-
Ngẫm Chuyện Nhân Sinh
-
Hận Thù Hai Mặt
-
-
Vào thời Chiến Quốc ở Trung Hoa, nước Ngô (địa phận tỉnh Triết Giang, Giang Tô
và một phần Sơn Đông ngày nay) và nước Việt (địa phận nam sông Hoài, sông Tứ
cho đến tỉnh Triết Giang) đánh nhau. Vua Ngô là Hạp Lư thua trận, quân Việt
đâm chết. Con Hạp Lư là Ngô Phù Sai, nối ngôi làm vua, thề thế nào cũng phục
thù báo hận cho cha mới nghe. Phù Sai bèn cho người đứng ở sân, mỗi khi nhà
vua ra vào, người ấy phải nói to lên rằng:
-
-
“Phù Sai kia! Nước Việt nó giết cha mầy mà mầy quên ư?.”
-
Phù
Sai thưa rằng:
-
-
“Dạ, không dám quên”
-
Ba năm sau, quả nhiên Ngô Phù Sai đánh được nước Việt, báo thù cho cha. Việt
Vương Câu Tiễn bại trận, phải cùng vợ sang làm người tù chăn ngựa cho nước
Ngô. Sau khi được thả về, Câu Tiễn được cầu ḥa. Tuy nhiên, ḷng căm thù,
uất hận mong rửa được thù nhà. Đêm ngày âu sầu, lo nghĩ nát gan, tan ruột.
Chất củi làm giường nằm, treo cái mật trước chỗ ngồi. Khi nằm th́ trông cái
mật; khi ăn th́ nếm cái mật. Nhà Vua đích thân cày cuốc, vợ dệt vải, làm ăn
lao khổ như thường dân. Ai là bực hiền tài th́ trọng dụng, ai là kẻ khốn khó
th́ cứu giúp. Hơn hai mươi năm trời, lúc nào cũng như vậy. Sau khi thu phục
được nhân tâm, Đại phu Văn Chủng hiến 7 kế để phục thù báo hận, đánh dẹp
nước Ngô. Trong đó, mỹ nhân kế dùng Tây Thi để cho Ngô Phù Sai say đắm trong
sắc dục, bỏ bê việc trị quốc, an dân. Nước Ngô càng ngày càng suy yếu. Nắm
được thời cơ, nước Việt thừa kế tấn công. Ngô bại trận. Ngô Vương Phù Sai tự
tử.
-
Nếu trong bối cảnh đó, Ngô Vương Phù Sai, Việt Vương Câu Tiễn cam tâm quên
mối nhục để cúi đầu toại nguyện, thụ hưởng trên ngai vàng th́ sự hưởng thụ
đó bị thiên hạ cười chê, khinh bỉ. Phù Sai trả được thù cho cha, cai trị
giang sơn nhưng rồi không biết “ôn cố tri tân” quên đi ư chí dấn thân ngày
xưa mà say đắm trong tửu sắc, ăn chơi, tinh thần bạc nhược... để rồi bị kẻ
thù năm xưa rửa hận.
-
Trên
bước đường phục quốc, trong bối cảnh đen tối của lịch sử ở Trung Hoa được
ghi trong Hán Sở Tranh Hùng, nhân vật Trương Lương với h́nh ảnh trong sáng
đă lưu truyền hơn hai ngh́n năm.
-
Vào
thế kỷ thứ II trước Công Nguyên, Tần Thủy Hoàng (246-209) đem hùng binh
tướng mạnh gồm thâu lục quốc Sở, Hàn, Ngụy, Triệu, Yên, Tề... thống nhất
Trung Hoa, áp dụng chính sách bạo tàn, dă man, giết hại muôn vạn sinh linh.
Tước đoạt tài sản 20 vạn nhà phú hào, đốt sách, chôn sống học tṛ, bắt dân
chúng xây Vạn Lư Trường Thành, bắt hơn 70 vạn người cắt sinh thực khí để làm
cung A pḥng.
