t́nh giúp đỡ người bạn đồng môn nên danh nên phận.
Với tài kinh luân, thao lược, Bàng Quyên được tiến cử làm quân sư cho Ngụy Huệ Vương, nhập cuộc, bách chiến bách thắng, tiếng tăm lẫy lừng, được hưởng bổng lộc triều đ́nh nên đem ḷng ngạo mạn, kiêu căng và muốn độc quyền trong địa vị. Bàng Quyên nghĩ tới người bạn đồng môn Tôn Tẫn, không muốn tiến cử v́ biết người bạn lại giỏi hơn ḿnh nên nghĩ tới mối nguy của người bạn lấn ḿnh hơn là chung lưng sát cánh với ḿnh. Bàng Quyên làm ngơ người bạn đồng môn Tôn Tẫn như đă hứa thề.
Biết tài Tôn Tẫn, Mặc Địch thấy chuyện bất b́nh nên yết kiến Ngụy Huệ Vương để tiến cử Tôn Tẫn. Bàng Quyên đành ḷng đón rước Tôn Tẫn về giúp Huệ Vương. Bàng Quyên vừa bầy tỏ thâm t́nh thắm thiết vừa âm mưu lập mưu kế hăm hại, trong khi đó Tôn Tẫn cả tin nên bị mắc bẫy. Ngụy Huệ Vương chặt gị Tôn Tẫn và cho thọ án h́nh.
Bàng Quyên giả ḷng nhân ái, nhận lănh Tôn Tẫn về cho ăn ở nhưng thật t́nh cố ép Tôn Tẫn chép lại bộ binh thư mà sư phụ đă truyền dạy riêng cho Tôn Tẫn năm xưa, Bàng Quyên không được sư phụ truyền đạt.
  Tôn Tẫn vỡ lẽ, bèn tương kế tựu kế, giả khùng giả điên, thần kinh bấn loạn. Bàng Quyên bèn phơi bày tâm địa của ḿnh, nhốt Tôn Tẫn vào chuồng heo để coi Tôn Tẫn điên thật hay giả, Tôn Tẫn thản nhiên ăn ở chung với heo.
Mặc Địch biết chuyện, thương người có tài gặp hoạn nạn, t́m cách liên lạc cho Điền Kỵ biết, lập phương kế sang Ngụy để nhận kẻ điên và cụt gị về Tề. Tôn Tẫn trở lại b́nh thường và được Tề Hầu phong làm Quân Sư.
Ngụy, Tề xảy ra chiến trận. Bàng Quyên thống lănh ba quân của Ngụy, Tôn Tẫn coi đạo quân của Tề, dụ Bàng Quyên tới Mă Lăng, quân Ngụy bị đánh tan nát, Bàng Quyên bị vây khốn, chợt thấy nơi cây đại thọ có hàng chữ được khắc trước: “Bàng Quyên tử thử thọ hạ. Quân sư Tôn thị”. Binh phục của Tôn Tẫn bắn chết Bàng Quyên như lời thề của Tôn Tẫn dưới gốc cây nầy quyết tiêu diệt người bạn ḷng lang dạ thú, táng tận lương tâm.
Bàng Quyên và Tôn Tẫn, hai người bạn đồng môn, trở thành hai kẻ thâm thù truyền kiếp.
Tôn Tẫn sau khi rửa được mối thâm thù, lập được công danh, chán cảnh hồng trần, từ bỏ danh lợi vào núi ẩn dật, tu tiên, bầu bạn với trời mây sông nước.
Tôn Tẫn được nhiều nhà sử học cho là cháu đích tôn của Tôn Tử (514 - 496 trước Công Nguyên), một nhà quân sự, chiến lược tài t́nh ở nước Ngô, cuối thời Xuân Thu. 
Tôn Tử, tên Vũ, tự Tràng Khanh, ở Lạc An, nước Tề, có nhiều giai thoại nói về bước tiến thân của Tôn Tử với Ngô Vương, tự ḿnh tiến thân, Ngũ Tử Tư đề cử, giúp Ngô Vương đánh Sở, chinh phục Tấn, Tần. Lập ra “Mười Ba Thiên Binh Pháp” gồm: Kế, Tác Chiến, H́nh, Thế, Hư Thực, Quân Tranh, Cửu Biến, Hành Quân, Địa H́nh, Cửu Địa, Hỏa Công và Dụng Gián, gọi là Binh Pháp Tôn Tử. Bộ binh pháp nói về kỹ thuật điều binh khiển tướng, mưu lược, dụng trí, t́nh báo... ư văn dồi dào, sâu sắc chung quanh cũng về Ta-Địch giữa Bạn-Thù.
