|
KIM DUNG,
Cuộc Đời, Tác Phẩm &
Nhân Vật Hư Cấu & Hiện Thực
Vương Trùng Dương
Trung Hoa chiếm trên diện tích
rộng lớn, chạy dài từ kinh tuyến 75 đến kinh tuyến 125 và từ vỹ tuyến 25
lên vỹ tuyến 55 với diện tích hơn 3 triệu rưỡi dặm vuông (trên 9 triệu
rưỡi cây số vuông).
Phía Đông, chạy dọc từ Bắc xuống Nam có các tỉnh Hắc Long
Giang (Heilongjiang) giáp biên giới Nga, Kiết Lâm (Jilin) và Liêu Ninh
(Liaoning) giáp biên giới Triều Tiên và dọc theo ven biển Tahí b́nh Dương
gồm các tỉnh Hà Bắc (Heibei) có thủ đô Bắc Kinh, thành phố Thiên Tân...
Sơn Đông (Shandong), Giang Tô (Jiangsu) có thành phố Nam Kinh, Thượng
Hải... Triết Giang có thành phố Hàng Châu, Giang Tô... Phúc Kiến (Fujian)
có thành phố Phúc Châu... và Quảng Đông.
Từ Đông sang Tây có Quảng Đông (Guangdong), Quảng Tây
(Guangxi), Vân Nam (Yuannan) giáp biên giới Việt Nam. Chạy dần vế hướng
Bắc có Phúc Kiến (Fujian), Giang Tây (Jangxi), Hồ Nam (Hunan), Quư Châu
(Guizhou); Triết Giang (Zhejiang), An Huy (Anhui), Hồ Bắc (Hubei), Tứ
Xuyên (Sichuan), Tây Tạng (Tibet – bị xâm chiếm vào thập niên 50);, Giang
tô (Jiangsu) Hà Nam (Henan), Sơn Tây (Shaanxi), Sơn Đông (Shandong), Hà
Bắc (Hebei), Ninh Hả (Ningxia) Cam Túc (Gansu), Thanh Hải (Qinghai), Tân
Cương (Xingjiang); và Nội Mông (Inner Mongolia - phần đất của Mông Cổ)
nằm về phái Tây của 3 tỉnh Đông Bắc: Liêu Ninh (Liaoning), Kiết Lâm
(Jilin), Hắc Long Giang (Heilongjiang)...
*
Vào thập niên 40, tiểu thuyết vơ
hiệp được xuất hiện ở Việt Nam bàng bạc qua sách báo nhưng chưa tạo được
thế đứng trong giới thưởng ngoạn. Ở Đài Loan và Hồng Kông, Kim Dung không
phải là nhà văn tiên phong về loại tiểu thuyết đem vơ nghệ trong thế giới
vơ lâm tạo thành tác phẩm - tiểu thuyết kiếm hiệp, vơ hiệp kỳ t́nh, chưởng
- nhưng ông là người đă đưa bộ môn nầy lên đỉnh vinh quang. Những cây bút
trong tiểu thuyết vơ hiệp như Trương Mộng Hoàn, Nghê Khuông, Cổ Long, Gia
Cát Thanh Vân, Ngọa Long Sinh, Lương Vũ Sinh, Mộ Dung Mỹ, Nam Kim Thạch,
Độc Cô Hồng, Liễu Tân Dương, Trần Thanh Vân... xuất hiện cùng thời điểm
với Kim Dung nhưng ng̣i bút của Kim Dung như kiếm khách tuyệt luân đem thế
giới giang hồ trong vơ lâm vào ngôn ngữ văn chương.
Tên ông đă gắn liền với bộ môn tiểu thuyết kiếm hiệp bởi bề
dày của tác phẩm và được phát hành rộng răi khắp thế giới. Theo con số
thống kê ở Hồng Kông vào cuối thập niên 90 của thế kỷ XX, trong thị trường
đọc chữ Hán trên thế giới, sách của ông đă tiêu thụ hàng trăm triệu bản.
Tại Đài Loan, theo con số công bố của tạp chí People, tháng 10 năm 1994,
trong ṿng gần 5 năm từ 1990 đến 1994, Kim Dung đứng dầu trong danh sách
10 tác giả có số lượng bản in bán nhiều nhất với 4 triệu 200.000 bản,
trong khi Quỳnh Giao đứng thứ tám với 600.000 bản.
Tại Trung Cộng, khi tác phẩm Kim Dung được phổ biến, trong
năm 1985, nhà xuất bản ở Thiên Tân mua được bản quyền để in và bán ra với
số lượng 40 triệu bản.
Tác phẩm của ông được dịch ra nhiều thứ tiếng như Đại Hàn,
Nhật Bản, Thái Lan, Mă Lai, Ư, Tây Ban Nha, Nga, Anh, Pháp...
Ở Việt Nam, theo bài viết của Hồ Tây th́ vào cuối năm
1960, có thêm các tờ báo ra đời, đó là tờ Đồng Nai, Saigon Mai, Tiếng
Dân, Mới, Dân Việt. Để có độc giả, Cao Giao hỏi ư kiến Vũ Khắc Khoan về
truyện kiếm hiệp mà đi đâu Vũ Khắc Khoan đều kể là mê lắm... Cao Giao đặt
Tiền Phong dịch bộ Bích Huyết Kiếm đăng trên tờ Đồng Nai, Đồ Mập dịch Anh
Hùng Xạ Điêu cho tờ Dân Việt, Văn Giang thấy hai tờ báo kia có tiểu thuyết
kiếm hiệp của Kim Dung nên nhờ Vũ Tài Lục và Hải Âu Tử dịch Thần Điêu Hiệp
Lữ cho tờ Mới... Khi Tiền Phong Từ Khánh Phụng dịch Cô Gái Đồ Long (Đồ
Long Đao, Ỷ Thiên Kiếm) trên nhật báo Đồng Nai, thu hút độc giả khá đông,
ở đâu cũng bàn tán từng nhân vật vừa ly kỳ, hấp dẫn. Năm 1962, Hồ Tây và
Tiền Phong sang Hồng Kông gặp Kim Dung để bàn thảo về vấn đề chuyển dịch.
Sau đó, dịch giả Hàn Giang Nhạn, Phan Cảnh Trung, Lăo Sơn
Nhân, Từ Khánh Vân nhập cuộc, tác phẩm của Kim Dung xuất hiện trên nhiều
tờ báo ở Sài G̣n với Hiệp Khách Hành, Vơ Lâm Ngũ Bá, Thiên Long Bát Bộ,
Tiếu Ngạo Giang Hồ, Lộc Đỉnh Kư... Hầu hết các nhật báo ở Sài G̣n đều
tranh nhau đăng tiểu thuyết vơ hiệp, tạo thành hiện tượng Kim Dung. Và,
hầu hết tác phẩm của Kim Dung đă được in thành sách trước năm 1975...
Khi Cô Gái Đồ Long đă làm độc giả say mê th́ Đỗ Long Vân đă
viết quyển Vô Kỵ Giữa Chúng Ta hay Hiện Tượng Kim Dung, được ghi nhận là
tác phẩm đầu tiên ở Việt Nam viết về Kim Dung. Sau hai năm 1967-1968, Tiếu
Ngạo Giang Hồ tung hoành trên làng báo Sài G̣n, nhà báo Trần Việt Sơn
chuyên về b́nh luận chính trị trên tờ Chính Luận đem ư nghĩa câu chuyện
với h́nh ảnh Ngũ Nhạc Kiếm Phái của chính giáo đă thiếu tinh thần đoàn kết
để đối đầu với Triêu Dương Thần Giáo của tà giáo và rút ra bài học cho
công cuộc đấu tranh trong giai đoạn hiện tại.
Miền Nam Việt Nam là môi trường phổ biến tác phẩm Kim Dung
rộng răi và có ảnh hưởng sâu rộng nhất v́ tên tuổi nhiều nhân vật hư cấu
trong tác phẩm của ông đă trở thành quen thuộc trong lúc đó, có nhiều tác
phẩm vơ hiệp khác của các tác giả ở Đài Loan và Hồng Kông cũng được phổ
biến nhưng h́nh như không được đề cập, bàn thảo.
Qua quá tŕnh xuất hiện tác phẩm của Kim Dung hằng ngày
dưới dạng “feuilleton”, ngoài lănh vực phổ biến qua sách báo, c̣n được
thực hiện thành phim, video... với tác phẩm, với nhân vật, phổ biến rộng
răi khắp năm châu. Cuối thập niên 60, ở Pháp và Hoa Kỳ đă có Hội Nghiên
Cứu Kim Dung; từ đó đến nay, nhiều nước đă thành lập Hội Nghiên Cứu Kim
Dung, trong đó ở Đài Loan, Hội Nghiên Cứu Kim Dung có trên 60,000 hội
viên.
Ḍng Đời
Nằm cạnh sông Tiền Đường, Hải Ninh thuộc tỉnh Triết Giang,
miền duyên hải phía Đông Trung Hoa nổi tiếng với danh lam non nước hữu
t́nh và cũng là nơi xuất hiện nhiều nhân tài, địa linh nhân kiệt. Nơi đó,
trên cổng vào từ đường ḍng họ Tra, treo câu đối của vua Càn Long ca ngợi
gốc gác và danh giá họ Tra: “Đường Tống dĩ lai cư tộc. Giang Nam hữu sổ
nhân gia”.
Kim Dung tên thật là Tra Lương Dung, sinh ngày 8 tháng 2
năm 1924, ở trấn Viên Hoa, huyện Hải Ninh, tỉnh Triết Giang. Họ Tra thuộc
gia đ́nh khoa bảng, vọng tộc lưu danh qua nhiều đời. Kim Dung là người thứ
hai trong số sáu anh chị em. Thân mẫu ông là cô họ thi hào Từ Chí Ma,
thuộc ḍng dơi vọng tộc thế gia ở Hải Ninh. Chẳng may bà qua đời lúc ông
c̣n niên thiếu và được mẹ kế là Cổ Tú Anh nuôi dạy cho đến lúc trưởng
thành.
Ḍng họ Tra nổi tiếng với thư viện gia đ́nh Tra Thị Tàng
Thư, lưu trữ sách từ nhiều đời; tiếp nối truyền thống của tổ tiên, từ nhỏ,
Tra Lương Dung ham đọc sách nên đó cũng là môi trường thuận lơi để ông học
hỏi, t́m ṭi.