-
Trương Lương, tự là Tử Pḥng, ḍng dơi cự tộc của nước Hàn. Đất nước bị mất
trong tay bạo chúa, Trương Lương uất hận, muốn trả thù ngay, thuê mướn vơ sĩ
hành thích tên bạo chúa gian ác. Mướn người vơ sĩ cầm dùi, chờ Tần Thủy
Hoàng đi ngang, xông ra đập chết, nhưng chỉ đập trúng bánh xe, việc bất
thành, Trương Lương cảm thấy hành động của ḿnh hữu dơng vô mưu trước kẻ đầy
quyền lực, tiền hô hậu ủng, bèn bỏ xứ phiêu bật giang hồ, nuôi mộng phục
quốc.
-
Trên bước đường phiêu bạt gian lao, Trương Lương gặp được vị dị nhân truyền
dạy cho binh pháp mưu lược. Nhờ có kiến thức, tâm thức trong sáng, kiên nhẫn
trên con đường quang phục quê hương, từ đó Trương Lương nhận định thế mạnh
suy trong thiên hạ, đánh giá được con người để dấn thân. Hai khuôn mặt nổi
bật nhất trong anh hùng khởi nghĩa là Sở Bá Vương Hạng Vũ và Hán Bái Công
Lưu Bang trong thời điểm diệt Tần.
-
Trương Lương nhận thấy Hạng Vũ có sức lực vô song, quân hùng tướng mạnh
nhưng hống hách, kiêu ngạo, say mê với quyền uy, thích kẻ ton hót, không
biệt trọng người tài trí mưu lược như quân sư Phạm Tăng.
-
Khi hội kiến Lưu Bang cùng những cận thần tín cẩn có tài, có đức. Trương
Lương nhận thấy Bái Công là người có chí lớn, nhẫn nại, biết quư trọng nhân
tài, thận trọng trên bước đường trung hưng đất nước. Trương Lương đầu quân,
trở thành mưu thần của Lưu Bang, thu phục được Hàn Tín về nắm giữ binh
quyền. Quân sư Trương Lương và dũng tướng Hàn Tín sát cánh cùng Lưu Bang
thân chinh trận mạc, tiêu trừ Hạng Vũ, quang phục giang sơn xă tắc. Nhà Tần
bị tiêu diệt, Lưu Bang lên ngôi vua, Hán Cao Tổ lập ra triều đại nhà Hán kéo
dài đến bốn thế kỷ, trước và sau Công Nguyên .
-
Nhà
Tần bị tiêu diệt, giết được Hạng Vũ đă sát hại phụ thân, trả được thù nhà,
đền được nợ nước, Trương Lương tự Trương Tử Pḥng măn nguyện mộng ước, không
theo mộng công hầu khanh tướng, bỏ quan về quy ẩn, vui chốn sơn lâm.
-
Thế gian được bao người như Trương Tử Pḥng, con người thể hiện được chính
khí, tâm thành, trả nợ núi sông, không màng danh lợi!
-
*
-
Lịch sử nước nhà đă lưu lại trang sử oai hùng với h́nh ảnh bậc anh thư trước
nỗi uất hận khi quân Bắc Phương xâm lược, dấy binh chống trả, rửa mối hận
thù.
-
Vào
đầu thế kỷ thứ I, nước ta c̣n bị lệ thuộc nhà Đông Hán (25-220) bên Tàu,
Thái thú Giao Chỉ là Tô Định vô cùng bạo ngược, làm lắm điều tàn ác, người
người oán hận. Chính sách ngoại biên của nhà Hán với nhiều luật lệ ngặt
nghèo, khắt khe đă khơi dậy ngọn lửa oán hờn trong ḷng dân nước Việt.
-
Trưng Trắc sinh năm Giáp Tuất, năm 14 sau Công Nguyên, quê ở Mê Linh (nay
thuộc vùng Hạ Lôi, Yên Lăng, Vĩnh Phúc). Cha là Trưng Định, làm quan Lạc
Tướng ở huyện Mê Linh. Mẹ là bà Man Thiên, tức Trần Thị Đoan, ḍng dơi Hùng
Vương.
