-
Bạn Thù Muôn Mặt
-
-
Vào thời Chiến Quốc (481-221
trước Công Nguyên) ở Trung Hoa, tại đất Dương
Thành có Vương Dũ, một ẩn sĩ chọn Vân Mộng Sơn làm
nơi tu luyện. Tiên sinh tài năng trí tuệ tuyệt
vời, được thiên hạ xưng tụng Quỷ Cốc tiên sinh, là
người biết suy việc trước, đoán việc sau, thao
lược biến hóa vô cùng, bố trận điều binh rất diệu,
kiến thức uyên bác, mưu lược khôn lường và có tấm
ḷng khoan dung độ lượng. Tiên sinh rất kén chọn
đệ tử, trong số môn sinh thụ giáo đó có 4 nhân vật
mà hơn hai ngh́n năm vẫn thường nhắc nhở: Bàng
Quyên, Tôn Tẫn, Trương Nghi, Tô Tần.
-
Cùng thọ giáo sư phụ uyên thâm, đức
độ, cùng am cùng cốc, cùng chia ngọt xẻ bùi, luận
kiếm bàn văn... Thế nhưng v́ danh v́ lợi, v́ ḷng
đố kỵ hơn thua, từ bạn biến thành mối thâm thù lưu
truyền măi với đời, làm bài học suy ngẫm cho thế
thái nhân t́nh, cho tâm địa của con người trước âm
mưu hành sử “cạn tàu ráo máng”.
-
Thời Xuân Thu (722-480 trước Công
Nguyên) Trung Hoa có trên 160 nước lớn nhỏ tranh
giành quyền lực, xâu xé lẫn nhau đưa đất nước vào
cảnh binh đao, mạnh được yếu thua, tiêu diệt lẫn
nhau kéo dài gần 250 năm. Khi ba nước Ngụy, Triệu,
Hàn h́nh thành đời Chiến Quốc, có thêm những nước
nhỏ và trên mười chư hầu cùng với những nước phụ
cận cũng dẫn đến t́nh trạng tranh chấp lẫn nhau,
c̣n lại bảy nước: Yên, Tề, Hàn, Ngụy, Triệu, Sở và
Tần. Đất nước Trung Hoa vào thời Xuân Thu, Chiến
Quốc chỉ giới hạn khu vực phía Bắc sông Dương Tử
và phía Nam sông Hoàng Hà. Khi bảy nước mang danh
“thất hùng” liên minh để đánh lẫn nhau, lúc bạn,
lúc thù... vai tṛ những tay thuyết khách rất quan
trọng, chuyển bạn thành thù và ngược lai.
-
Bàng Quyên người nước Ngụy, Tôn
Tẫn người nước Tề cùng lúc, cùng thời, nhập cuộc
làm đồ đệ của Quỷ Cốc tiên sinh.
-
Sau 3 năm thọ giáo, trước khi hạ
san, Bàng Quyên có thề nguyền và hứa hẹn với Tôn
Tẫn sẽ tận t́nh giúp đỡ người bạn đồng môn nên
danh nên phận.
-
Với tài kinh luân, thao lược, Bàng
Quyên được tiến cử làm quân sư cho Ngụy Huệ Vương,
nhập cuộc, bách chiến bách thắng, tiếng tăm lẫy
lừng, được hưởng bổng lộc triều đ́nh nên đem ḷng
ngạo mạn, kiêu căng và muốn độc quyền trong địa
vị. Bàng Quyên nghĩ tới người bạn đồng môn Tôn
Tẫn, không muốn tiến cử v́ biết người bạn lại giỏi
hơn ḿnh nên nghĩ tới mối nguy của người bạn lấn
ḿnh hơn là chung lưng sát cánh với ḿnh. Bàng
Quyên làm ngơ người bạn đồng môn Tôn Tẫn như đă
hứa thề.