Theo Sử Kư của Tư Mă Thiên (145-90 trước Công Nguyên): “Tôn Tử tên là Vũ, người Tề, nhân dâng binh thư, được vào yết kiến Ngô Vương Lạp Lư... Lạp Lư biết Tôn Tử có tài dụng binh bèn dùng ông làm tướng. Tây phá được cường Sở, vào được Dĩnh Đô, Bắc uy hiếp được Tề, Tấn nổi tiếng với chư hầu, phần nào nhờ có sức Tôn Tử. Tôn Vũ chết rồi, hơn trăm năm sau có Tôn Tẫn,  sinh ở vùng A Quyên, cũng là ḍng dơi Tôn Vũ...
... Ngô Khởi người Vệ, thích quân sự, đă từng theo học Tăng Tử và thờ Lỗ Quân. Tề đánh Lỗ, Lỗ Quân muốn phong Ngô Khởi làm tướng nhưng v́ vợ Ngô Khởi là người Tề, nên c̣n ngờ,  muốn cho danh phận được trót lọt, Ngô Khởi bèn giết vợ để chứng tỏ ḿnh không thân Tề. Và Ngô Khởi được Lỗ phong tướng. Ngô Khởi cầm quân đánh Tề và quân Tề bị tan ră”.
Sau nầy thêm phần bổ túc của Ngô Khởi, người nước Vệ, đời Đông Châu (Ngô Khởi là người giết vợ tiến thân) nên được gọi là Tôn Ngô Binh Pháp.
Theo Hán Thư Nghệ Văn Chi, sách binh pháp của Ngô Khởi có 48 thiên và hiện chỉ c̣n lưu lại 6 thiên về Đồ Quốc, Liệu Địch, Trị Binh, Luận Tướng, Biến Hóa, Lệ Sĩ.
Tôn Tử viết: “Đẩy vào tử địa rồi sẽ c̣n, dồn vào đất chết rồi sẽ sống” cho thấy khi bị dồn đến mức tận cùng bao giờ cũng nẩy ra sức đề kháng, phản công phi thường. Ông bà ta cũng khuyên chớ nên dồn chó vào chân tường. V́ vậy, ở đời nên học lấy lời người xưa mà giữ ḿnh.
Tôn Tẫn đă biết sống, cam chịu cực h́nh, nhịn nhục để nuôi chí phục thù, loại trừ phần tử xấu xa trong xă hội.
                                                                *
  Lịch sử Việt Nam đă để lại hậu thế biết bao “bài học đau thương” giữa những con người đă làm nên trang sử vẻ vang cho dân tộc nhưng trong tận cùng sâu thẳm của tâm thức trở thành niềm đau nhức nhói. Điển h́nh như h́nh ảnh đau thương của vị đại công thần dân tộc, một ḷng cho sơn hà xă tắc cuối cùng bị bội phản bởi bằng hữu một thời gian lao, khổ đau bên nhau, cùng cắt máu thề nguyền ở hội thề Lũng Nhai trong giai đoạn khởi nghĩa chống kẻ thù bạo tàn Bắc phương!.
Khi nước nhà bị quân nhà Minh xâm lăng, bạo tàn và khát máu. Nơi núi rừng Lam Sơn, hội thề Lũng Nhai qui tụ 28 người con thân yêu của tổ quốc, đă t́m đến với nhau, cắt máu thề nguyền, nguyện vào sinh ra tử, chấp nhận muôn ngàn gian lao nguy hiểm, khổ cực một ḷng, sống chết bên nhau. Lời thề ấy đă tạo thành sức mạnh nhiệm mầu trong suốt 10 năm (1418-1427) nằm gai nếm mật, đánh đuổi giặc Minh, quang phục tổ quốc. Nguyễn Trăi (1380-1442) cùng với Lê Lợi mang nặng thù nhà, nợ nước, quyết một ḷng đánh đuổi quân Minh. H́nh ảnh “Lê Lợi vi quân, Nguyễn Trăi vi thần” đă làm nên trang sử hào hùng của dân tộc Việt Nam.