-
Gia
đ́nh ông Đặng Tập ở Chu Diên thuộc ḍng dơi Lạc Tướng, con trai ông là Đặng
Thi Sách, khôi ngô, giỏi vơ nghệ, có tinh thần yêu nước. Được tin ở Mê Linh
có hai nữ lưu có ư chí kiên cường, dám chém đầu Tích Lâm khi buông lời khả
ố, chọc ghẹo nên cảm kích tinh thần bất khuất, t́m đến kết thân.
-
Thi
Sách và Trưng Trắc cùng chung chí hướng, tài giỏi vơ nghệ, tâm đầu ư hợp nên
kết nghĩa phu thê.
-
Năm
39, Tô Định giết Thi Sách. Vừa giận thù nhà, vừa hận nợ nước, nên Trưng Trắc
cùng với em là Trưng Nhị chiêu binh măi mă phất cờ khởi nghĩa đánh quân nhà
Hán. Sau khi làm lễ để tang chồng, Trưng Trắc thảo tờ hịch kể tội ác của
quân nhà Hán và kêu gọi dân chúng đứng dậy chống giặc thù để phổ biến khắp
nơi.
-
Dưới bóng cờ nương tử, nghĩa binh Mê Linh phá quận trị Giao Chỉ của nhà Hán,
ngày càng có thêm nhiều đoàn quân từ các nơi đổ về dưới bóng cờ khởi nghĩa
nhằm tiêu diệt quân xâm lăng.
-
Theo tiếng gọi của Trưng Trắc, Trưng Nhị, ngoài các anh hùng đáp ứng tiếng
gọi thiêng liêng, cao cả, nhiều vị nữ lưu đă dấn thân trong đó có nữ tướng
Lê Chân, quê ở An Biên, Quảng Ninh, ái nữ của Lê Đạo, nhân sĩ tài đức, nặng
t́nh yêu nước. Tô Định cho người đến gặp Lê Đạo để nói chuyện cầu hôn Lê
Chân làm vợ nhưng bị từ chối nên bày thủ đoạn trả thù, khép tội bội phản nhà
Hán để thanh toán. Lê Chân bỏ nhà vào chạy xuống vùng biển hoang vu để lẩn
tránh và chiêu nạp người tài đức để mong đợi thời cơ khởi nghĩa. Nữ tướng Lê
Chân chỉ huy nghĩa binh đánh quân Tô Định từ phía Bắc, lập được nhiều chiến
công hiển hách. Năm 42, quân Mă Viện hai mũi giáp công với thủy bộ, tuy quân
ít nhưng bà vẫn kiên tŕ cầm cự trong thời gian khá lâu cho đến khi thất thế
bà tự vẫn để nêu cao khí tiết bậc nữ tướng.
-
Nữ tướng Thánh Thiên ở Bích Uyển (Hải Hưng), mang nặng thù nhà nợ nước, có
tài thao lược, đứng lên chiêu tập nghĩa quân, lực lượng của bà đồn trú ở
phía Bắc, áp đảo quân Tô Định. Bà được Hai Bà Trưng trọng vọng, sau khi Hai
Bà Trưng tự vẫn, bà vẫn tiếp tục chiến đấu với quân của Mă Viện, bởi quân
ít thế cô bà theo gương Hai Bà Trưng để giữ vững tiết tháo.
-
Nữ
tướng Thiều Hoa ở Lăng Xương, Vĩnh Phúc, hưởng ứng tiếng gọi của Trưng Trắc,
Trưng Nhị, bà đầu quân và là người có tài, đức nên được giao phó chỉ huy đạo
quân, mở những trận đánh làm quân Đông Hán khiếp sợ.
-
Là
bậc nữ lưu thuở đó nhưng rất kiên cường và đầy khí phách. Lời thề của Trưng
Trắc đă được ghi lại trong Thiên Nam Ngữ Lục:
-
“Một, xin rửa sạch thù nhà
-
Hai,
xin dựng lại nghiệp xưa vua Hùng
-
Ba,
kẻo không oan ức ḷng chồng
-
Bốn,
xin vẻn vẹn sở công lênh nầy”
-
Chẳng bao lâu, quân của Hai Bà Trưng đă đánh hạ được tất cả 65 thành, Tô
Định khiếp sợ, chạy về Nam Hải chịu tội với vua Hán.