-
Biết tài Tôn Tẫn, Mặc Địch thấy
chuyện bất b́nh nên yết kiến Ngụy Huệ Vương để
tiến cử Tôn Tẫn. Bàng Quyên đành ḷng đón rước Tôn
Tẫn về giúp Huệ Vương. Bàng Quyên vừa bầy tỏ thâm
t́nh thắm thiết vừa âm mưu lập mưu kế hăm hại,
trong khi đó Tôn Tẫn cả tin nên bị mắc bẫy. Ngụy
Huệ Vương chặt gị Tôn Tẫn và cho thọ án h́nh.
-
Bàng Quyên giả ḷng nhân ái, nhận
lănh Tôn Tẫn về cho ăn ở nhưng thật t́nh cố ép Tôn
Tẫn chép lại bộ binh thư mà sư phụ đă truyền dạy
riêng cho Tôn Tẫn năm xưa, Bàng Quyên không được
sư phụ truyền đạt.
-
Tôn Tẫn vỡ lẽ, bèn tương kế tựu
kế, giả khùng giả điên, thần kinh bấn loạn. Bàng
Quyên bèn phơi bày tâm địa của ḿnh, nhốt Tôn Tẫn
vào chuồng heo để coi Tôn Tẫn điên thật hay giả,
Tôn Tẫn thản nhiên ăn ở chung với heo.
-
Mặc Địch biết chuyện, thương người
có tài gặp hoạn nạn, t́m cách liên lạc cho Điền Kỵ
biết, lập phương kế sang Ngụy để nhận kẻ điên và
cụt gị về Tề. Tôn Tẫn trở lại b́nh thường và được
Tề Hầu phong làm Quân Sư.
-
Ngụy, Tề xảy ra chiến trận. Bàng
Quyên thống lănh ba quân của Ngụy, Tôn Tẫn coi đạo
quân của Tề, dụ Bàng Quyên tới Mă Lăng, quân Ngụy
bị đánh tan nát, Bàng Quyên bị vây khốn, chợt thấy
nơi cây đại thọ có hàng chữ được khắc trước: “Bàng
Quyên tử thử thọ hạ. Quân sư Tôn thị”. Binh phục
của Tôn Tẫn bắn chết Bàng Quyên như lời thề của
Tôn Tẫn dưới gốc cây nầy quyết tiêu diệt người bạn
ḷng lang dạ thú, táng tận lương tâm.
-
Bàng Quyên và Tôn Tẫn, hai người
bạn đồng môn, trở thành hai kẻ thâm thù truyền
kiếp.
-
Tôn Tẫn sau khi rửa được mối thâm
thù, lập được công danh, chán cảnh hồng trần, từ
bỏ danh lợi vào núi ẩn dật, tu tiên, bầu bạn với
trời mây sông nước.
-
Tôn Tẫn được nhiều nhà sử học cho
là cháu đích tôn của Tôn Tử (514 - 496 trước Công
Nguyên), một nhà quân sự, chiến lược tài t́nh ở
nước Ngô, cuối thời Xuân Thu.
-
Tôn Tử, tên Vũ, tự Tràng Khanh, ở
Lạc An, nước Tề, có nhiều giai thoại nói về bước
tiến thân của Tôn Tử với Ngô Vương, tự ḿnh tiến
thân, Ngũ Tử Tư đề cử, giúp Ngô Vương đánh Sở,
chinh phục Tấn, Tần. Lập ra “Mười Ba Thiên Binh
Pháp” gồm: Kế, Tác Chiến, H́nh, Thế, Hư Thực, Quân
Tranh, Cửu Biến, Hành Quân, Địa H́nh, Cửu Địa, Hỏa
Công và Dụng Gián, gọi là Binh Pháp Tôn Tử. Bộ
binh pháp nói về kỹ thuật điều binh khiển tướng,
mưu lược, dụng trí, t́nh báo... ư văn dồi dào, sâu
sắc chung quanh cũng về Ta-Địch giữa Bạn-Thù.