  Trong gian lao, B́nh Định Vương Lê Lợi xem Nguyễn Trăi (cháu ngoại Trần Nguyên Đán) và Trần Nguyên Hăn (cháu nội Trần Nguyên Đán) trong t́nh ruột thịt như máu và tim.
Đánh đuổi được giặc Minh ở Bắc phương, vị anh hùng dân tộc áo vải Lam Sơn trở thành hoàng đế, lập ra triều đại Tiền Lê (1428-1527), đem lại thanh b́nh cho đất nước.
Thế nhưng! trong ánh hào quang của giai đoạn đầu bước chân vào ngưỡng cửa danh vọng, bởi danh và lợi, triều đ́nh quy nạp bầy tôi đố kỵ, nịnh bợ... biến bạn thành thù, tấu hót với nhà Vua để loại trừ những công thần đă tận trung với nước.
  Lê Thái Tổ (1428-1433) đă ghi lại trang sử vàng son cho dân tộc, tiếc rằng nhà vua cho bắt giết Tả Tướng Trần Nguyên Hăn, Thái Úy Phạm Văn Xảo... và ngay cả đệ nhất công thần Nhập Nội Hành Khiển, Lại Bộ Thượng Thư Nguyễn Trăi cũng bị hạ ngục. Trong lúc gian nguy, bạn cùng chí hướng có nhau đến khi thái b́nh bị đám bầy tôi chỉ biết ganh ghét ăn hại, đem lời gièm pha, lung lạc t́nh cảm với bậc minh quân chuyển bạn thành thù trong miếng đỉnh chung.
  Đến đời Lê Thái Tông (1434-1442), Nguyễn Trăi đă trải qua bao giai đoạn thăng trầm, điêu linh trong lúc triều đại xảy ra diễn biến dồn dập  bởi bọn nịnh thần, năm 1437, Nguyễn Trăi lui về quy ẩn vói cỏ cây ở núi Lam Sơn  nhưng rồi oan nghiệt lại ập đến trong vụ án Lệ Chi Viên, nhận lănh bản án thảm khốc “tru di tam tộc”!
  Trong Việt Nam Sử Lược, Trần Trọng Kim ghi lại những ḍng ai oán:
“Nghĩ mà buồn thay cho mấy người công thần đời xưa chỉ lầm ví hai chữ công danh mà đem tấm ḷng son sắt đi phù tá quân vương trong lúc gian nguy, mong được chút hiển vinh để cho thỏa cái chí trượng phu ở đời, ngờ đâu chim bay đă hết, cung tốt cất đi, thỏ lanh chết rồi, chó săn phải giết; đến khi công việc xong rồi th́ không những là một thân một ḿnh cũng không được trọn vẹn mà cả họ hàng thường cũng vạ lây! Thế mới biết, chỉ có Trương Tử Pḥng nhà Hán là người kiến cơ hơn cả”.
Tài năng và đức độ của bậc chính nhân quân tử đă có ảnh hưởng quan trọng, v́ thế Nguyễn Trăi chết đi nhưng không bị uất hận ngh́n thu. Sau đời Lê Nhân Tông (1443-1459), hai mươi năm sau, Lê Thánh Tông (1460-1497) nhận biết được thiên tài Nguyễn Trăi, cởi oan khiên, truy phong chức tước, tên tuổi của Nguyễn Trăi được lưu truyền hậu thế. Lê Thánh Tông cho đi t́m con cháu lưu lạc sống sót để được hưởng bổng lộc.
Chân dung Nguyễn Trăi c̣n được ghi tạc trong câu thơ của Lê Thánh Tông:
“Tấm ḷng Nguyễn Trăi sáng đẹp như sao Khuê” để đời đời ghi nhớ.
Khi oan nghiệt của Nguyễn Trăi về sau được Lê Thánh Tông giải oan và phục hồi danh dự, tuy muộn màng nhưng đă tô điểm lại vết son đă bị bôi đen cho triều đại nhà Lê.
  Trong lịch sử Việt Nam cũng thường đề cập đến h́nh ảnh hai người bạn cùng chiến tuyến rồi trở thành đối nghịch: Đặng Trần Thường và Ngô Th́ Nhậm vào thời Nguyễn - Tây Sơn cách đây tṛn hai thế kỷ.