Thuở nhỏ, ông học tiểu học ở Viên Hoa, được đánh giá thông
minh, chăm chỉ. Năm lên tám tuổi, ông đọc bộ tiểu thuyết đầu tiên là bộ
Hoang Giang nữ hiệp của Cố Minh Đạo (1897-1944), đọc Giang hồ Kỳ Hiệp của
B́nh Giang Bất Tiếu Sinh trên tạp chí Hồng Mai Khôi, Cận Đại Hiệp Nghĩa
Anh Hùng trên tờ Trinh Thám Thế Giới... thấy say mê nên từ đó đă có mộng
sẽ viết về bộ môn này.
Kim Dung trưởng thành trong giai đoạn chiến tranh Trung -
Nhật bùng nổ dữ dội và quân đội Nhật đă xâm lăng từ Măn Châu dần đến những
tỉnh, thành khác dọc theo duyên hải Trung Hoa, bên cạnh đó, cuộc chiến
Quốc - Cộng ngày càng lan rộng đưa đất nước vào cảnh lầm than, đầy biến
động.
Năm 1937, mới 13 tuổi, mới học năm thứ ba trung học ở huyện
Gia Hưng, ông đă cả gan viết một cuốn sách Dành Cho Người Thi Vào Sơ
Trung, Tra Lương Dung biên soạn, nhà xuất bản ở Triết Giang ấn hành, được
nhiều người trong mấy tỉnh lân cận mua đọc. Có thể nói đó là tác phẩm đầu
tay của ông.
Hai năm sau, khi lên Liên Hợp Cao Trung, ông viết thêm cuốn
Hướng Dẫn Thi Vào Cao Trung, sách cũng được xuất bản và mọi người đều nghĩ
đó là nhà giáo, không ngờ đó là cậu học tṛ tuổi mới mười lăm.
Đến năm 1940, khi c̣n đang học năm cuối bậc Trung Học, v́
t́nh h́nh chiến sự sôi động, ông phải tản cư qua nhiều phủ huyện.
Cũng năm đó, ông viết bài cho bích báo với truyện trào
phúng dưới nhan đề Cuộc Du Hành Của Alice (dựa theo truyện Alice in
Wonderland) có ư châm biếm nhân vật Thẩm Nải Xương, Chủ Nhiệm ban Huấn
Đạo, h́nh ảnh “con rắn đeo kính” độc đoán, thủ cựu, khắc khe thái quá nên
ai cũng chán ghét... nên bị nhà trường đuổi học. Kim Dung chuyển sang học
tại trường Cù Châu, mùa hạ năm 1941, chứng kiến h́nh ảnh rất bất b́nh khi
thấy thấy giáo ỷ vào uy quyền của ḿnh nên chửi cậu học tṛ, c̣n nổi giận
muốn hành hung. Kim Dung viết bài Một Sự Ngông Cuồng Trẻ Con, bài được
đăng trên Đông Nam nhật báo, gây xôn xao cả trường Cù Châu. Nhờ bài báo
nầy, Kim Dung được nhà báo Trần Hướng B́nh đến trường t́m hiểu; sau nầy
Đông Nam nhật báo dời về Hàng Châu, Kim Dung gặp lại Trần Hướng B́nh và
dấn thân vào nghiệp dĩ trong làng báo.
Năm 1942, Kim Dung dịch một phần trong Kinh Thi sang tiếng
Anh và biên soạn tự điển Anh-Hán bỏ túi.
Năm 1944, ông thi đậu vào Học Viện Chính Trị Trung Ương của
Quốc Dân Đảng tại thủ phủ Trùng Khánh nhưng trong thời kỳ nầy có sự tranh
chấp giữa các sinh viên với nhau, Kim Dung tham dự vào “cuộc chiến” và
không hưởng ứng lời cam kết với quy ước “tham gia quân đội” nên ông bị
khai trừ. Nhờ người anh họ làm việc tại thư viện trung ương, ông được làm
việc ở đó, có th́ giờ đọc nhiều sách viết về phiêu lưu, mạo hiểm bằng
tiếng Anh, và những truyện đó đă ảnh hưởng mạnh đến lối hành văn của ông
sau này. Ông cùng hai người bạn cũng trong hoàn cảnh khó khăn nhưng cố
gắng ra đời tạp chí Thái B́nh Dương, báo đă tiêu thụ hết nhưng gặp thời
buổi leo thang, không có vốn liếng để tiếp tục nên mộng ước đành tan vỡ.
Ông vượt đường trường đến nông trường Tương Tây ở
nơi xa để thử thách với cuộc sống khác. Sau Đệ Nhị thế
chiến, khi Nhật thua trận, rút khỏi Trung Hoa, ông quay trở về cố hương
Hải Ninh, với niềm ước mong của song thân theo truyền thống khoa bảng gia
đ́nh nhưng Kim Dung đă không đáp ứng được điều đó nên hội ngộ cùng thân
nhân trong thời gian ngắn và t́m cách ra đi. Ông qua Hàng Châu làm kư giả
cho tờ Đông Nam nhật báo, nhưng không lâu, ông lại sang Thượng Hải ghi tên
học luật, ngành Quốc Tế Công Pháp ở Đại Học Đông Ngô. Bước vào đại học
nhưng với niềm ước mong trong nghiệp báo, gặp thời cơ ông là một trong ba
người trong toàn quốc đậu kỳ thi tuyển phiên dịch pháp luật của Đại Công
Báo.
Ngày 15 tháng 3 năm 1948, khi tờ Đại Công Báo tái bản tại
Hương Cảng, ông được cử sang làm việc tại đây. Trên đường từ Thượng Hải
đến Hồng Kông, Kim Dung cho biết vốn liếng chỉ có 10 Mỹ kim, mượn của
người bạn đồng hành, làm lộ phí. Tháng 11 năm 1949, ông viết một bài dài
nhan đề “Quyền Tư Hữu Của Hoa Kiều Theo Luật Quốc Tế” và từ đó chuyên viết
về bộ môn Công Pháp Quốc Tế.
Năm 1950, sau khi Cộng Sản chiếm được Trung Hoa, ở Hồng
Kông, ông trở lại Bắc Kinh với tham vọng vai tṛ của nhà ngoại giao như đă
mộng ước nhưng lư lịch bản thân gia đ́nh tư sản nên bị từ chối. Đồng thời
gia đ́nh ông bị qui tội vào thành phần địa chủ, cha ông bị đem ra đấu tố
nên từ đó Tra Lương Dung không c̣n liên lạc với gia đ́nh được nữa.
Đến năm 1952, ông sang làm việc cho tờ Tân Văn Báo, viết
phiếm luận. Cũng thời gian này, ông có viết một số truyện phim chẳng hạn
như Lan Hoa Hoa, Tuyệt Đại Giai Nhân, Tam Luyến, Hữu Nữ Hoài Xuân.... Ông
kư bút hiệu là Lâm Hoan và Diêu Linh Lan.
Thời gian Kim Dung và Lương Vũ Sinh làm việc ở báo Tân Văn,
được La Phù, chủ biên, mớm cho ông con đường đi vào tiểu thuyết vơ hiệp.
Năm 1953, Lương Vũ Sinh đă xuất chiêu trước với Long Hổ Đấu Tinh Hoa, thu
hút độc giả, đem lại kết quả tốt đẹp làm cho các báo khác lưu tâm.
Năm 1955, Hương Cảng Thương Báo nhờ La Phù t́m giúp tay
viết tiểu thuyết vơ hiệp, La Phù đă lưu tâm Kim Dung trước đây, có cơ hội
để giới thiệu cho ông vung bút và bộ truyện đầu tay của ông là Thư Kiếm Ân
Cừu Lục (Thư Kiếm Giang Sơn) với bút hiệu Kim Dung, được đăng hàng ngày
trên nhật báo Tân Văn, mỗi ngày khoảng một ngh́n chữ, kéo dài trong hai
năm. Được độc giả ái mộ, tên tuổi Kim Dung được nổi hơn Lương Vũ Sinh, khi
in thành sách, ở Nam Dương thực hiện thành phim trên truyền h́nh, tên tuổi
ông lại được chấp cánh bay cao.
Năm 1956, ông bắt đầu viết tác phẩm thứ hai là Bích Huyết
Kiếm, xuất hiện trên Hương Cảng Thương Báo, lúc nầy tiểu thuyết vơ hiệp
như làn gió mới thu hút độc giả mỗi ngày càng nhiều.
Năm 1957, ông bỏ viết báo quay sang làm việc cho công ty
điện ảnh Trường Thành, vài truyện phim được thực hiện như Ba Mối T́nh,
Đừng Bỏ Anh, Tiếng Đàn Khuya nhưng vẫn tiếp tục phóng bút với Tuyết Sơn
Phi Hồ, thấy ăn khách, ông viết Phi Hồ Ngoại Truyện, bối cảnh câu chuyện
lại xảy ra trước Tuyết Sơn Phi Hồ.
Nắm được thị hiếu của độc giả, năm 1959 và 1960, ba
tạp chí chuyên về vơ hiệp ra đời ở Hồng Kông: Vơ Hiệp Tiểu
Thuyết Chu Báo, Vơ Hiệp Thế Giới, Vơ Hiệp & Lịch Sử. Kim Dung xuất hiện
trên Vơ Hiệp & Lịch Sử với Anh Hùng Xạ Điêu (Xạ Điêu Anh Hùng truyện) với
diễn biến trong thời kỳ Thành Cát Tư Hăn của lịch sử Trung Hoa bên cạnh
các nhân vật hư cấu như Đông Tà, Tây Độc, Bắc Cái, Nam Đế, Trung Thần
Thông... làm mê hoặc độc giả.
Khi các nhân vật trong Vơ Lâm Ngũ Bá (Anh Hùng Xạ Điêu tiền
truyện) xuất hiện trên trang báo, cơn sốt về Kim Dung như bùng dậy với
từng khuôn mặt và t́nh tiết được bàn tán xôn xao. Tác phẩm Thần Điêu Hiệp
Lữ được xuất hiện ở Việt Nam vào thập niên 60 với tựa đề Thần Điêu Đại
Hiệp chưa được chuẩn xác v́ chữ “Lữ” có nghĩa là đôi bạn chân t́nh Dương
Qua - Tiểu Long Nữ.