-
Theo Sử Kư của Tư Mă Thiên (145-90
trước Công Nguyên): “Tôn Tử tên là Vũ, người Tề,
nhân dâng binh thư, được vào yết kiến Ngô Vương
Lạp Lư... Lạp Lư biết Tôn Tử có tài dụng binh bèn
dùng ông làm tướng. Tây phá được cường Sở, vào
được Dĩnh Đô, Bắc uy hiếp được Tề, Tấn nổi tiếng
với chư hầu, phần nào nhờ có sức Tôn Tử. Tôn Vũ
chết rồi, hơn trăm năm sau có Tôn Tẫn, sinh ở
vùng A Quyên, cũng là ḍng dơi Tôn Vũ...
-
... Ngô Khởi người Vệ, thích quân
sự, đă từng theo học Tăng Tử và thờ Lỗ Quân. Tề
đánh Lỗ, Lỗ Quân muốn phong Ngô Khởi làm tướng
nhưng v́ vợ Ngô Khởi là người Tề, nên c̣n ngờ,
muốn cho danh phận được trót lọt, Ngô Khởi bèn
giết vợ để chứng tỏ ḿnh không thân Tề. Và Ngô
Khởi được Lỗ phong tướng. Ngô Khởi cầm quân đánh
Tề và quân Tề bị tan ră”.
-
Sau nầy thêm phần bổ túc của Ngô
Khởi, người nước Vệ, đời Đông Châu (Ngô Khởi là
người giết vợ tiến thân) nên được gọi là Tôn Ngô
Binh Pháp.
-
Theo Hán Thư Nghệ Văn Chi, sách
binh pháp của Ngô Khởi có 48 thiên và hiện chỉ c̣n
lưu lại 6 thiên về Đồ Quốc, Liệu Địch, Trị Binh,
Luận Tướng, Biến Hóa, Lệ Sĩ.
-
Tôn Tử viết: “Đẩy vào tử địa rồi sẽ
c̣n, dồn vào đất chết rồi sẽ sống” cho thấy khi bị
dồn đến mức tận cùng bao giờ cũng nẩy ra sức đề
kháng, phản công phi thường. Ông bà ta cũng khuyên
chớ nên dồn chó vào chân tường. V́ vậy, ở đời nên
học lấy lời người xưa mà giữ ḿnh.
-
Tôn Tẫn đă biết sống, cam chịu cực
h́nh, nhịn nhục để nuôi chí phục thù, loại trừ
phần tử xấu xa trong xă hội.
-
*
-
Lịch sử Việt Nam đă để lại hậu thế
biết bao “bài học đau thương” giữa những con người
đă làm nên trang sử vẻ vang cho dân tộc nhưng
trong tận cùng sâu thẳm của tâm thức trở thành
niềm đau nhức nhói. Điển h́nh như h́nh ảnh đau
thương của vị đại công thần dân tộc, một ḷng cho
sơn hà xă tắc cuối cùng bị bội phản bởi bằng hữu
một thời gian lao, khổ đau bên nhau, cùng cắt máu
thề nguyền ở hội thề Lũng Nhai trong giai đoạn
khởi nghĩa chống kẻ thù bạo tàn Bắc phương!.
-
Khi nước nhà bị quân nhà Minh xâm
lăng, bạo tàn và khát máu. Nơi núi rừng Lam Sơn,
hội thề Lũng Nhai qui tụ 28 người con thân yêu của
tổ quốc, đă t́m đến với nhau, cắt máu thề nguyền,
nguyện vào sinh ra tử, chấp nhận muôn ngàn gian
lao nguy hiểm, khổ cực một ḷng, sống chết bên
nhau. Lời thề ấy đă tạo thành sức mạnh nhiệm mầu
trong suốt 10 năm (1418-1427) nằm gai nếm mật,
đánh đuổi giặc Minh, quang phục tổ quốc. Nguyễn
Trăi (1380-1442) cùng với Lê Lợi mang nặng thù
nhà, nợ nước, quyết một ḷng đánh đuổi quân Minh.
H́nh ảnh “Lê Lợi vi quân, Nguyễn Trăi vi thần” đă
làm nên trang sử hào hùng của dân tộc Việt Nam.
-
Trong gian lao, B́nh Định Vương
Lê Lợi xem Nguyễn Trăi (cháu ngoại Trần Nguyên
Đán) và Trần Nguyên Hăn (cháu nội Trần Nguyên Đán)
trong t́nh ruột thịt như máu và tim.