Đặng Trần Thường (1759-1813), người Nam Định, trước kia theo Tây Sơn cùng với Ngô Th́ Nhậm, cả hai đều uyên bác nên thường tranh chấp và bất đồng ư kiến, Đặng Trần Thường vào Gia Định, theo Nguyễn Ánh, chống lại Tây Sơn. Ông được thăng chức từ Tán Lư đến Binh Bộ thượng thư. Khi đạt được vinh quang, ông có tính cao ngạo, hiềm khích với mọi người.
Ngô Th́ Nhậm (1746 - 1803), nhà ngoại giao lỗi lạc, khi quân Tây Sơn của Nguyễn Huệ kéo quân ra Bắc để “pḥ Lê diệt Trịnh”, Ngô Th́ Nhậm được tiến cử phong chức Công Bộ thị lang, mưu thần trong quân trướng. Khi quân Thanh đem quân sang xâm lăng nước ta, Ngô Th́ Nhậm đă sát cánh cùng vua Quang Trung đánh đuổi quân Thanh; ông được đảm nhận Binh Bộ Thượng Thư và Chánh Sứ. Vua Quang Trung ngợi khen về Ngô Th́ Nhậm: “Ngọn bút của Ngô Th́ Nhậm có sức mạnh phi thường, ngăn được 20 vạn quân sĩ nhà Thanh”.
Khi nhà Nguyễn tiêu diệt Tây Sơn, Ngô Thời Nhậm bị bắt giải về Bắc Thành, vẫn hào khí, một ḷng với Tây Sơn nên khi bị Đặng Trần Thường trả đũa v́ mối tị hiềm bất đồng chính kiến năm xưa, bèn ra câu đối móc hiểm.
“Ai công hầu, ai khanh tướng, trong trần ai ai dễ biết ai?”.
Ngô Thời Nhậm thản nhiên đối đáp:
“Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế!”.
Đặng Trần Thường sai người đánh Ngô Thời Nhậm đến chết. Oan khiên quả báo, sau nầy đại quan Đặng Trần Thường hiềm khích với  Tướng quân Lê Chất, bị Lê Chất tố ngược, vướng phải lỗi lầm, hạ ngục và bị xử giáo.
  Thời kỳ Tự Đức (1847-1883) thực dân Pháp xâm lăng VN, ḥa ước Nhâm Tuất, Pháp bắt triều đ́nh Huế kư 3 tỉnh miền Đông Nam kỳ cho Pháp. Trong thời buổi nhiễu nhương đó, có hai ông bạn “văn hữu” Phan Văn Trị & Tôn Thọ Tường, người v́ dân tộc, quê hương, kẻ v́ vinh thân ph́ gia nên dứt bạn thành thù.
Phan Văn Trị (1830-1910), người Vĩnh Long, thường gọi là Cử Trị và Tôn Thọ Tường (1825-1877), tỉnh Gia Định. Cả hai cùng sinh hoạt thơ văn với nhau với nhau, tham gia trong nhóm Bạch Mai Thi Xă, bầu rượu túi thơ, tương tri tương đắc.
Đau thương trước hoạn nạn của đất nước, không chịu ra hợp tác với thực dân Pháp để được hưởng vinh hiển mà cùng nhóm sĩ phu nổi dậy chống Pháp. Giao du với nhiều nhà nho yêu nước ở miền Nam như Bùi Hữu Nghĩa, Nguyễn Đ́nh Chiểu, Nguyễn Thông..., Phan Văn Trị được thực dân mời hợp tác nhưng đă từ chối và dùng ng̣i bút của kẻ sĩ yêu nước bút chiến với “văn hữu” Tôn Thọ Tường. Phan Văn Trị coi Tôn Thọ Tường như kẻ thù ngu dại, dơ bẩn và tồi tệ đă mượn “hơi hùm” của thực dân để phản bội đất nước, ông cảm thấy xấu hổ v́ có người bạn trong thi xă năm xưa. Trong các bài thơ bút chiến, Phan Văn Trị đă khẳng khái chửi thẳng vào bọn tham quan hại dân hại nước, trong đó có Tôn Thọ Tường:
Đứa dại trót đời già cũng dại
 Lựa là tuổi mới một đôi mươi”.