-
Tin
thắng trận bay đi, nhân dân các quận Hợp Phố (Quảng Đông ngày nay), Cửu Chân
và Nhật Nam (Bắc Việt và Bắc Trung Việt ngày nay) hưởng ứng rất đông theo
tiếng gọi của hai vị nữ anh thư. Thanh thế của lực lượng khởi nghĩa thật
lừng lẫy.
-
Trưng Trắc lên ngôi vua, tự xưng là Trưng Nữ Vương, đóng đô ở Mê Linh chấm
dứt 150 năm Bắc thuộc lần thứ nhất (111 trước Tây Lịch đến 39 sau Tây Lịch).
Trưng Trắc lên ngôi vua, phong cho Trưng Nhị làm B́nh Khôi Tướng Quân, nắm
giữ toàn thể quân lực.
-
Tháng Chạp năm 41, vua Hán Quang Vơ phong Mă Viện làm Phục Ba tướng quân,
mang 20 vạn quân sang đánh. Trận kịch chiến dữ dội giữa đại quân của Mă
Viện với dân binh do Trưng Nữ Vương thống lĩnh đă diễn ra ở Lăng Bạc (Đông
Triều - Yên Phong, Hà Bắc). Quân Mă Viện mai phục trên các triền đất cao
giữa vùng Lăng Bạc bị Trưng Nữ Vương đem quân tới chận đánh. Trận chiến đầu
tiên với đạo quân của Mă Viện đă mang lại thắng lợi nhưng quân sĩ đă hy sinh
quá nhiều; trước t́nh thế đó, Trưng Nữ Vương thu quân về giữ Cấm Khê (Hà Nội
- Quốc Oai - Hà Tây).
-
Mă
Viện xin tang cường thêm quân rồi tiếp tục kéo binh xâm lược, trận huyết
chiến lại xảy ra, máu chảy đỏ sông Hồng, sông Đáy. Qua bốn trận thư hùng với
quân địch, hàng vạn quân dân Việt đă bị giết và bị bắt. Quyết chống trả với
quân giặc đến cùng, Trưng Nữ Vương phải bỏ Cấm Khê lui quân về đến Hát
Giang, nơi đây v́ quân ít, thế cô và cùng đường, hai vị anh thư không muốn
rơi vào tay quân địch bèn gieo ḿnh xuống sông tự vận để bảo toàn danh tiết.
-
Đó
là ngày 6 tháng 2 năm Quư Măo (năm 43). Theo Nam Sử, Trưng Trắc hưởng hương
29 tuổi.
-
Mă
Viện đem phủ trị về đóng ở Mê Linh, dựng trụ đồng nơi phân chia địa giới,
khắc sáu chữ: “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt” nhằm đe dọa, khống chế người
dân cam phận sống trong cảnh lầm than!
-
Việt
Sử Tiêu Án của Ngô Thời Sỹ viết:
-
“Xét
quân Hai Bà Trưng bị thua chạy đến núi Hy Sơn rồi không biết đi đâu. Trong
đền thờ Hai Bà Trưng, phàm những đồ thờ tự đầu sơn đen, tuyệt không có sơn
đỏ, dân địa phương ấy không dám mặc áo đỏ, những khi đến yết cáo, ai có mặc
áo đỏ đều cởi bỏ đi, không ai dám xúc phạm đến cấm lệ. Tục truyền rằng Trưng
Vương chết v́ việc binh đao nên không sắc đỏ v́ giống như máu”.
-
Để
tỏ ḷng tôn kính, hàng năm vẫn tổ chức lễ kỷ niệm hai vị anh thư Trưng Trắc
và Trưng Nhị vào ngày mùng 6 tháng 2 Âm lịch.
-
Trong “Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca” có bốn câu:
-
“Bà
Trưng quê ở Châu Phong
-
Giận
người tham bạo, thù chồng chẳng quên
-
Chị
em nặng một lời nguyền
-
Phất
cờ nương tử, thay quyền tướng quân”
-
Sách
“Hồng Đức Quốc Âm Thi Tập” có những vần thơ vịnh Hai Bà Trưng:
-
“Giúp dân dẹp loạn trả thù ḿnh
-
Chị
rủ cùng em kết nghĩa binh...