-
Đánh đuổi được giặc Minh ở Bắc
phương, vị anh hùng dân tộc áo vải Lam Sơn trở
thành hoàng đế, lập ra triều đại Tiền Lê
(1428-1527), đem lại thanh b́nh cho đất nước.
-
Thế nhưng! trong ánh hào quang của
giai đoạn đầu bước chân vào ngưỡng cửa danh vọng,
bởi danh và lợi, triều đ́nh quy nạp bầy tôi đố kỵ,
nịnh bợ... biến bạn thành thù, tấu hót với nhà Vua
để loại trừ những công thần đă tận trung với nước.
-
Lê Thái Tổ (1428-1433) đă ghi lại
trang sử vàng son cho dân tộc, tiếc rằng nhà vua
cho bắt giết Tả Tướng Trần Nguyên Hăn, Thái Úy
Phạm Văn Xảo... và ngay cả đệ nhất công thần Nhập
Nội Hành Khiển, Lại Bộ Thượng Thư Nguyễn Trăi cũng
bị hạ ngục. Trong lúc gian nguy, bạn cùng chí
hướng có nhau đến khi thái b́nh bị đám bầy tôi chỉ
biết ganh ghét ăn hại, đem lời gièm pha, lung lạc
t́nh cảm với bậc minh quân chuyển bạn thành thù
trong miếng đỉnh chung.
-
Đến đời Lê Thái Tông (1434-1442),
Nguyễn Trăi đă trải qua bao giai đoạn thăng trầm,
điêu linh trong lúc triều đại xảy ra diễn biến dồn
dập bởi bọn nịnh thần, năm 1437, Nguyễn Trăi lui
về quy ẩn vói cỏ cây ở núi Lam Sơn nhưng rồi oan
nghiệt lại ập đến trong vụ án Lệ Chi Viên, nhận
lănh bản án thảm khốc “tru di tam tộc”!
-
Trong Việt Nam Sử Lược, Trần
Trọng Kim ghi lại những ḍng ai oán:
-
“Nghĩ mà buồn thay cho mấy người
công thần đời xưa chỉ lầm ví hai chữ công danh mà
đem tấm ḷng son sắt đi phù tá quân vương trong
lúc gian nguy, mong được chút hiển vinh để cho
thỏa cái chí trượng phu ở đời, ngờ đâu chim bay đă
hết, cung tốt cất đi, thỏ lanh chết rồi, chó săn
phải giết; đến khi công việc xong rồi th́ không
những là một thân một ḿnh cũng không được trọn
vẹn mà cả họ hàng thường cũng vạ lây! Thế mới
biết, chỉ có Trương Tử Pḥng nhà Hán là người kiến
cơ hơn cả”.
-
Tài năng và đức độ của bậc chính
nhân quân tử đă có ảnh hưởng quan trọng, v́ thế
Nguyễn Trăi chết đi nhưng không bị uất hận ngh́n
thu. Sau đời Lê Nhân Tông (1443-1459), hai mươi
năm sau, Lê Thánh Tông (1460-1497) nhận biết được
thiên tài Nguyễn Trăi, cởi oan khiên, truy phong
chức tước, tên tuổi của Nguyễn Trăi được lưu
truyền hậu thế. Lê Thánh Tông cho đi t́m con cháu
lưu lạc sống sót để được hưởng bổng lộc.
-
Chân dung Nguyễn Trăi c̣n được ghi
tạc trong câu thơ của Lê Thánh Tông:
-
“Tấm ḷng Nguyễn Trăi sáng đẹp
như sao Khuê” để đời đời ghi nhớ.
-
Khi oan nghiệt của Nguyễn Trăi về
sau được Lê Thánh Tông giải oan và phục hồi danh
dự, tuy muộn màng nhưng đă tô điểm lại vết son đă
bị bôi đen cho triều đại nhà Lê.
-
Trong lịch sử Việt Nam cũng
thường đề cập đến h́nh ảnh hai người bạn cùng
chiến tuyến rồi trở thành đối nghịch: Đặng Trần
Thường và Ngô Th́ Nhậm vào thời Nguyễn - Tây Sơn
cách đây tṛn hai thế kỷ.
