Là thi phẩm thứ tư của nhà thơ
Ngọc Tuyết - Các tập thơ trước của chị là Giọt Đầy Giọt Vơi,
Lá Trở, và Sang Mùa được tuần tự xuất bản vào các năm 2005,
2006, 2007 - Tôi được đọc các tập thơ thứ hai và thứ ba
trong số đó. Điều khiến tôi chú ư trước tiên trong các tập
thơ ấy là những bài thơ Đường luật thất ngôn bát cú của chị.
Có lẽ Ngọc Tuyết là một trong số
rất hiếm hoi các nhà thơ ở thành phố mà trong bốn năm liên
tục đến nay mỗi năm đều có tác phầm mới ra đời. Nếu coi đó
là một đặc điểm, th́ đặc điểm thứ hai của chị, theo tôi, là
những bài thơ Đường luật trong các tập thơ mà tôi vừa nói.
Hiện nay rất ít nhà thơ c̣n làm thơ Đường luật; số nhà thơ
nữ làm thơ thất ngôn bát cú lại c̣n ít hơn nữa.
Thơ thất ngôn bát cú từng bị chê
bai bài bác trong phong trào Thơ Mới vào những năm 30 của
thế kỷ 20, nếu nó c̣n lây lất đến nay cũng chỉ là “sống
ráng” ở trên mức “sống chui”. Và thơ Đường hầu như vắng mặt
trong các thi phẩm của các nhà thơ của chúng ta xuất bản
hàng năm. Tuy tại thành phố Sài Gòn có một câu lạc bộ thơ Đường
của tổ chức văn hóa UNESCO mà vừa rồi có ấn hành hai tập thơ
thất ngôn bát cú rất dày gồm thơ của các hội viên, mỗi tập
có lẽ khoảng năm – bảy trăm trang, nhưng đó là sinh hoạt
mang tính phong trào, không có sự tham dự của các nhà thơ
chuyên nghiệp. V́ vậy, tôi thấy sự có mặt của thơ thất ngôn
Đường luật trong các thi phẩm của nhà thơ Ngọc Tuyết là một
điều đặc biệt đáng chú ư.
Thơ thất ngôn bát cú là một thể
thơ cổ của Tàu, với các đặc tính hạn vần, hạn chữ, và yêu
cầu niêm luật rất khắc khe, nên không c̣n được nhiều người,
nhất là người trẻ bây giờ, ưa thích. Nếu khoảng nửa đầu thế
kỷ trước các tên tuổi như Đông Hồ, Mộng Tuyết, Quách Tấn,
Bùi Khánh Đản… c̣n quen thuộc trên thi đàn th́ bây giờ
dường như độc giả ở tuổi 40 trở lại không mấy người nhắc đến
thơ Đường luật. Từ sau tác phẩm “Mùa Cổ Điển” của thi sĩ
Quách Tấn vào đầu những năm sáu mươi của thế kỷ 20, măi đến
gần đây mới chỉ có một nhà thơ lăo thành Đinh Vũ Ngọc ở
Quảng Nam ra mắt tập thơ “Nằng Vườn Xưa” với toàn thể thơ
thất ngôn bát cú, mà người đọc ông hầu hết là người lớn
tuổi. C̣n về các nhà thơ nữ th́ từ sau khi nữ sĩ Mộng Tuyết
xứ Hà Tiên im tiếng trên thi đàn từ hơn nửa thế kỷ trước (Bà
mới qua đời gần đây), cho đến nay dường như chưa có hay
không có mấy nhà thơ nữ in thơ Đường luật trong thi phẩm
của ḿnh – nếu họ có làm thơ Đường luật.
Như chúng ta đă biết, nền thi ca
Việt Nam đă và đang trải qua nhiều bước cải cách. Nhiều
người c̣n đang bàn căi những bước cải cách ấy là tiến hay
lùi, đưa thơ đi sâu vào ḷng người hay ngày càng rời xa
người đọc. Trong quá tŕnh tự lột xác liên tục của thơ, Thơ
Mới của phong trào Thơ Mới thập niên 30 thế kỷ trước đă bị
coi là cũ; từ khoảng cuối thập niên 50 thế kỷ 20, một số nhà
thơ ở miền Bắc, trong đó có nhà thơ Trần Dần, đă bắt đầu các
thể nghiệm cách tân thơ, rồi đầu thập niên 60 thế kỷ trước,
nhà thơ Thanh Tâm Tuyền trong Nam cùng với một số thi sĩ
trong nhóm Sáng Tạo đề xướng Thơ Tự Do không vần điệu, từ đó
ra đời loại thơ phá thể, rồi thơ giống văn xuôi – gọi là thơ
xuôi – vân vân… và bây giờ người ta đang nói và làm thơ
hậu hiện đại, thơ internet…. Vậy mà nhà thơ nữ
của chúng ta vẫn “hồn nhiên” làm thơ thất ngôn Đường luật và
“hồn nhiên” in thơ Đường luật của ḿnh trong các thi phẩm
chính thức! Như thế là đặc biệt lắm chớ sao!