Sau năm tháng dấn thân qua nhiều tờ báo từ đại lục sang
Hồng Kông, Kim Dung muốn tạo dựng cho ḿnh con đường độc lập nên cùng
người bạn học là Thẩm Bảo Tân cho ra đời tờ Minh Báo. Nhật báo chỉ có 4
trang, khổ tabloid, trang ba độc quyền với tiểu thuyết vơ hiệp của Kim
Dung. Ngày 20 tháng 5 năm 1959, Minh Báo tŕnh làng với Thần Điêu Hiệp Lữ,
câu chuyện tiếp nối của Anh Hùng Xạ Điêu, mỗi ngày khoảng 2000 chữ và xuất
hiện liên tục trong 3 năm. Tờ báo mỏng manh giữa rừng báo ở Hồng Kông
nhưng nhờ Thần Điêu Hiệp Lữ tung hoành trên chốn giang hồ nên Minh Báo
càng ngày càng phát triển mạnh mẽ. Thời gian đầu ra tờ Minh Báo, vợ chồng
Kim Dung sống trong hoàn cảnh khó khăn, tất cả vốn liếng dồn vào tờ báo
nhằm duy tŕ sự sống c̣n.
Tuy dốc tâm vào việc sáng tác tiểu thuyết nhưng Kim Dung
vẫn giữ c̣n dành thời giờ cho phần b́nh luận trên tờ Minh Báo rất sâu sắc.
Trước thập niên 50, Kim Dung có “mối dây liên hệ” với
vài khuôn mặt của Cộng Sản ở đại lục nên có khuynh hướng thiên tả v́ vậy
ông đă cộng tác với Đại Công Báo trong suốt 10 năm ở Hồng Kông.
Sau thời gian được tin gia đ́nh ông bị bạc đăi và mất liên
lạc, ông đă thay đổi lập trường nên trong suốt hai năm Minh Báo ra đời
1959, 1960, với lập trường thiên hữu có những bài bút chiến kịch liệt với
tờ báo thiên tả Đại Công Báo. Đứng trên quan điểm chính trị, ng̣i bút b́nh
luận sâu sắc của ông đă nâng cáo giá trị tờ Minh Báo. Năm 1957, Kim Dung
không cón cộng tác với hai tờ báo khuynh tả là Đại Công Báo và Trường
Thành Họa Báo để tham gia vào tổ chức Tự Do Báo Nghiệp Hiệp Hội.
Ngày 6 tháng 7 năm 1961, Ỷ Thiên Đồ Long, tiếp nối Thần
Điêu Hiệp Lữ, xuất hiện trên Minh Báo đưa tiểu thuyết vơ hiệp trở thành
hiện tượng trong làng báo. Và, Cô Gái Đồ Long qua bản dịch của Tiền Phong
Từ Khánh Phụng xuất hiện trong làng báo ở Sài G̣n, bộ truyện nầy kéo dài
được 3 năm. Ba bộ truyện nầy với diễn biến theo ḍng thời gian được gọi là
Xạ Điêu Tam Bộ khúc.
Năm 1960, Kim Dung c̣n sáng tác đoản truyện Bạch Mă Khiếu
Tây Phong, năm 1961 truyện Uyên Ương Đao, và năm 1963 với tác phẩm Liên
Hành Quyết nhưng với những câu chuyện riêng biệt, môn phái trong thế giới
vơ lâm không nằm trong tam bộ khúc đó nên ít gây được sự quan tâm của độc
giả.
Ngày 3 tháng 9 năm 1964, Thiên Long Bát Bộ ra mắt trên Minh
Báo và Nam Dương Thương Báo ở Singapore, kéo dài suốt 4 năm. Trong thời
gian nầy, Minh Báo đă có vị trí vững vàng trong làng báo ở Hồng Kông, Kim
Dung có dịp đi ngoại quốc nên Nghê Khuông thay ông tiếp nối xây dựng tác
phẩm. Ở Việt Nam, tác phẩm in thành sách lại chia ra Thiên Long Bát Bộ có
34 hồi và Lục Mạch Thần Kiếm gồm 120 hồi.
Năm 1965, tác phẩm Hiệp Khách Hành mang h́nh ảnh thi ca vào
thế giới vơ lâm nhưng bị lu mờ trước hào quang của tam bộ khúc quá tuyệt.
Hơn nữa, thời gian nầy, Kim Dung chuẩn bị cho Minh Báo nguyệt san và công
việc h́nh thành công ty Đại Minh Báo trong tương lai.
Sau khi t́m được cộng sự, năm 1967, Tiếu Ngạo Giang Hồ hiện
diện trên Minh Báo, nhiều tờ báo đă dịch và đăng tải liên tục suốt 2 năm.
Trong thời điểm Trung Cộng phát động cuộc Cách Mạng Văn
Hóa, phe thiên tả càng đả kích ông mạnh mẽ khi ông ủng hộ đường lối chặt
chẽ của nhà cầm quyền Hồng Kông để giữ vững tinh thần độc lập. Và năm
1968, ông xuất bản thêm tờ Tân Minh nhật báo ở Mă Lai và Singapore, lại ra
thêm tuần báo Minh Báo Chu San với tính cách giải trí, mời nữ lưu chủ biên
tờ báo và công việc phát triển tốt đẹp.
Ngày 24 tháng 10 năm 1969, Lộc Đỉnh Kư xuất hiện trên Minh
Báo, liên tục cho đến ngày 14 tháng 9 năm 1972. Bộ truyện sôi nổi và hấp
dẫn, độc giả trông đợi ng̣i bút Kim Dung tung hoành trong thế giới vơ lâm
th́ ông tuyên bố “gác kiếm”.
Kim Dung đam mê sáng tác và làm việc không mệt mỏi, vừa
viết báo, vừa viết tác phẩm liên tục hàng ngày v́ vậy, nếu tính số lượng
chữ viết qua b́nh luận thời sự và tiểu thuyết vơ hiệp, không ai phủ nhận
sức làm việc của ông. Qua công tŕnh sáng tác, ông tuyên bố toàn bộ những
ǵ ông đă viết suốt 20 năm qua thành trọn bộ 36 cuốn, dưới nhan đề “Kim
Dung, Vơ Hiệp Tiểu Thuyết Toàn Tập”.
Tháng 4 năm 1973, Kim Dung thăm Đài Loan, hội đàm với Thủ
Tướng Tưởng Kinh Quốc, nhiều nhân vật cao cấp của chính quyền Trung Hoa
Dân Quốc cùng văn giới, báo giới để trao đổi và t́m hiểu trong nhiều lănh
vực... Nhân cơ hội nầy, khi trở lại Hồng Kông, loạt bài phóng sự “Thấy Ǵ,
Nghe Ǵ, Nghĩ Ǵ Ở Đài Loan”, với cái nh́n khách quan, thực tiễn và sắc
bén của ông được mọi người ái mộ như những tác phẩm đă được ăn khách của
ông.
Trong suốt hai thập niên, tác phẩm Kim Dung được phổ biến
trên nhiều quốc gia th́ Đài Loan lại cấm, năm 1978 mới được phép chính
thức phổ biến.
Đến năm 1980, tờ Vơ Lâm tại Quảng Châu đăng truyện “Anh
Hùng Xạ Điêu”, mở đầu cho một phong trào đọc Kim Dung ngay tại hoa lục.
Sau 28 năm xa cách quê hương, năm 1981, ông cùng vợ con về
thăm Trung Cộng. Đặng Tiểu B́nh đă mời ông đàm luận nên trong dịp nầy ông
có cơ hội tiếp xúc với nhiều giới chức trong suốt thời gian 6 tuần lễ khắp
13 tỉnh để t́m hiểu và thưởng ngoạn. Năm 1984, ông lại đi Bắc Kinh và lần
này có hội kiến với Hồ Diệu Bang và năm 1985, Trung Cộng thành lập cơ
quan nghiên cứu về t́nh trạng đặc biệt của Hồng Kông sau năm 1997, ông
được mời đảm nhận ủy viên trong cơ cấu này, đặc trách tiểu tổ “Thể Chế
Chính Trị”.
Năm 1985, tác phẩm của Kim Dung được phổ biến ở Trung Cộng,
ông đă bị tai tiếng cho rằng đă thay đổi lập trường để tác phẩm được phổ
biến trong thị trường rộng lớn và bước chân vào chính trường của Trung
Cộng. Có cơ quan ngôn luận trong tay nên ông không ngần ngại nói lên quan
điểm của ḿnh trước hiện t́nh chuyển biến của Hồng Kông.
Thái độ chính trị của ông được minh định vào tháng 5 năm
1989, khi xảy ra biến cố Thiên An Môn, ông từ chức vai tṛ trong cơ quan
nghiên cứu đó để phản đối thái độ đàn áp dân chủ của Trung Cộng.
Nhân dịp kỷ niệm ba mươi năm hoạt động của công ty Minh Báo
(1959 - 1989), ông từ chức Chủ Nhiệm chấp hành, chỉ c̣n giữ chức Chủ Tịch
ban quản trị.
Năm 1993, ông lại đi Bắc Kinh để bàn về vai tṛ của Hồng
Kông sau khi Anh Quốc trao trả lại Trung Cộng do lời mời của Giang Trạch
Dân. Tháng 4 năm 1993, ông từ chức Chủ Tịch ban quản trị Công ty Minh
Báo, giữ vai tṛ Chủ Tịch danh dự, và tuyên bố hoàn toàn nghỉ ngơi như dự
tính, để có thời gian thăm viếng, tiếp xúc với sinh viên ở các đại học
trên thế giới theo lời mời làm giáo sư thỉnh giảng. Ông bày tỏ với thời
gian c̣n lại với tuổi về hưu để hoàn chỉnh lại tác phẩm đă được phổ biến
trước đó.
Trong 17 năm (1955-1972) từ tác phẩm đầu tay Thư Kiếm Ân
Thù Lục đến tác phẩm sau cùng Lộc Đỉnh Kư, toàn bộ tác phẩm của Kim Dung
trên vạn trang.
Tổng cộng có 14 bộ tiểu thuyết Vơ hiệp của Kim Dung đă lấy
những chữ đầu đặt thành câu đối cho dễ nhớ:
“Phi Tuyết Liên Thiên Xạ Bạch Lộc
Tiếu
Thư Thần Hiệp Ỷ Bích Uyên”
Phi Hồ Ngoại Truyện - Tuyết Sơn Phi Hồ – Liên Thành Quyết –
Thiên Long Bát Bộ – Xạ Điêu Anh Hùng – Bạch Mă Khiếu Tây Phong – Lộc Đỉnh
Kư
Tiếu Ngạo Giang Hồ - Thư Kiếm Ân Cừu Lục - Thần Điêu Hiệp
Lữ – Hiệp Khách Hành - Ỷ Thiên Đồ Long - Bích Huyết Kiếm - Uyên Ương Đao.