-
Đặng Trần Thường (1759-1813), người
Nam Định, trước kia theo Tây Sơn cùng với Ngô Th́
Nhậm, cả hai đều uyên bác nên thường tranh chấp và
bất đồng ư kiến, Đặng Trần Thường vào Gia Định,
theo Nguyễn Ánh, chống lại Tây Sơn. Ông được thăng
chức từ Tán Lư đến Binh Bộ thượng thư. Khi đạt
được vinh quang, ông có tính cao ngạo, hiềm khích
với mọi người.
-
Ngô Th́ Nhậm (1746 - 1803), nhà
ngoại giao lỗi lạc, khi quân Tây Sơn của Nguyễn
Huệ kéo quân ra Bắc để “pḥ Lê diệt Trịnh”, Ngô
Th́ Nhậm được tiến cử phong chức Công Bộ thị lang,
mưu thần trong quân trướng. Khi quân Thanh đem
quân sang xâm lăng nước ta, Ngô Th́ Nhậm đă sát
cánh cùng vua Quang Trung đánh đuổi quân Thanh;
ông được đảm nhận Binh Bộ Thượng Thư và Chánh Sứ.
Vua Quang Trung ngợi khen về Ngô Th́ Nhậm: “Ngọn
bút của Ngô Th́ Nhậm có sức mạnh phi thường, ngăn
được 20 vạn quân sĩ nhà Thanh”.
-
Khi nhà Nguyễn tiêu diệt Tây Sơn,
Ngô Thời Nhậm bị bắt giải về Bắc Thành, vẫn hào
khí, một ḷng với Tây Sơn nên khi bị Đặng Trần
Thường trả đũa v́ mối tị hiềm bất đồng chính kiến
năm xưa, bèn ra câu đối móc hiểm.
-
“Ai công hầu, ai khanh tướng, trong
trần ai ai dễ biết ai?”.
-
Ngô Thời Nhậm thản nhiên đối đáp:
-
“Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu,
gặp thời thế, thế thời phải thế!”.
-
Đặng Trần Thường sai người đánh Ngô
Thời Nhậm đến chết. Oan khiên quả báo, sau nầy đại
quan Đặng Trần Thường hiềm khích với Tướng quân
Lê Chất, bị Lê Chất tố ngược, vướng phải lỗi lầm,
hạ ngục và bị xử giáo.
-
Thời kỳ Tự Đức (1847-1883) thực
dân Pháp xâm lăng VN, ḥa ước Nhâm Tuất, Pháp bắt
triều đ́nh Huế kư 3 tỉnh miền Đông Nam kỳ cho
Pháp. Trong thời buổi nhiễu nhương đó, có hai ông
bạn “văn hữu” Phan Văn Trị & Tôn Thọ Tường, người
v́ dân tộc, quê hương, kẻ v́ vinh thân ph́ gia nên
dứt bạn thành thù.
-
Phan Văn Trị (1830-1910), người
Vĩnh Long, thường gọi là Cử Trị và Tôn Thọ Tường
(1825-1877), tỉnh Gia Định. Cả hai cùng sinh hoạt
thơ văn với nhau với nhau, tham gia trong nhóm
Bạch Mai Thi Xă, bầu rượu túi thơ, tương tri tương
đắc.
-
Đau thương trước hoạn nạn của đất
nước, không chịu ra hợp tác với thực dân Pháp để
được hưởng vinh hiển mà cùng nhóm sĩ phu nổi dậy
chống Pháp. Giao du với nhiều nhà nho yêu nước ở
miền Nam như Bùi Hữu Nghĩa, Nguyễn Đ́nh Chiểu,
Nguyễn Thông..., Phan Văn Trị được thực dân mời
hợp tác nhưng đă từ chối và dùng ng̣i bút của kẻ
sĩ yêu nước bút chiến với “văn hữu” Tôn Thọ Tường.