-
...
C̣n nước, c̣n non, c̣n miếu mạo
-
Nữ
trung đệ nhất đấng tài danh”.
-
Đây là hai vị nữ lưu đầu tiên trong lịch sử nước nhà đă dấy lên phất ngọn cờ
khởi nghĩa, với hận thù trước kẻ bạo tàn, mang nặng t́nh nhà, nợ nước mà kết
hợp với bao người cùng chung chí hướng, chính nghĩa để dấn thân.
-
Ngày nay, ngoài quê hương Mê Linh, tại băi Đồng Nhân ở vùng ngoại ô thành
phố Hà Nội có ngôi đền cất từ năm Nhâm Tuất (1142) thờ Trưng Trắc, Trưng
Nhị. Tại Hát Môn, Sơn Tây có Miếu Hát thờ phụng, theo dân gian, nơi nầy rất
linh thiêng...
-
*
-
Bên cạnh nhân vật lịch sử trước và sau Công Nguyên với h́nh ảnh tốt đẹp;
cùng mang ư chí phục thù nhưng thiếu chính nghĩa, với ḷng tà, không những
kết hợp để cùng nhau chung tay gầy dựng mà c̣n gây nguy hại cho mọi người mà
ngay cả bản thân.
-
Điển
h́nh qua h́nh ảnh đó, nhân vật hư cấu Cô Tô Mộ Dung được Kim Dung mô tả
trong Thiên Long Bát Bộ nói lên mối hận thù của người mất nước nhưng mất
nhân tính nên trở thành điên loạn.
-
Tổ
tiên là hoàng tộc nước Tiên Ty, gọi là Đại Yên, nằm ở khu vực Đông Bắc Trung
Hoa ngày nay, gồm Liêu Ninh, Hà Bắc, Sơn Đông, Sơn Tây, Hà Nam... được h́nh
thành vào thời kỳ Nam Bắc triều trong thế kỷ thứ II và thứ IV. Thuở đó,
người Hán coi các giống dân Thác Bạt, Hung Nô, Khất Đan, Tiên Ty, Nhung
Địch... như “rợ” nhưng trong giai đoạn tranh chấp quyền lực, các giống dân
nầy đă dùng sức mạnh để chinh phục người Hán. Mộ Dung Tuấn lợi dụng lúc nhà
Hán suy yếu, đem quân đánh Ngụy, lập ra Đại Yên.
-
Dựa
vào lịch sử trải qua nhiều thế kỷ, ḍng họ Mộ Dung xuất hiện Thiên Long Bát
Bộ vào bối cảnh nhà Tống trong thế kỷ XI. Con của Mộ Dung Bác là Mộ Dung
Phục, c̣n gọi Cô Tô Mộ Dung, Mộ Dung công tử xuất hiện giữa chốn giang hồ
như nhân vật kỳ tài, khuôn mặt thần tượng văn vơ song toàn, thông minh tuyệt
đỉnh, hào hoa phong nhă... làm tê tái, ngất ngây bao trái tim nữ lưu.
-
Nhắc
đến Cô Tô Mộ Dung, giới vơ lâm liên tưởng đến ngón đ̣n độc đáo “gậy ông đập
lưng ông” đă gây kinh hoàng cho vơ lâm Trung Nguyên. Nhờ mưu trí và thông
minh tuyệt đỉnh, Mộ Dung Phục biết hầu hết vơ công từ ngũ đại môn phái, cao
thủ vơ lâm đến bàng môn thổ tả... v́ vậy khi đối thủ xuất chiêu, phóng
kiêm... chàng biết được đường gươm, chiêu thức, chưởng phong và dùng ngay
“ngón nghề” của đối phương để hóa giải và khuất phục. Chiêu thức “gậy ông
đập lưng ông” làm độc giả say mê, thường được nhắc nhở, đề cập và ảnh hưởng
cho đến ngày nay, liên tưởng đến ngón đ̣n độc đáo của nhân vật hư cấu đó,
lại nhắc đến “gậy ông đập lưng ông” vô h́nh trung biến thành điển tích.