Năm 1976, đoản truyện vơ hiệp Việt Nữ Kiếm tái xuất giang
hồ nhằm gởi gấm h́nh ảnh và bối cảnh trong thời điểm Việt Vương Câu Tiễn
và Ngô Phù Sai với mối t́nh giữa Phạm Lăi và Tây Thi, hoa mộng và ngang
trái, được sở đắc với độc giả nhưng quá ngắn nên coi như phần phụ. Có lẽ,
sau khi tuyên bố gác kiêm nhưng lại sáng tác đoản truyện nầy v́ Kim Dung
muốn mượn h́nh ảnh Phạm Lăi để nói lên con đường của ḿnh khi công thành
danh toại.
T́nh Duyên
Trong tác phẩm vơ hiệp của Kim Duyên với những mối t́nh
thật tuyệt vời rất hấp dẫn, lôi cuốn độc giả. Ảnh hưởng từ cuộc sống, t́nh
trường đă xúc tác qua ng̣i bút làm phong phú từng nhân vật trong tác phẩm
trong chốn vơ lâm với non nước hữu t́nh.
Mối t́nh đầu vào lúc ông 23 tuổi, năm 1947, ông cộng tác
với tờ Đông Nam nhật báo, giữ mục trao đổi ư kiến rất ăn khách, Đỗ Dă Thu
đang theo học ở Thượng Hải, gởi thư đến ṭa soạn với sự tinh nghịch của
tuổi trẻ, trao đổi tâm t́nh và hẹn ước gặp gỡ tại tư gia. Khi ông đến,
được diện kiến chị của Đỗ Dă Thu là Đỗ Tú Nương, mới 17 tuổi, nhan sắc
thật dễ thương và từ đó, t́nh cảm bộc phát.
Qua nhịp cầu tinh nghịch của cậu em trai, mối giao t́nh
giữa Kim Dung và gia đ́nh Đỗ Tú Nương ngày thêm đậm đà. Thời gian đó, gia
đ́nh nàng lại dời về Hàng Châu, mùa Hè năm 1948, Kim Dung được tờ Đại Công
Báo biệt phái sang Hồng Kông nên trở về Hàng Châu, ra mắt song thân Đỗ Tú
Nương, xin phép cầu hôn. Hôn lễ được tổ chức tại Thượng Hải, Giám Đốc tờ
Đại Công Báo là Phí Di Dân đứng làm chủ hôn.
Kim Dung đến nhận công việc ở Hồng Kông, thời gian sau Đỗ
Tú Nương sang hội ngộ. Trong giai đoạn nầy, Kim Dung say sưa với nghiệp
báo, Đỗ Tú Nương cảm thấy trống vắng, buồn chán, không phù hợp với khung
cảnh ở Hồng Kông nên năm 1950, nàng trở lại quê nhà, sau đó, làm thủ tục
ly hôn.
Cuộc t́nh kế tiếp khi Kim Dung chia tay với người vợ đầu và
đang làm việc ở công ty điện ảnh Trường Thành, ông viết kịch bản và làm
đạo diễn trong các bộ phim như Tuyệt Đại Gia Nhân, Nữ Hữu Hoài Xuân, Tiếng
Đàn Khuya, Ba Mối T́nh... Và, trong Trường Thành, minh tinh Hạ Mông, nổi
tiếng về tài và sắc đương thời, xuất hiện trong Tuyệt Đại Giai Nhân. Cuộc
t́nh đơn phương hay không c̣n bí mật trong ṿng t́nh cảm riêng tư giữa hai
người nhưng dư luận lại bàn tán xôn xao v́ Hạ Mông, con nhà giàu có, nhiều
kẻ t́nh si có danh, nhiều của theo đuổi trong khi chàng đạo diễn đă dang
dở cuộc t́nh, đồng lương đủ nuôi bản thân và vóc dáng, không có ǵ lôi
cuốn, khó trở thành đối tượng cho minh tinh đang ăn khách nhất Hồng Kông.
Khi nghe tin Hạ Mông lập gia đ́nh với tay tỷ phú, Kim Dung
dùng ng̣i bút để vơi đi nỗi sầu nên “số lượng chữ nghĩa” xuất hiện trên
mặt báo làm mọi người kinh ngạc. Kim Dung không đề cập đến Hạ Mông nhưng
trong tác phẩm của ông, người ta cho rằng bóng dáng đó thấp thoáng trong
Hoàng Dung, Vương Ngọc Yến, Tiểu Long Nữ... Theo nhà báo Hồ Tây, trong
cuộc gặp gỡ với Kim Dung lần thứ hai vào năm 1968, Kim Dung có tâm sự
rằng, nếu không có chuyện thất t́nh v́ Hạ Mông, chưa chắc ǵ ông đă viết
được những trang tiểu thuyết kiếm hiệp đầy t́nh cảm trong Ỷ Thiên Đồ Long,
Thiên Long Bát Bộ.
Có lẽ mối t́nh si đơn phương thầm kín đó phải chôn giấu để
tránh thị phi và giữ êm thấm khi lập lại cuộc t́nh khác nên sau nầy, khi
đă có gia đ́nh, năm 1976, Hạ Mông rời Hồng Kong sang Canada, Kim Dung tổ
chức tiệc tiễn đưa và mới chính thức viết trên Minh Báo những ḍng trong
phần xă luận của ḿnh.
Người bạn đời đến với Kim Dung là Chu Mai vào đầu thập niên
60, trong thời gian c̣n khó khăn và hai người đă đồng tâm hiệp lực, nương
tựa, cảm thông với nhau trong công việc để gây dựng sự nghiệp.
Khi thành lập tờ Minh Báo, hoàn cảnh Kim Dung được ghi nhận
qua Bành Hoa và Triệu Kính Lập: “Lúc bấy giờ Kim Dung ở Tiêm sa Thủy, đêm
khuya xong việc, thuyền chở khách đă hết, phải đi thuyền nhỏ qua eo biển.
Nếu muốn sang ngay th́ phải bao cả chuyến mất 3 đồng, nếu không th́ phải
đợi đủ 6 người thuyền mới chở. Để tiết kiệm tiền, vợ chồng Kim Dung lúc ấy
đành phải chịu lạnh đứng chờ”.
Ông bà có 3 người con, hạnh phúc gắn bó với nhau trong
những năm đầu cùng hội cùng thuyền trong thời gian ra đời tác phẩm Uyên
Ương Đao đến Hiệp Khách Hành, khi Tiếu Ngạo Giang Hồ ra đời th́ t́nh cảm
hai người chỉ c̣n với bổn phận với con cái. Cuộc sống thầm lặng giữa hai
người kéo dài cho đến năm 1981, Chu Mai mang ba người con sang San
Francisco, Hoa Kỳ. Bà bước vào thương trường, nhờ quen biết nhiều nên được
thành công, hai người con gái được thành danh.
Cuộc t́nh kế tiếp kéo dài cho đến cuối đời với nàng Lâm Lạc
Di. Cuộc gặp gỡ t́nh cờ trong quán sách giữa người ái mộ và tác giả, Lâm
Lạc Di tuổi vừa đôi mươi, nhỏ hơn Kim Dung gần ba con giáp nhưng đă tâm
đầu ư hợp. Kim Dung lo cho nàng tiếp tục bước đường học vấn để có khả năng
quán xuyến công việc.
Vào thập niên 90, khi nhẹ trách nhiệm với công ty Minh Báo,
Kim Dung cùng Lâm Lạc Di có dịp chu du khắp nơi và bà đă giúp cho ông
trong bao công việc theo dự tính đă được hoạch định.
Hiểu được sóng gió trong trường t́nh của Kim Dung nên Lâm
Lạc Di rất tế nhị trong xă giao và mối liên hệ với con cái của vợ trước.
Bà chăm lo tận t́nh con cái của Chu Mai từ Hoa Kỳ về nghỉ Hồng Kông vào
mỗi dịp Hè.
Kim Dung đang sống trong hào quang của danh vọng, tiền bạc
và t́nh yêu th́ mang nỗi đau lớn nhất trong cuộc đời. khi đứa con trai của
ông là Tra Truyền Hiệp mất năm 19 tuổi vào đầu thập niên 90. Tra Truyền
Hiệp có khiếu về văn chương, ông để cho con tự do theo cách suy nghiệm
riêng tư và sở thích nhưng lúc trưởng thành lại có bệnh hoang tưởng, dần
dà trở thành trầm trọng, Kim Dung đă dày công nghiên cứu, học hỏi giáo lư
các tôn giáo để chữa trị cho con nhưng vô vọng. Ông sống như thiền sư, t́m
hiểu triết lư Phật Giáo, nghiên cứu cờ tướng và hành hương các nơi.
Tháng ngày c̣n lại trong cuộc đời ông với h́nh bóng Lâm Lạc
Di.
Tác Phẩm & Nhân Vật
Trong cuộc phỏng ấn của phóng viên Nam Hoa Bưu Điện với Kim
Dung vào mùa nè 1999 tại Hawaii, Kim Dung cho biết: “Tôi viết 15 tác phẩm
dài, bộ ngắn nhất cũng 300 trang, bộ dài nhất 2000 trang. Có thể kể ra...
Nói cho đúng chỉ có 12 bộ mà thôi nhưng người ta khi dịch thuật và sao
chép đă nâng lên 15 bộ, tôi thấy măi cũng thành quen nên cứ yên trí ḿnh
viết được bấy nhiêu”. Nhưng sau khi chỉnh lại để in thành sách, Kim Dung
xếp thành 14 bộ cho có hệ thống.
*
Thư Kiếm Ân Cừu Lục
xuất hiện trên Hương Cảng thương Báo từ trong hai năm 1955 và 1956, gồm 32
hồi, với bối cảnh lịch sử người Nữ Chân, sau đó gọi là người Măn Châu xâm
lăng Trung Hoa, thay vương triều nhà Minh của người Hán lập nên vương
triều nhà Thanh (1616-1911); trong quá tŕnh nổi dậy với công cuộc “phản
Thanh phục Minh” vào giai đoạn vua Càn Long, giữa thế kỷ XVIII với Trần
Gia Lạc, Viên Sùng Hoán, Viên Thừa Chí với các nhân vật hư cấu Hạ Tuyết
Nghi, Thiên Sơn Song Ưng, Dư Ngư Đồng, Hương Hương công chúa, Hoắc Thanh
Đồng, Lạc Băng và Lư Nguyên Chỉ... Dựa vào cái mốc của lịch sử để lồng vào
môi trường sinh hoạt của thế giới vơ lâm với công cuộc phục quốc và được
tô điểm với những bóng hồng trong vơ lâm với t́nh tiết gay cấn, đầy kịch
tính làm cho cốt truyện sinh động, lôi cuốn người đọc. Tác phẩm đầu tay
tuy chưa xuất sắc nhưng Kim Dung đă tạo được tên tuổi của ông với những
cây bút đi trước trong cùng bộ môn.