Tôn Thọ Tường theo thực dân Pháp, mượn thơ văn để lấp liếm thái độ “thức thời” của “Từ Thứ Quy Tào” nên trả đũa lại Phan Văn Trị:
“Trâu ngựa dù kêu chi cũng mặc,
Thân c̣n chẳng kể, kể chi danh”
Trong cuộc bút chiến, ngoài Mười Bài Liên Hoàn của Tôn Thọ Tường, và bài Tôn Phu Nhân Quy Thục mượn h́nh ảnh ngày xưa trước thời thế để nói thái độ thức thời của ông. Phan Văn Trị đă họa lại Mười Bài Liên Hoàn đó và bài Cảm Hoài gồm mười bài để họa lại bài thơ Tôn Phu Nhân Quy Thục.
Khi Tôn Thọ Tường qua đời, Phan Văn Trị chỉ sáng tác những ḍng thơ nói về niềm đau của đất nước bị xâm lăng, không nhắc ǵ về Tôn Thọ Tường.
                                                 *
  Tôn Tẫn, Trần Nguyên Hăn, Nguyễn Trăi, Ngô Th́ Nhậm, Phan Văn Trị... với tâm hồn trong sáng, thái độ minh bạch, con đường chính đạo, qua thời gian và lịch sử dù có biến thiên nhưng vẫn không phai mờ.
Nhà văn Pháp Voltaire (1694-1778) c̣n là một triết gia và nhà lư luận cho rằng có thể đề pḥng với kẻ thù nhưng không thể đề pḥng với bạn. Thực tế đă chứng minh rất nhiều trong lịch sử. Nói đến kẻ thù, nói đến mối hiểm nguy, đáng sợ. Saadi đă nói rất chí lư kẻ thù của bạn dù khiêm nhượng đến đâu, bạn phải nên nhớ, hắn là kẻ đáng sợ.
  Nói đến bạn, trong tiếng Anh, Pháp, Hán... và nhất là ngôn ngữ chúng ta có rất nhiều từ để gọi tùy theo nghề nghiệp, chức năng, hoàn cảnh, môi trường... áp dụng cho phù hợp với ư nghĩa của nó. Mỗi từ, tự nó thể hiện ư nghĩa sâu sắc, biết được thân hay sơ, tri kỷ tri bỉ, qua đường. Với thù, có lẽ chẳng có bao nhiêu từ. Đă thù th́ luận giải cho nhiều làm ǵ, nhọc công, tốn sức.
Một người bạn xấu chỉ hăm hại được người bạn xấu, nhưng bạn ở lănh vực rộng lớn, tầm cỡ “đất nước” như “người bạn đồng minh” mà chơi xấu th́ nguy hại cho cả dân tộc, đất nước.
Nh́n lại lịch sử, nh́n lại bi thảm của cuộc chiến xảy ra trên đất nước rồi nh́n lại những diễn tiến xảy ra, phơi bày sự thật của quá khứ giữa bạn “đồng minh” cùng kẻ thù đă mập mờ, lấp lửng với nhau, thật đau ḷng và buồn cười!
Trong và ngoài cuộc chiến Việt Nam đă để lại không biết bao nhiêu bài học đau thương về bạn - thù nhất là là h́nh ảnh “người bạn đồng minh” đă một thời vào sinh ra tử thế nhưng lại thay ḷng đổi dạ để bán đứng dân tộc điêu đứng, tang thương!.
  Kẻ chiến bại vào ṿng lao lư, gia đ́nh ly tán và t́m vùng đất hồi sinh nơi hải ngoại; trong khi đó “người bạn đồng minh” vạch lại lộ tŕnh rồi giao hảo và không biết sẽ là bạn hay thù giữa hiện tại với tương lai.
Đơn cử h́nh ảnh người cựu thù năm xưa Đại Úy Douglas “Pete” Peterson, tháng 9 năm 1966 thi hành phi vụ 67 trên chiếc Phantom F-4B, trúng hỏa tiễn SAM-2, thảm bại bên gốc cây xoài ở Xuân Đoài, Bắc Việt rồi trải qua 6 năm rưỡi trong lao tù ở Hỏa Ḷ, Hà Nội. Sau ba thập niên kẻ thù hùng hổ áp tải “tên giặc lái”, thời thế thay đổi kẻ thù khúm núm đón tiếp kẻ thù năm xưa, vẫn h́nh ảnh Pete Peterson. Sự nhố nhăng, kịch cỡm, tráo trở trong lá bài chính trị, vừa hô hào chống đối, vừa tung hô nối lại nhịp cầu và tiếp rước, thể hiện bản chất thay h́nh đổi dạng!.