-
Biến
cố đau thương xảy ra làm tiêu tan nước Đại Yên, ḍng họ Mộ Dung ngậm ngùi
cho thân phận kẻ mất nước. Mộ Dung Bác trá tử, t́m cách xâm nhập vào Thiếu
Lâm Tự, xuống tóc làm sư qui ẩn nhằm học được 72 vơ kinh trác tuyệt của môn
phái Thiếu Lâm để có được vơ nghệ siêu quần nhằm khôi phục đất nước Đại Yên.
-
Cô
Tô Mộ Dung không như thân phụ, quang minh chính đại tái xuất giang hồ, đem
văn vơ và mưu chước của ḿnh để thu phục nhân tài hai phái hắc, bạch như
phượng hoàng trong chốn vơ lâm nhằm phát triển thế lực trên con đường phục
quốc Đại Yên.
-
Mộ
Dung say mê phục quốc, bỏ mặc t́nh yêu với h́nh ảnh Vương Ngọc Yến, con cô
con cậu. Vương Ngọc Yến tươi như hoa, văn vơ thuộc hàng cao thủ và có trí
nhớ tuyệt vời, thông minh khôn lường nhưng Cô Tô Mộ Dung vẫn lửng lơ như con
cá vàng chỉ sử dụng người đẹp ghi chép hầu hết bí kiếp để nắm hết vơ công
trong thiên hạ. Tiểu thư Vương Ngọc Yến lấy họ mẹ là Vương phu nhân, chủ
nhân Cô Tô Yến Tử Ổ, là giọt máu của Vương phu nhân và Nam Vương Đoàn Chính
Thuần. Mộ Dung Phục là biểu huynh của Vương Ngọc Yến, theo phong tục Trung
Hoa, được quyền yêu thương. Mộ Dung Phục không chọn t́nh yêu bằng trái tim
mà bằng mưu đồ chính trị v́ vậy nhân vật thần tượng của giai nhân Vương Ngọc
Yến trải qua thời gian lâu dài chu du trong chốn vơ lâm, lại cầu hôn với con
người xấu hết cỡ thợ mộc - công chúa Tây Hạ - nhằm có được địa vị trọng yếu
để mượn binh, trung hưng đất nước. Thế nhưng, nửa đường đứt gánh, Mộ Dung
Phục quay sang đầu quân làm con của nhân vật đứng đầu trong tứ ác, mệnh danh
Ác Quán Măn Doanh Đoàn Diên Khánh, đang mưu đồ làm vua nước Đại Lư. Thần
phục kẻ ác để tạo thế lực, Mộ Dung Phục nhẫn tâm sát hại thủ hạ thân tín một
ḷng một dạ nhằm giữ kín bí mật nhưng rồi tay trắng vẫn trắng tay.
-
H́nh
ảnh Cô Tô Mộ Dung với thù nhà, nợ nước phải hy sinh để quang phục Đại Yên vô
cùng cao cả và trong sáng. Thế nhưng trên con đường chiêu hiền đăi sĩ để thu
phục nhân tài, uy thế, Mộ Dung Phục đầy mưu trí, tài ba nhưng lại quá mưu
mô, thủ đoạn, bất chấp nhân nghĩa, miễn sao đoạt được mục đích để nắm lấy
quyền lực nên cuối cùng bị thảm hại, “thần kinh thương nhớ”. Mộ Dung Phục
nuôi chí phục thù nhưng tâm đầy thủ đoạn, đơn phương hành động theo mưu đồ
của ḿnh nên bị thất bại. Muốn trung hưng Đại Yên để trong tay có đầy quyền
lực, thống trị bá tánh nên tự nó đă bị cô lập, không thu phục được nhân tài
hỗ trợ cho công cuộc phục quốc. Mộ Dung Phục độc đoán với mưu mô, chước quỷ
để nắm trọn quyền lực, không biết kết hợp giữa tâm và trí, giữa đức độ và
tài năng, v́ vậy không trả được hận thù mà chuốc lấy tai hại!...