*
Bích Huyết Kiếm
được đăng tải trên Hương Cảng Thương Báo năm 1956 và 1957, gồm 24 hồi, cốt
truyện xây dựng trong giai đoạn vào cuối triều đại nhà Minh (1368-1664)
vào triều đại Sùng Trinh vào tiền bán thế kỷ XVII. Nhân vật lịch sử là Lư
Tự Thành đứng lên dựng cuộc khởi nghĩa, kéo quân từ Tây An về Bắc Kinh,
vua Sùng Trinh thất thế, treo cổ tự vận, cáo chung triều đại nhà Minh. Lư
Tự Thành liên lạc với tướng nhà Minh là Ngô Tam Quế đang trấn giữ Sơn Hải
Quan, cùng nhau chống quân Thanh nhưng Ngô Tam Quế đă nối giáo với quân
Thanh để đàn áp lực lương của Lư Tự Thành. Trong bối cảnh đó, có Viên Thừa
Chí, con trai của Viên Sùng Hoán, trong bước đường hành hiệp giang hồ
vướng mắc hệ lụy t́nh cảm với Hạ Thanh Thanh, con của Hạ Tuyết Nghi, với
An Tiểu Huệ, với Tiêu Uyển Nhi, với An Cửu công chúa... bên cạnh sứ mệnh
dấn thân cho công cuộc khởi nghĩa của Lư Tự Thành. H́nh ảnh Lư Tự Thành
của Kim Dung hơi khác với sử liệu mà chỉ với cơ may đưa đẩy nhưng không
tṛn sứ mệnh. H́nh ảnh Kim Sà Lan Quân Hạ Tuyết Nghi với nhân vật hư cấu
Ôn Phương Lộc gây ra trận thảm sát cho gia đ́nh ông, từ đó nhiều nhân vật
hư cấu khác tạo thành bức tranh sinh động, bi thương, với t́nh yêu và hận
thù chồng chéo lên nhau.
Bi kịch đưa vơ lâm vào chốn gió tanh mưa máu bởi Kim Xà bí
kíp làm đổi thay nhân t́nh thế thái.
*
Tuyết Sơn Phi Hồ
xuất hiện vào cuối năm 1957 đến đầu năm 1958 và Phi Hồ Ngoại Truyện xuất
hiện trong hai năm 1960-1961, Kim Dung lại xây dựng bối cảnh tác phẩm Phi
Hồ Ngoại Truyện xảy ra trước Tuyết Sơn Phi Hồ. Trong suốt thời gian nầy,
mỗi đêm Kim Dung viết một đoạn khoảng 8,000 chữ từ 12 giờ khuya đến sáng.
*
Phi Hồ Ngoại Truyện
c̣n gọi là Lănh Nguyệt Bảo Đao, gồm 84 hồi, khởi sự bởi cuộc so tài cao
thấp, gây nên trận đấu giữa hai cao thủ vơ lâm Liêu Đông, đại hiệp Hồ Nhất
Đao và Kim Diện Phật Miêu Nhân Phượng. Cuộc so tài không gây ra oán thù mà
tạo t́nh bạn hữu thâm giao giữa hai nhân vật vơ công thượng thừa. Trong
mối thân t́nh đó lại xảy ra oan khiên bởi âm mưu thâm độc của Điền Quy
Nông đă toan tính trước, dùng chất độc bôi trên mũi kiếm Miêu Nhân Phượng
nên Hồ Nhất Đao đă bỏ mạng v́ độc dược. Vợ của Hồ Nhất Đao không biết đó
là thủ đoạn của kẻ khác mà uất ức cho hành động đê tiện của địch thủ Miêu
Nhân Phượng c̣n giả vờ kết t́nh nghĩa với nhau nên tự vẫn để cùng sống
chết bên nhau để lại hài nhi Hồ Phi mới chào đời được vài ngày.
Thương cảm h́nh ảnh vợ chồng Hồ Nhất Đao, Bành Tứ Thức mang
Hồ Phi nuôi dưỡng và nhập cuộc trong chốn vơ lâm nhưng cuộc đời đưa đẩy
với bao sóng gió dập dồn. Hồ Phi dấn bước trên con đường gặp nhiều trắc
trở nhưng rồi cũng gặp vài nhân vật đầy ḷng nhân ái kết nghĩa huynh đệ
như Triệu Bán Sơn. Hồ Phi vẫn coi Miêu Nhân Phượng là h́nh ảnh đại hiệp và
trong lần gặp gỡ trận đấu giữa Miêu Nhân Phượng cùng Điền Quy Nông, Hồ Phi
chứng kiến tài năng của bậc đại hiệp nầy trong t́nh cảnh nguy nan. Miêu
Nhân Phượng và Nam Lan sinh hạ được đứa con gái là Miêu Nhược Lan, oan
khiên đưa đẩy, Nam Lan tư t́nh với Điền Quy Nông và với thủ đoạn đê hèn
của địch thủ, Miêu Nhân Phượng bị đui cặp mắt, lang bạt giang hồ với đứa
con côi.
Kết thúc câu chuyện với sự gặp gỡ t́nh cờ giữa Nam Lan và
Hồ Phi nơi mộ song thân, với thủ đoạn thâm độc, Nam Lan nửa úp nửa mở để
gieo oán thù giữa Hồ Phi với Miêu Nhân Phượng. Với vơ công tuyệt vời qua
Lănh Nguyệt Bảo Đao, Hồ Phi thể hiện vị trí của ḿnh trong chốn giang hồ
đă áp đảo Điền Quy Nông.
* Tuyết
Sơn Phi Hồ gồm 10 hồi, xảy ra trong bối cảnh tranh giành bảo đao của
Sấm Vương Lư Tự Thành vào năm Càn Long thứ 48 đời nhà Thanh. Miêu Nhân
Phượng trở thành nhân vật lẫy lừng trong chốn vơ lâm với danh tiếng “Đi
khắp thiên hạ không địch thủ”. Hồ Phi trẻ tuổi đă vang danh với ngoại hiệu
Tuyết Sơn Phi Hồ, với cơ trí, vơ công chữ Phi Hồ do “phi thiên hồ ly” (cáo
bay trên trời) để ca ngợi h́nh ảnh tuổi trẻ tài cao. Hơn một trăm năm
trước, vệ sĩ của Sấm Vương gồm họ Hồ, Miêu, Điền, Phạm v́ tranh nhau để
gây oán thù cho con cháu.
Đến đời vua Ung Chính (thân phụ vua Càn Long), bốn ḍng họ
nầy xảy ra cuộc tương tranh và bảo đao của Sấm Vương thuộc về tay họ Điền,
phái Thiên Long Môn nắm giữ. Thế rồi Thiên Long Môn chia ra hai phái Nam
Tông và Bắc Tông, mỗi phái nắm giữ mười năm nhưng đến khi Điền Quy Nông
th́ quên lời thệ ước nên sinh ra tranh chấp với nhau.
Câu chuyện tỷ vơ với nhau giữa hai nhân vật Hồ Nhất Đao và
Miêu Nh6n Phượng được khơi lại để nói lên t́nh bạn trao kiếm, luận vơ
nhưng kết thúc với nỗi đau thương bởi âm mưu thâm độc của kẻ đê tiện trong
ḍng họ Điền, mang oán thù để phân hóa.
Trong khi Miêu Nhân Phượng nghe danh Tuyết Sơn Phi Hồ nhưng
không biết đó là con của Hồ Nhất Đao, và gần kết câu chuyện th́ t́nh cảm
đôi lứa nảy sinh giữa Hồ Phi và Miêu Nhược Lan, con gái Miêu Nhân Phượng,
thật oái oăm.
Trận đấu cuối cùng giữa hai nhân vật xuất chúng lại xảy ra,
qua những chiêu thức thật tuyệt vời, Miêu Nhân Phượng mới biết Tuyết Sơn
Phi Hồ là con của Hồ Nhất Đao và Hồ Phi phân vân, người đứng trước mặt
ḿnh là kẻ thù nhưng ông ta là người hào khí ngất trời, anh hùng hào kiệt
và cha của ư trung nhân... Trong giây phút nguy kịch nhất, Miêu Nhan
Phượng nhận chân nên nhắm mắt để cho xong điều “báo ứng” trong lúc đó th́
Hồ Phi “không muốn chém đối phương song cũng không muốn ḿnh mất mạng”
(TSPH – KD).
Miêu Nhược Lan đứng trong tuyết rất lâu mà không thấy hai
người trở lại.
*
Anh Hùng Xạ Điêu, Thần
Điêu Hiệp Lữ và Vơ Lâm Ngũ Bá được xây dựng trong bối cảnh liên tục
với nhau tạo thành “tam bộ khúc” đưa tên tuổi Kim Dung lên đài danh vọng.
*
Anh Hùng Xạ Điêu
gồm 80 hồi, nằm trong giai đoạn đầu thế kỷ XIII, quân Kim và Nam Tống
trong thời kỳ thanh toán lẫn nhau cùng sự xuất hiện của Thành Cát Tư Hăn.
Nhiều nhân vật trong “tam bộ khúc” nầy với các trường phái được xây dựng
trong vơ lâm Trung Nguyên và dị tộc qua ng̣i bút tài t́nh, mô tả một cách
sinh động, mỗi môn phái, mỗi người mỗi vẻ với vơ công, tài trí, nét đặc
thù cùng vị trí của họ trong thế giới vơ lâm, tạo thành bức tranh tuyệt
hảo qua ng̣i bút sinh động của ông. Sự am tường về địa danh, văn hóa,
phong tục, tập quán đất nước dẫn dắt người đọc cuốn hút vào câu chuyện.
Quách Tĩnh chào đời nơi thảo nguyên và cậu bé mồ côi chịu
trải qua năm tháng nơi thảo nguyên. Thoát thai từ đó nên chân chất ngu đần
nhưng lại có cơ may được thụ giáo vơ thuật của Toàn Chân và Giang Nam thất
quái v́ vậy có cơ hội quay về Trung Nguyên để hành hiệp. Sự xuất hiện
những nhân vật đại thụ trong chốn vơ lâm như Nam Đế, Tây Độc, Bắc Cái,
Giang Nam Thất Hiệp, Chu Bá Thông.... cùng Đông Tà Hoàng Dược Sư và A Hành
với con gái là Hoàng Dung.