  H́nh ảnh “giặc lái P. Peterson” như hàng trăm h́nh ảnh “giặc lái” khác của “đế quốc thâm thù” bỗng trở thành những người bạn vĩ đại, được đón tiếp long trọng c̣n hơn lănh tụ lụ khụ trong hệ thống Xă Hội Chủ Nghĩa, nghĩ cho cùng, khác ǵ tṛ cười cho thế nhân.
  Hỡi ôi! khi rời “Khách Sạn Hilton” ở Hà Nội vào tháng 3 năm 1973, chàng P.  Peterson thề thốt: “Lạy Chúa, con thề sẽ không bao gị trở lại chốn nầy nữa!”. Thế nhưng, sau 31 năm xa cách lời thề, tháng 5 - 1997 Pete Peterson đến Hà Nội được báo chí gọi đùa “phi vụ 68”. Chàng tuyên bố: “Xây dựng chiếc cầu qua ḍng sông của khổ đau” làm bàn dân thiên hạ liên tưởng đến h́nh ảnh “Cầu Sông Kwai”!.
Chiếc cầu thời kỳ Nhật Hoàng Hirohito vào đầu thập niên 1940 thực hiện cho tuyến đường sắt nối liền từ Mă Lai qua Thái Lan và vùng núi non hiểm trở Thanbyuzayat ở Miến Điện. Chiếc cầu bắt qua ḍng sông Mae Khlong với cái giá máu xương trên nửa triệu người tù binh và dân chúng bỏ thây nơi núi rừng ám khí. Con số đó tương đương với oan hồn của người Việt đi t́m tự do bị vùi thây trên biển cả, trên núi rừng biên giới!
  Sự đời muôn vàn mỉa mai và buồn cười!. Đổi bạn ra thù và chọn thù bầu bạn chỉ là hành vi và thái độ bất chính, tà đạo, dù có thành công cũng chỉ được giai đoạn, cuối cùng cũng bị đào thải và bị nguyền rủa. Khổng Tử cho rằng có ba loại bằng hữu có ích: hữu dụng, trực hữu dụng, hữu đa văn. Và, có 3 hạng bằng hữu vô tích sự: hữu biền tịch, hữu thiện nhu, hữu biền nịnh. Nhà thơ ngụ ngôn Pháp La Fontaine lưu ư về sự  tráo trở của con người khi trở thành kẻ thù: con rắn độc.
  Than ôi! người đời muôn mặt, giữa chính và tà, giữa bạn và thù... nếu không b́nh tâm suy ngẫm, không nhận chân sự thật, trắng đen... làm tổn thương cho nhau, tạo nên bao vết thương ḷng!.
            
                                                 Vương Trùng Dương
                                              Ngẫm Chuyện Nhân Sinh
 
            
         Trở Lại Thư Mục
                Sinh Hoạt
         
        Trở Lại Thư Mục
         Trang Thân Hữu
           
          Trở Lại Thư Mục
                   Giải Trí
            
        Trở Lại Thư Mục  
                Thơ Văn
 
         Trở Lại Thư Mục
                 Thư Tín
               
          Trở Lại Thư Mục        
                Diễn Đàn
            
          Trở Lại Thư Mục
                   Văn Học
            
        Trở Lại Thư Mục
              Nghệ Thuật
        
       Trở Lại Thư Mục       
              Phiếm Luận
 
Vương Trùng Dương  Email: caliweekly@yahoo.com - vuongtrungduong@yahoo.com