Phan Văn Trị coi Tôn Thọ Tường như kẻ thù ngu dại,
dơ bẩn và tồi tệ đă mượn “hơi hùm” của thực dân để
phản bội đất nước, ông cảm thấy xấu hổ v́ có người
bạn trong thi xă năm xưa. Trong các bài thơ bút
chiến, Phan Văn Trị đă khẳng khái chửi thẳng vào
bọn tham quan hại dân hại nước, trong đó có Tôn
Thọ Tường:
-
“Đứa dại trót đời già cũng
dại
-
Lựa là tuổi mới một đôi mươi”.
-
Tôn Thọ Tường theo thực dân Pháp,
mượn thơ văn để lấp liếm thái độ “thức thời” của
“Từ Thứ Quy Tào” nên trả đũa lại Phan Văn Trị:
-
“Trâu ngựa dù kêu chi cũng mặc,
-
Thân c̣n chẳng kể, kể chi danh”
-
Trong cuộc bút chiến, ngoài Mười
Bài Liên Hoàn của Tôn Thọ Tường, và bài Tôn Phu
Nhân Quy Thục mượn h́nh ảnh ngày xưa trước thời
thế để nói thái độ thức thời của ông. Phan Văn Trị
đă họa lại Mười Bài Liên Hoàn đó và bài Cảm Hoài
gồm mười bài để họa lại bài thơ Tôn Phu Nhân Quy
Thục.
-
Khi Tôn Thọ Tường qua đời, Phan Văn
Trị chỉ sáng tác những ḍng thơ nói về niềm đau
của đất nước bị xâm lăng, không nhắc ǵ về Tôn Thọ
Tường.
-
*
-
Tôn Tẫn, Trần Nguyên Hăn, Nguyễn
Trăi, Ngô Th́ Nhậm, Phan Văn Trị... với tâm hồn
trong sáng, thái độ minh bạch, con đường chính
đạo, qua thời gian và lịch sử dù có biến thiên
nhưng vẫn không phai mờ.
-
Nhà văn Pháp Voltaire (1694-1778)
c̣n là một triết gia và nhà lư luận cho rằng có
thể đề pḥng với kẻ thù nhưng không thể đề pḥng
với bạn. Thực tế đă chứng minh rất nhiều trong
lịch sử. Nói đến kẻ thù, nói đến mối hiểm nguy,
đáng sợ. Saadi đă nói rất chí lư kẻ thù của bạn dù
khiêm nhượng đến đâu, bạn phải nên nhớ, hắn là kẻ
đáng sợ.
-
Nói đến bạn, trong tiếng Anh,
Pháp, Hán... và nhất là ngôn ngữ chúng ta có rất
nhiều từ để gọi tùy theo nghề nghiệp, chức năng,
hoàn cảnh, môi trường... áp dụng cho phù hợp với ư
nghĩa của nó. Mỗi từ, tự nó thể hiện ư nghĩa sâu
sắc, biết được thân hay sơ, tri kỷ tri bỉ, qua
đường. Với thù, có lẽ chẳng có bao nhiêu từ. Đă
thù th́ luận giải cho nhiều làm ǵ, nhọc công, tốn
sức.
-
Một người bạn xấu chỉ hăm hại được
người bạn xấu, nhưng bạn ở lănh vực rộng lớn, tầm
cỡ “đất nước” như “người bạn đồng minh” mà chơi
xấu th́ nguy hại cho cả dân tộc, đất nước.
-
Nh́n lại lịch sử, nh́n lại bi thảm
của cuộc chiến xảy ra trên đất nước rồi nh́n lại
những diễn tiến xảy ra, phơi bày sự thật của quá
khứ giữa bạn “đồng minh” cùng kẻ thù đă mập mờ,
lấp lửng với nhau, thật đau ḷng và buồn cười!
-
Trong và ngoài cuộc chiến Việt Nam
đă để lại không biết bao nhiêu bài học đau thương
về bạn - thù nhất là là h́nh ảnh “người bạn đồng
minh” đă một thời vào sinh ra tử thế nhưng lại
thay ḷng đổi dạ để bán đứng dân tộc điêu đứng,
tang thương!.