Bên cạnh Quách Tĩnh, có hai khuôn mặt cùng trang lứa là
Dương Khang và Âu Dương Khắc lại được hưởng nhiều ân huệ và gian manh, háo
sắc để có khuôn mặt phản diện trong tác phẩm. Người trở về từ thảo nguyên,
kẻ đến từ Đào Hoa Đảo bởi giận cha bỏ nhà ra đi, Quách Tĩnh và Hoàng Dung
gặp nhau trong mối t́nh thật lư thú. Hoàng Dung thông minh, hoạt bát;
Quách Tĩnh cục mịch, thiếu khả năng ứng xử thế mà hai tâm hồn lại gặp
nhau, có sự đồng cảm rất tế nhị. Mối t́nh của đôi trẻ đă bị chống đối bởi
hai phía chánh tà, cùng lúc đó th́ có sự sắp xếp cho Mục Niệm Từ cùng
Quách Tĩnh và Âu Dương Khắc, con của Âu Dương Phong lại cầu hôn Hoàng
Dung... nhưng nàng quyết tâm dành Quách Tĩnh cho riêng ḿnh.
Tháng ngày ở Trung Nguyên với bao biến động, trong bước
đường mong báo thù nhà, Quách Tĩnh được thụ giáo vơ công các bậc thượng
thừa, trong đó có Hồng Thất Công nên trở thành nhân vật lỗi lạc. Trải qua
tháng ngày ở Trung Nguyên, Quách Tĩnh và Hoàng Dung đến Đào Hoa đảo để xây
dựng cuộc t́nh tuyệt vời giữa biển trời.
*
Thần Điêu Hiệp Lữ
gồm 104 hồi, nối tiếp câu chuyện Quách Tĩnh và Hoàng Dung bước vào giai
đoạn mới với h́nh ảnh thế hệ thứ hai kế thừa nghiệp vơ cùng h́nh ảnh thế
hệ trước. Sự xuất hiện của Quách Phù, Quách Tường là con của Quách Tĩnh,
Hoàng Dung cùng với h́nh ảnh Dương Qua, con của Dương Khang. Dương Qua cảm
thấy đau buồn làm con Dương Khang đă bị nhiều tai tiếng bởi hành vi không
mấy tốt đẹp nên kết thúc cuộc đời thật bi thảm. Giữa Dương Qua và gia đ́nh
Quách Tĩnh với hận thù xa xưa nhưng rồi xoay chiều, trở thành mối thân
t́nh mà Dương Qua lại chịu đựng sự trừng phạt của Quách Phù, con gái Quách
Tĩnh. Nhát kiếm của Quách Phù trong cơn nóng giận, chém đứt cánh tay của
Dương Qua nên sau nầy mang ngoại hiệu “Độc Thủ đại hiệp”.
Kim Dung xây dựng mối t́nh trái với đạo lư Đông phương
nhưng rất đẹp và cao cả, đó là cuộc t́nh giữa sư phụ Tiểu Long Nữ với đồ
đệ Dương Qua! T́nh yêu chớm nở th́ Tiểu Long Nữ bị dâm tặc hăm hại nhưng
trong cơn mê tỉnh lại tưởng là h́nh ảnh người yêu. Tiểu Long Nữ hận đời,
quyên sinh. Dương Qua trải qua 16 năm trời t́m h́nh ảnh sư phụ với bao
điều ngộ nhận, đau thương, bóng chim tăm cá. Trong khi đó th́ Quách Phù,
Công Tôn Lục Đài... lại theo đuổi Dương Qua. Và, ở Tuyệt T́nh Cốc, Dương
Qua gieo ḿnh để theo h́nh bóng Tiểu Long Nữ, cùng nhau yên nghỉ ngh́n
thu, nhưng nào ngờ, nơi đáy vực thẳm đó lại là nơi trùng phùng cho cuộc
t́nh qua năm tháng chia cách.
Bên cạnh cuộc t́nh Dương Qua và Tiểu Long Nữ, cuộc t́nh
giữa Lư Mạc Sầu với Lục Triển Nguyên, t́nh yêu ngang trái đưa tâm tính thơ
ngây của Lư Mạc Sầu trở thành độc ác.
Kết thúc câu chuyện nơi Thiếu Lâm Tự, Quách Tĩnh, Hoàng
Dung, Quách Phù, Quách Tường, Dương Qua, Tiểu Long Nữ... chứng kiến sự thể
xảy ra liên quan đến Cửu Dương Chân Kinh, trong đó có sự xuất hiện chú
tiểu Trương Quân Bảo. Sau nầy trở thành chưởng môn phái Vơ Đang là Trương
Tam Phong. Năm đó, Quách Tường tuổi vừa trăng tṛn, 40 năm sau là chưởng
môn phái Nga Mi.
*
Ỷ Thiên Đồ Long,
qua bản dịch của Tiền Phong Từ Khánh Phụng, tên gọi Cô Gái Đồ Long, gồm
104 hồi, đă trở thành quen thuộc.
Bối cảnh xảy ra trong thời điểm “Năm Chí Nguyên nhị niên
của Nguyên Thuận Đế, cách năm nhà Tống diệt vong đúng sáu mươi năm” (YTĐL
– KD).
Phần kết trong Thần Điêu Hiệp Lữ được nhắc lại khi Côn Luân
Tam Thánh Hà Túc Đạo từ Tây Vực đến Thiếu Lâm Tự khiêu chiến để so tài với
vơ lâm Trung Nguyên. Không có nhân tài địch nổi Hà Túc Đạo, cuối cùng Hà
Túc Đạo đánh cuộc với chú tiểu Trương Quân Bảo, nếu chịu được mười hiệp
th́ bỏ Trung Nguyên, trở về luôn Tây Vực. Cuộc tỷ thí xảy ra, Trương Quân
Bảo nhờ luyện được Cửu Dương Chân Kinh nên Hà Túc Đạo thảm bại, giữ đúng
lời hứa, về cố hương lập ra phái Côn Luân. Tuy mang lại vinh dự cho vơ lâm
Trung Nguyên nhưng oan nghiệt lại đến với Giác Viễn đại sư và đồ đệ
Trương Quân Bảo v́ đă luyện được La Hán Quyền và Cửu Dương Chân Kinh nên
kết tội phạm môn giới. Trước t́nh thế đó, Giác Viễn viên tịch để khỏi
vướng bụi trần, chú tiểu Trương Quân Bảo rời chùa Thiếu Lâm phiêu bạt đến
thành Tương Dương theo lời chỉ của Quách Tường. Trên bước đường lưu lạc
đó, Trương Quân Bảo đến chân núi Vơ Đang, t́m hang động trú ẩn, luyện tập
Cửu Dương Chân Kinh, nghiên cứu sáng tạo vơ công và lập ra phái Vơ Đang.
Trương Tam Phong, 90 tuổi, chưởng môn phái Vơ Đang, có bảy
đồ đệ đă tạo dựng tên tuổi Vơ Đang thất hiệp trong chốn giang hồ. Tai họa
xảy ra cho Vơ Đang tam hiệp Dư Đại Nham khi phải bảo vệ Đồ Long đao,
Trương Thúy Sơn được sư phụ cho hạ san để truy t́m tung tích. Trên bước
đường hành hiệp, Trương Thúy Sơn gặp Ân Tố Tố, ái nữ của giáo chủ Bạch Mi
giáo là Ân Thiên Chính. Trong giây phút đầu, Trương Thúy Sơn thấy hành
động ngang bướng và kinh sợ hành động giết người như tṛ đùa của kẻ ma đầu
nhưng sau nầy lại vướng vào ṿng oan nghiệt của t́nh yêu. Ân Tố Tố hóa
trang, giả Trương Thúy Sơn, sát hại tất cả người trong Long Môn tiêu cục
v́ không làm tṛn phận sự bảo vệ “nhân vật” mà nàng có thiện ư giao về Vơ
Đang, và các đệ tử của chùa Thiếu Lâm đă ngăn cản công việc của nàng, gây
ra vụ nghi án dồn vào phái Vơ Đang. Trong t́nh thế rối răm đó, Kim Mao Sư
Vương Tạ Tốn bắt cóc Trương Thúy Sơn và Ân Tố Tố đem lên thuyền trốn ra
Băng Hoa đảo.
Trương Vô Kỵ là giọt máu của Thúy Sơn và Tố Tố ra đời trong
hoàn cảnh đó. Tạ Tốn bị sư phụ là Thành Khôn cưỡng đoạt vợ và nhẫn tâm
giết hại toàn gia để phi tang rồi thay h́nh đổi dạng, ẩn trốn trong chùa
Thiếu Lâm để tiếp tục gieo oán thù trong giới vơ lâm. Tạ Tốn trở thành
điên loạn và gieo kinh hoàng để giải tỏa oán thù nhưng oán cứ chồng chất
và tháng ngày trên Băng Hỏa đảo Tạ Tốn trở thành nghĩa phụ của Vô Kỵ.
Hơn mười năm ở băng đảo, Vô Kỵ trở về Trung Nguyên, đau
ḷng trước cái chết của song thân, thân côi với bao giông băo liên tục dập
nát cuộc đời cậu bé, những tay giang hồ hắc bạch lợi dụng và xâu xé Vô Kỵ
để truy t́m tung tích của Tạ Tốn với Đồ Long đao. Lớn lên trong nghịch
cảnh cuộc đời, Vô Kỵ rơi vào ṿng t́nh trường với bao t́nh cảnh trớ trêu
bên cạnh bốn bóng hồng: Chu Chỉ Nhược, Tiểu Siêu, Ân Ly và Triệu Minh.
H́nh bóng đầu tiên trong cuộc đời Vô Kỵ là Chu Chỉ Nhược, đệ tử phái Nga
My, thông minh, xinh đẹp, thương Vô Kỵ nhưng bị sư phụ là Diệt Tuyệt sư
thái bày mưu lấy Đồ Long đao và Ỷ Thiên kiếm của Vô Kỵ rồi bắt thề độc
không được kết duyên vợ chồng.