-
Mộ
Dung Bác trá tử để trau dồi vơ nghệ tuyệt đỉnh cho mộng phục quốc nhưng nơi
cửa thiền đă cảm hóa hận thù. Với cá nhân, bản thân, ông đă ngộ được ḷng từ
tâm, nhưng với đất nước, ông bỏ mặc, không trả nợ nước, không biết nghĩ đến
tiền đồ đă bị diệt vong!? Nhà văn Kim Dung xây dựng nhân vật hai nhân vật
trong cùng dóng máu với hai con đường khác nhau, cho thấy ư nghĩa, tâm trí
và tâm thành của con người khi dấn thân cho công cuộc.
-
H́nh
ảnh “Bắc Kiều Phong, Nam Mộ Dung” rạng danh khi xuất hiện trong chốn giang
hồ th́ Kiều Phong giữ được h́nh ảnh trong sáng c̣n Mộ Dung lại chôn vùi tên
tuổi.
-
Mộ
Dung Phục sát hại người tâm phúc của ḿnh, nhận kẻ ác làm cha, giao thiệp
với ai cũng đều nhẫn tâm lừa đảo để đậy được ư muốn riêng của ḿnh. Lúc nào
cũng cảm thấy bất yên, hận thù vây quanh và không biết phân biệt chính, tà
để chọn hướng đi chính đáng!
-
*
-
Ngẫm
chuyện thế gian, tự cổ chí kim có muôn vàn h́nh ảnh cao đẹp đă đề cao tinh
thần, dũng khí của bậc tiền nhân, chiến sĩ đă duy tŕ và thể hiện ư chí phục
thù với lư do chính đáng. Với bậc anh thư, anh hùng dân tộc và cả những
chiến sĩ vô danh luôn luôn nêu cao ngọn cờ chính nghĩa, quyết chí phục thù
để bảo vệ giang sơn, xă tắc. Bao nhiêu anh hùng vị quốc vong thân được lưu
truyền trang sử, trong đó tinh thần phục thù cho đất nước bị xâm chiếm giữ
vai tṛ trọng yếu.
-
Chọn
lọc những câu chuyện xưa, Cổ Học Tinh Hoa đă đơn cử h́nh ảnh ở Trung Hoa
cách đây hơn hai ngh́n năm về giá trị của tinh thần, ư chí phục thù với lời
bàn: “Một bên thù cha mà báo thù, một bên v́ nước mà báo thù, hai cái thù
không đội trời chung, mà dụng tâm theo đuổi đến lúc báo thù kỳ được mới nghe
thực là chính đáng, khiến ai nghe thấy cũng phải kính phục...”.
-
Lời
bàn trong Cổ Học Tinh Hoa cho thấy trân quư ư chí bất khuất của h́nh ảnh
người xưa trước niềm đau của kẻ chiến bại, không chùn bước mà đứng đậy đối
đầu với ḷng dũng khí và thức thời trước danh lợi.
-
Đơn
cử h́nh ảnh nước nhà với bậc nữ lưu như Trưng Trắc, Trưng Nhị mà vua Tự Đức
đă ca ngợi: “Hai Bà Trưng là khách quần thoa, thế mà ḷng hăng việc nghĩa,
c̣n làm rung động được triều đ́nh nhà Hán! Dẫu thế lực yếu, thời vận ngửa
nghiêng, cũng đủ dấy dức ḷng người, rỡ ràng sử sách...”. Thời kỳ trọng nam
khinh nữ của thuở xa xưa mà trước cảnh lầm than của đất nước, phái yếu đứng
dậy để ghi lại trang sử tốt đẹp cho dân tộc, thắp sáng ngọn lửa cho hậu thế,
quả là phi thường.
-
Và, cùng con đường phục quốc với hận thù sát cánh bên ḿnh nhưng mang bản
chất đố kỵ, chỉ biết mưu đồ với bản thân, gian xảo, độc đoán... như h́nh ảnh
nhân vật hư cấu trong Thiên Long Bát Bộ, quả là bài học cho kẻ có tâm tà,
thiếu đạo lư không thể mượn danh nghĩa nào cả để đánh bóng mà nói chuyện hận
thù.
-
Vương Trùng Dương
-
Ngẫm Chuyện Nhân Sinh
|