-
Kẻ chiến bại vào ṿng lao lư, gia
đ́nh ly tán và t́m vùng đất hồi sinh nơi hải
ngoại; trong khi đó “người bạn đồng minh” vạch lại
lộ tŕnh rồi giao hảo và không biết sẽ là bạn hay
thù giữa hiện tại với tương lai.
-
Đơn cử h́nh ảnh người cựu thù năm
xưa Đại Úy Douglas “Pete” Peterson, tháng 9 năm
1966 thi hành phi vụ 67 trên chiếc Phantom F-4B,
trúng hỏa tiễn SAM-2, thảm bại bên gốc cây xoài ở
Xuân Đoài, Bắc Việt rồi trải qua 6 năm rưỡi trong
lao tù ở Hỏa Ḷ, Hà Nội. Sau ba thập niên kẻ thù
hùng hổ áp tải “tên giặc lái”, thời thế thay đổi
kẻ thù khúm núm đón tiếp kẻ thù năm xưa, vẫn h́nh
ảnh Pete Peterson. Sự nhố nhăng, kịch cỡm, tráo
trở trong lá bài chính trị, vừa hô hào chống đối,
vừa tung hô nối lại nhịp cầu và tiếp rước, thể
hiện bản chất thay h́nh đổi dạng!.
-
H́nh ảnh “giặc lái P. Peterson”
như hàng trăm h́nh ảnh “giặc lái” khác của “đế
quốc thâm thù” bỗng trở thành những người bạn vĩ
đại, được đón tiếp long trọng c̣n hơn lănh tụ lụ
khụ trong hệ thống Xă Hội Chủ Nghĩa, nghĩ cho
cùng, khác ǵ tṛ cười cho thế nhân.
-
Hỡi ôi! khi rời “Khách Sạn
Hilton” ở Hà Nội vào tháng 3 năm 1973, chàng P.
Peterson thề thốt: “Lạy Chúa, con thề sẽ không bao
gị trở lại chốn nầy nữa!”. Thế nhưng, sau 31 năm
xa cách lời thề, tháng 5 - 1997 Pete Peterson đến
Hà Nội được báo chí gọi đùa “phi vụ 68”. Chàng
tuyên bố: “Xây dựng chiếc cầu qua ḍng sông của
khổ đau” làm bàn dân thiên hạ liên tưởng đến h́nh
ảnh “Cầu Sông Kwai”!.
-
Chiếc cầu thời kỳ Nhật Hoàng
Hirohito vào đầu thập niên 1940 thực hiện cho
tuyến đường sắt nối liền từ Mă Lai qua Thái Lan và
vùng núi non hiểm trở Thanbyuzayat ở Miến Điện.
Chiếc cầu bắt qua ḍng sông Mae Khlong với cái giá
máu xương trên nửa triệu người tù binh và dân
chúng bỏ thây nơi núi rừng ám khí. Con số đó tương
đương với oan hồn của người Việt đi t́m tự do bị
vùi thây trên biển cả, trên núi rừng biên giới!
-
Sự đời muôn vàn mỉa mai và buồn
cười!. Đổi bạn ra thù và chọn thù bầu bạn chỉ là
hành vi và thái độ bất chính, tà đạo, dù có thành
công cũng chỉ được giai đoạn, cuối cùng cũng bị
đào thải và bị nguyền rủa. Khổng Tử cho rằng có ba
loại bằng hữu có ích: hữu dụng, trực hữu dụng, hữu
đa văn. Và, có 3 hạng bằng hữu vô tích sự: hữu
biền tịch, hữu thiện nhu, hữu biền nịnh. Nhà thơ
ngụ ngôn Pháp La Fontaine lưu ư về sự tráo trở
của con người khi trở thành kẻ thù: con rắn độc.
-
Than ôi! người đời muôn mặt, giữa
chính và tà, giữa bạn và thù... nếu không b́nh tâm
suy ngẫm, không nhận chân sự thật, trắng đen...
làm tổn thương cho nhau, tạo nên bao vết thương
ḷng!.
-
-
Vương Trùng Dương
-
Ngẫm
Chuyện Nhân Sinh
|
|
|