Ân Ly là con gái của người cậu ruột, v́ luyện vơ công tà
đạo nên tàn phai nhan sắc nhưng Vô Kỵ lại yêu thương, tiếc rằng nàng bị ẩn
tích trong ngôi mộ để Vô Kỵ tưởng lầm mệnh yểu. Tiểu Siêu là con gái mang
hai ḍng máu Hán và Ba Tư, nàng là thánh nữ Bái Hỏa giáo, xâm nhập Trung
Nguyên để thu thập tin tức, gặp Vô Kỵ, t́nh yêu nẩy nở nhưng cuối cùng v́
quy luật và nàng phải hy sinh cuộc t́nh v́ bổn phận làm con với thân mẫu
trong hoàn cảnh nằm trên giàn hỏa. Cuộc t́nh Vô Kỵ với Triệu Minh với bao
sóng gió, ngang trái nhưng được kết thúc rất nên thơ, Triệu Minh là con
gái của Nhử Nam Vương, đẹp tuyệt trần, thông minh và mưu mô tràn đầy, quận
chúa Triệu Minh theo bước chân của gia đ́nh Mông Cổ vào Trung Nguyên nhằm
thôn tính vơ lâm để dễ bề thống trị. Gặp Vô Kỵ, t́nh cảm cô gái lại bén rễ
v́ vậy Vô Kỵ phải cam chịu bao nỗi đoạn trường bởi nàng can dự vào. Sóng
gió trôi qua, con thuyền t́nh thong dong trên ḍng nước để chàng từ nay
trở đi ngày ngày vẽ lông mày cho nàng.
Về bối cảnh lịch sử với h́nh ảnh xuất hiện của Chu Nguyên
Chương, trở thành Thái Tổ vương triều Nhà Minh (1368-1644).
*
Qua tam bộ khúc và Ỷ Thiên
Đồ Long, tên tuổi Kim Dung rạng rỡ trên đài danh vọng. Thiên Long Bát Bộ
ra đời trên Minh Báo ngày 3-9-1964 và Nam Dương Thương Báo ở Singapore,
kéo dài trong 4 năm. Dịch giả Hàn Giang Nhạn đă đưa Thiên Long Bát Bộ trên
nhiều tờ nhật báo ở Sài G̣n vào cùng thời điểm đó. Khi tác phẩm in thành
sách lại chia ra: Thiên Long Bát Bộ với 34 hồi và Lục Mạch Thần Kiếm với
160 hồi.
Bối cảnh lịch sử xảy ra trong thế kỷ XI từ đời Tống Anh
Tông đến đời Tống Triết Tông ở Trung Hoa. Đất nước lúc đó nằm trong sự
tranh chấp quyền lực giữa Bắc Tống với Tây Hạ, Liêu (Khiết Đan) và Đại Lư.
*
Với tác phẩm Vơ Lâm Ngũ
Bá, Kim Dung đă phác họa h́nh ảnh các nhân vật để làm nền tảng cho các
môn phái được xây dựng từ Thần Điêu Đại Hiệp trở về sau. Nước Nam Chiếu có
từ đời nhà Đường ở Trung Hoa, đến đời nhà Tống trở thành nước Đại Lư. Nước
Đại Lư ở phía Tây Nam Trung Hoa, ngày nay là Vân Nam, được thành lập vào
thế kỷ thứ X, kéo dài khoảng 3 thế kỷ. Trong 22 đời vua của nước Đại Lư có
đời Bảo Định Đế Đoàn Chính Minh và Trấn Nam Vương Đoàn Chính Thuần, sau
đời Đoàn Nam Đế, như vậy sự kiện được diễn tiến theo ḍng thời gian của
lịch sử Trung Hoa.
Vơ Lâm Ngũ Bá không liệt kê trong hai câu đối đề cập về tựa
đề tác phẩm của Kim Dung v́ được xem như Anh Hùng Xạ Điêu tiền truyện mà
tác giả viết bổ túc để độc giả biết cội nguồn diễn tiến của tam bộ khúc đă
được h́nh thành nhưng không ngờ nó trở thành nền tảng cho các môn phái
chính mà nhiều tác giả khác sau nầy cũng đề cập đến trong tiểu thuyết vơ
hiệp.
Trong Vơ Lâm Ngũ Bá, Đoàn Nam Đế, ngoại hiệu là Ngọc
Động Chân Nhân, hút được huyết và ăn thịt con lươn thần Kim Thiện Vương
trong lúc đói khát, mê man bất tỉnh ba ngày, nhờ dị nhân cứu chữa, nhận
làm đệ tử. Nhờ vậy, trở thành con người ḿnh đồng da sắt, với vơ công thâm
hậu, Đoàn Nam Đế trở thành nhân vật lẫy lừng trong Vơ Lâm Ngũ Bá, mang lại
uy danh cho nước Đại Lư. Đoàn Nam Đế được Trung Thần Thông truyền môn công
phu Nhứt Dương Chỉ, trở thành nhân vật lẫy lừng trong giới vơ lâm và ḍng
họ Đoàn. Chán ngán trước danh vọng lắm bon chen, Đoàn Nam Đế xuống tóc đi
tu, pháp danh Nhứt Đăng Đại Sư, truyền ngôi lại cho em họ là Đoàn Chính
Minh, hiệu là Bảo Định Đế.
*
Trong Thiên Long Bát Bộ,
hoàng tộc họ Đoàn trải qua thời kỳ tao loạn, Đoàn Diên Khánh là con trai
duy nhất của Thượng Đức hoàng đế Hoàng Liêm Nghĩa, bị gian thần giết chết
nên Đoàn Diên Khánh bị mất tích, lưu lạc ra Đông Hải. Luyện được vơ công
thâm hậu, trở lại Đại Lư để báo thù nhưng gặp phải địch thủ hùng mạnh,
trong vài lần ác chiến bị thân tàn ma dại, người ngợm khó phân biệt, tâm
tính độc ác, đứng đầu trong tứ ác.
Trong khi đó th́ Đoàn Chính Thuần, với vương tước và vơ
công thâm hậu, trở thành thần tượng cho đấng nữ lưu nên mang thói trăng
hoa với nhiều bóng hồng, tài sắc một trời. Bên cạnh người vợ là Thư Bạch
Phụng, Đoàn Chính Thuần tiếp tục mối t́nh với Tần Hồng Miên sinh hạ được
Mộc Uyển Thanh, rồi tằng tịu với Vương Ngọc Bảo sinh hạ được Chung Linh,
Vương Ngọc Bảo lấy Chung Vạn Cừu nên mang ngoại hiệu là Chung Phu Nhân.
Đoàn Chính Thuần gian díu với Khang Mẫn, nàng lập cuộc t́nh với Mă Đại
Nguyên, bang phó Cái Bang nên gọi là Mă Phu Nhân; Đoàn lang cặp t́nh với
người đẹp A La, ngoại hiệu là Vương Phu Nhân, người Tiên Ty nước Đại Yên,
sinh hạ được Vương Ngọc Yến, tài sắc vẹn toàn. Lang chạ với Nguyễn Tinh
Túc, có hai người con là A Châu và A Tử. Thư Bạch Phụng hận chồng tệ bạc
nên đêm khuya rời khỏi pḥng với lời tự hứa, gặp bất cứ người nào sẽ hiến
thân xác cho bỏ ghét, và trong chốn sơn lâm, gặp kẻ đại gian ác thân xác
tàn tạ, hôi hám bởi thương tích, nàng t́nh nguyện trao thân, nào ngờ đó là
Đoàn Diên Khánh, kết quả với bào thai là Đoàn Dự. Oan nghiệt cho Đoàn Dự,
tưởng ḿnh là ḍng máu của Đoàn Chính Thuần v́ vậy cuộc t́nh xảy ra giữa
Mộc Uyển Thanh, Chung Linh, Vương Ngọc Yến với Đoàn Dự với bao điều ngộ
nhận, trớ trêu, gặp nhiều trường hợp rắc rối.
Trong thời điểm đó, giữa biên giới của Tống và Khiết Đan ở
Sơn Tây có con đường qua lại nơi sơn lâm với cửa ải gọi là Nhạn Môn Quan.
Trong cuộc xung đột đẫm máu, các cao thủ vơ lâm người Hán đă tàn sát thân
mẫu cùng toàn gia họ Tiêu, Tiêu Viễn Sơn nhảy xuống vực thẳm, cậu bé họ
Tiêu được sống sót và được gia đ́nh nông dân họ Kiều nuôi dưỡng, đặt tên
là Kiều Phong. Sau đó được Huyền Khổ đem vào Thiếu Lâm Tự nuôi dạy và bang
chủ Cái Bang Uông Kiếm Thông nhận làm đồ đệ và được nối chức bang chủ. Mă
Phu Nhân hận Kiều Phong không biết chiêm ngưỡng dung nhan của ḿnh nên
gieo tai họa, Kiều Phong bị tiết lộ ḍng máu Khiết Đan, họ Tiêu, v́ vậy
cuộc đời chàng gặp bao nghịch cảnh dồn dập. Với t́nh yêu rất trong sáng
cùng A Châu nhưng cuối cùng bị gài bẫy nên A Châu chết dưới tay Kiều
Phong. Trong khi đó th́ thân phụ của Kiêu Phong là Tiêu Viễn Sơn c̣n sống
và t́m cách trá h́nh ẩn náu trong Thiếu Lâm Tự để trả oán thù nhưng qua
năm tháng chứng kiến cảnh đời ô trọc, cửa chùa đă cảm hóa nhân tính.
Bắc có Kiều Phong và Nam có Mộ Dung tạo thành hai nhân vật
trẻ tuổi danh tiếng trong giới vơ lâm. Mộ Dung Phục nuôi mộng phục quốc
nhưng đi vào con đường bá đạo nên trở thành kẻ khùng điên. Kiều Phong trở
lại h́nh ảnh Tiêu Phong mang h́nh ảnh Khất Đan nhưng sống với Trung
Nguyên, tuy bị người Hán nghi ngờ “con người Khất Đan” nhưng bất chấp dư
luận, tấm ḷng đó được thể hiện vào giờ phút cuối khi Tiêu Phong giải cứu
Gia Luật Hồng Cơ, hoàng đế Khất Đan và được phong làm Nam Việt đại vương,
thống lĩnh ba quân để đánh Tống. Tiêu Phong không chấp nhận cảnh binh đao
nên đứng trước t́nh thế khó xử, nhân vật anh hùng đă đem cái chết của ḿnh
nơi Nhạn Môn Quan để hóa giải bao điều ngộ nhận đáng tiếc gây ra cảnh
thương tâm giữa hai nước.
Đoàn Dự qua bao tháng ngày gian nan, vĩnh biệt Tiêu Phong ở
Nhạn Môn Quan, trở về Đại Lư với h́nh bóng Vương Ngọc Yến.
*
Tiếu Ngạo Giang Hồ
ra đời sau vào năm 1967 đến năm 1969. Gồm 224 hồi, được đăng tải trên Minh
Báo và nhiều tờ báo tiếng Hoa, tiếng Việt và tiếng Pháp. Tiếu Ngạo Giang
Hồ là pho vơ công độc đáo được kết hợp bởi Lưu Chính Phong là sư đệ của
Mạc Đại tiên sinh, chưởng môn phái Hành Sơn, chánh đạo và Khúc Dương,
trưởng lăo Ma Giáo, cao thủ của Triêu Dương thần giáo, hắc đạo. Hai tay
cao thủ bất kể lời ngăn cản của hai giới hắc bạch xem như kẻ thù truyền
kiếp mà đem thiết cầm của Khúc Dương và tiêu phổ của Lưu Chính Phong tạo
thành khúc nhạc Tiếu Ngạo Giang Hồ khi song tấu, đem vi diệu của âm nhạc
vào công phu toàn bích của vơ công.
Tiếu Ngạo Giang Hồ đề cập đến Ngũ Nhạc kiếm phái gồm: Hằng
Sơn ở Bắc nhạc với chưởng môn Định Nhàn, Hoa Sơn ở Tây nhạc với chưởng môn
Nhạc Bất Quần, Thái Sơn ở Đông nhạc với chưởng môn Thiên Môn chơn nhân,
Hành Sơn ở Nam nhạc với chưởng môn Mạc Đại tiên sinh và Tung Sơn ở Trung
nhạc với chưởng môn Tả Lănh Thiền.
Bên cạnh Ngũ Nhạc kiếm phái đó, có Phước Oai tiêu cục của
ḍng họ Lâm với tổ phụ Lâm Viễn Đồ có môn vơ công Tịch Tà Kiếm Phổ với 72
đường kiếm độc bá thiên hạ. Bởi môn vơ công nầy mà ḍng họ Lâm bị sát hại
và các môn phái truy t́m, rồi bày ra thủ đoạn sát hại lẫn nhau.
Trong khi đó th́ phía hắc đạo với Triêu Dương thần giáo ở
Hắc Mộc Nhai có Nhậm Ngă Hành và Đông Phương Bất Bại làm giáo chủ, gây
kinh hoàng trong chốn vơ lâm.
Muốn luyện Tịch Tà Kiếm Phổ và Quỳ Hoa Bảo Điển phải dẫn
đao tự cung nhưng các tay cao thủ ham danh vọng nhằm thống lĩnh vơ lâm th́
bất chấp sự biến dạng của thân thể nên đă tạo ra bao t́nh huống thật trớ
trêu, ái nam ái nữ.
Cuộc t́nh với hai khuôn mặt trẻ là Lệnh Hồ Xung, đệ tử phái
Hoa Sơn với Nhậm Doanh Doanh, con gái Nhậm Ngă Hành mang đến sự rắc rối
của hai trẻ phá lệ hắc bạch trong lằn ranh phân định trong vơ lâm. Đối đầu
với bao thử thách và hiểm nguy, Lệnh Hồ Xung không kết hợp với các mối
t́nh trong chính phái mà cùng với Nhậm Danh Doanh đi tṛn cuộc đời với cầm
phổ và tiêu phổ.
*
Lộc Đỉnh Kư xuất
hiện trên Minh Báo từ ngày 24-10-1969 đến ngày 24-9-1972, gồm 248 hồi. Sau
khi hoàn thành Lộc Đỉnh Kư, Kim Dung tuyên bố gác bút,
Bối cảnh câu chuyện trong lịch sử Trung Hoa, trong phần dẫn
nhập, Kim Dung viết: “Về triều Khang Hy nhà Măn Thanh” vào thế kỷ XVII.
Theo lịch sử th́ người Măn Châu, nguyên là bộ tộc của người Nữ Chân, khi
xâm chiếm Trung Nguyên nhà Măn Thanh ra lệnh phải gọi là Măn Châu. Câu
chuyện dựa vào thời điểm nhân vật lịch sử là Khang Hy hoàng đế, Lư Tự
Thành, Ngô Tam Quế, Trần Viên Viên... và tổ chức Thiên Địa Hội cùng các
nhân vật hư cấu trong thế giới vơ lâm.
Trong thành Nhă Khắc Tất, trên núi Lộc Đỉnh là ngọn núi cao
nhất của Măn Châu, thiên nhiên hùng vỹ, phong thủy kỳ bí, vùng đất địa
linh. Nơi đó có trái núi bí mật, tổ tiên người Thát Đát ở Măn Châu táng
tại địa thế có long mạch tuyệt hảo nên được hiển vinh, dựng cơ nghiệp nhờ
long mạch hộ tŕ. Ngoài ra, c̣n có kho tàng châu báu vô song được chôn cất
trong ṭa Bảo Sơn ở trái núi đó. Bí mật trọng đại được ghi trong tám bộ Tứ
Thập Nhị Chương Kinh do tám kỳ chủ nắm giữ nên có sự phân tán. Người Măn
Châu muốn bảo vệ long mạch đó c̣n người Hán muốn khám phá để triệt nên địa
danh đó rất hệ trong cho sự tồn vong của dân tộc. Vua Khang Hy lấy tên
ngọn núi Lộc Đỉnh với chức công để ban cho Vi Tiểu Bảo là Lộc Đỉnh công,
chức vụ cao nhất trong triều đ́nh.
Câu chuyện xoay quanh nhân vật Vi Tiểu Bảo, cậu bé xuất
thân từ chốn lầu xanh lạc váo triều đ́nh, bầu bạn với vua Khang Hy, hoàng
đế thứ tư của triều Măn Thanh, lên ngôi lúc 8 tuổi. Nhờ tài khôn vặt nên
Vi Tiểu Bảo đă tạo thế đứng cho bản thân từ triều đ́nh đến chốn vơ lâm với
bao cuộc t́nh vây quanh nhân vật dốt đặc cán mai và láu cá.
Kết thúc câu chuyện khi Vi Tiểu Bảo cùng bảy người vợ Tô
Thuyên, Phương Di, A Kha, Tăng Nhu, Mộc Kiếm B́nh, Song Nhi, Kiến Ninh
công chúa thu thập tài vật, cải trang về Dương Châu đón thân mẫu rồi xuống
đất Vân Nam mai danh ẩn tích ở thành Đại Lư.
Hoàng đế Khang Hy sai người đi t́m nhưng không truy ra manh
mối c̣n Vi Tiểu Bảo cũng thèm kho tàng ở Lộc Đỉnh nhưng nghĩ ḿnh đă giàu
có cùng bầy vợ chung quanh và nghĩ đến giao t́nh với nhà vua nên không
muốn phiêu lưu xâm phạm kho tàng bí mật làm tổn thương long mạch của nhà
Măn Châu.
*
Liên Hành Quyết hay
Tố Tâm Kiếm xuất hiện năm 1963, gồm 49 hồi, xuất hiện trên Minh Báo và
Đông Nam Á tuần san ở Singapore, câu chuyện nói về nhân vật chàng trai trẻ
Địch Vân được thọ giáo sư phụ là Thích Thường Phát. Con gái của Thích
Thường Phát là Thích Phương cùng Địch Vân trở thành đôi bạn và có cảm t́nh
mật thiết với nhau. Địch Vân xuất thân từ dân dă, bản tính chân thật,
ngây ngô, không biết ǵ về thủ đoạn trong cuộc sống. Khi con trai của Vạn
Chấn Sơn là Vạn Khuê gặp Thích Phương liền mê say nên bày tṛ nham hiểm
làm cho Địch Vân bị các trận đ̣n và đau khổ nhất khi Thích Phương ngộ nhận
Địch Vân là kẻ đồi bại nên t́m cách lánh xa.
Khi gặp Thủy Sinh, Địch Vân v́ ăn mặc giống kẻ thù nên ra
lệnh thủ hạ cho ngựa giẫm nát chân nhưng cảnh đời trớ trêu, Địch Vân và
Thủy Sinh gặp nhau nơi tuyệt cốc, t́nh cảm bén mùi nhưng giữ ǵn được sự
trong sáng với nhau nhưng rồi cũng bị hàm oan.
Nghe tin môn vơ công cái thế Liên Thành kiếm phổ dấu trong
pho Đường Thi tuyển tập, bốn chữ đầu là Giang Lăng Thành Nam, Thích Trường
Phát cùng đồng môn cất công t́m kiếm rồi sinh ra manh tâm ám hại lẫn nhau.
Sống trong bối cảnh đó nhưng Địch Vân vẫn giữ được tâm hồn trong sáng của
ḿnh nên đă có những hành động cao đẹp và t́m cách ẩn cư nơi quan ngoại,
cuộc t́nh lại đến với chàng trai trong khung cảnh vắng lặng đó nhưng rồi
sự thôi thúc của nguồn tin về kiếm phổ đang gây chấn động trong chốn vơ
lâm nên chàng nhập cuộc để hiểu được t́nh thế.
Kết thúc câu chuyện khi phơi bày chân tướng trong t́nh
huynh đệ lúc t́m ra bảo tàng th́ Vạn Chấn Sơn dùng thủ đoạn ám hại sự đệ
là Thích Trường Phát nhưng nhờ Địch Vân đến cứu thoát và nhân đó Thích
Trường Phát sát hại luôn Vạn Chấn Sơn.
Lợi dụng thời cơ gần nhau, Thích Trường Phát dùng đao trủy
thủ đâm vào lưng Địch Vân nhưng lúc nầy chàng đă trau dồi vơ công cao
siêu nên chụp được cánh tay và nhờ mặc Ô Tằm Giáp nên mới thoát chết. Bởi
danh lợi làm ḷng người tráo trở, thôi thúc con người Thích Trường Phát
trở nên xấu xa ngay cả đệ tử và cũng là ân nhân của ông.
Ngoài ra, các tác phẩm
thuộc loại đoản thiên tiểu thuyết như Bạch Mă Khiếu Tây Phong (1960) chỉ
có 3 hồi, Uyên Ương Đao (1961) không chia ra hồi nào, Hiệp Khách Hành
(1965) tựa đề bài thơ của Lư Bạch và Việt Nữ Kiếm (1976). Ngoài các nhân
vật trong Việt Nữ Kiếm có tính cách lịch sử, các nhân vật trong các đoản
truyện trên hầu như không có ǵ đặc sắc, độc đáo nên ít được nhắc tới.
|