Nhà thơ Ngọc Tuyết có những câu
thơ lục bát sâu lắng như thế này: nhủ ḷng / thôi chớ
hoài mong / càng chia / càng thiếu / càng đong / càng đầy /
địa đàng / ôm cả vào tay / dẫu mai / tim ứa giọt cay / cũng
đành…
(Dẫu Mai)
và chị đă đưa t́nh cảm dịu dàng
đằm thắm của ḿnh vào thể thơ thất ngôn bát cú rất hồn
nhiên, khiến người ta không nhận ra hai thể thơ ấy và các
thể thơ khác nữa đang nằm bên nhau trong cùng thi tập:
Lá tím hôm nào giấu ở đâu
Mùa thu đục ẩm mắt thu sầu…
(Lá Tím)
Hoặc
Tóc rối lưng chiếu mắt chấm
vai
Hồn hoa nghiêng ngả gọi đêm
dài
Gió đưa mằn mặn mầm thương lạ
Cỏ ngậm nồng nồng sợi nhớ
sai…
(Nghiêng Chiều)
Thơ
thất ngôn bát cú thường được coi như một bức tranh dù trữ
t́nh hay tả cảnh, mà nếu mỗi câu thơ được coi như một nét
vẽ, th́ trừ câu phá đề và câu thúc – tức câu
đầu và câu cuối - bức tranh chỉ bao gồm không hơn sáu nét
vẽ. V́ vậy mỗi nét vẽ phải hết sức cô đọng và hàm súc –
không thể thừa và không được thiếu. Người ta chê thơ thất
ngôn bát cú chính v́ sự “chật chội” đó. Nhưng sự chật chội
trong khuôn khổ bài thơ vẫn không g̣ bó được t́nh cảm của
chị gởi vào thơ. Chẳng hạn bài thơ có tựa là Có dưới
đây của nhà thơ Ngọc Tuyết:
CÓ
Có con đường nhỏ có ṿng tay
Có một chiều mưa ướt đẫm ngày
Có phút hồn nhiên môi mắt lịm
Có giây kỳ diệu gối chăn đầy
Có đời căng mạch nghe t́nh
dậy
Có đất vươn ḿnh đợi nắng vây
Có biển cùng ta đi ngủ muộn
Có ai nhớ chuyện đă yêu này.
Thất ngôn bát cú trước hết là là
lối thơ ưa thích của các nhà trí thức thời xưa, tức các nhà
nho. Các cụ là người có học vấn cao và uyên bác; tâm hồn các
cụ thấm nhuần phong cách đĩnh đạc trịnh trọng của các vị
thánh hiền, thơ của các cụ không phô diễn các cảm xúc cực
đoan gay gắt hay sống sượng thô thiển, cho nên đây là một
thể thơ sang trọng và tao nhă, và dường như nó có vẻ đặc
biệt thích hợp với phong cách trầm tĩnh điềm đạm và t́nh cảm
đằm thắm nhưng chừng mực của Ngọc Tuyết, một nhà thơ vốn
từng tốt nghiệp đại học khoa khoa ngữ văn, và có lẽ v́ vậy
đă có cơ hội cảm nhận tính chất của thể thơ cổ đó gần gũi và
phù hợp với tâm t́nh dịu dàng kín đáo của ḿnh.
Tuy không so sánh được với sự
sang trọng và đĩnh đạc trong thơ thất ngôn bát cú của vị nữ
lưu tiền bối là Bà Huyện Thanh Quan
Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo
Nền cũ lâu đài bóng tịch
dương…
Nhưng nhà thơ Ngọc Tuyết vẫn
luôn giữ được sự chừng mục trong t́nh cảm của ḿnh thể hiện
trong thơ Đường luật của chị. Dường như nhà thơ có điều ǵ
đó không trọn vẹn trong t́nh cảm đời thường, nhưng trong các
tập thơ của chị mà tôi đă đọc, lời thơ không tỏ chút ǵ dằn
vặt khắc khoải và nỗi đam mê khao khát t́nh yêu được thể
hiện rất nhẹ nhàng bóng bẩy.
Ṿng tay nồng thắm trói hồn
em,
Có thế mà thôi nhớ đến mềm
Cát trắng phơi ḿnh chờ biển
dạo
Biển bờ đợi gió đếm chiều lên…
(Sóng Gọi)
Hoặc có táo bạo lắm cũng chỉ đến
chừng này:
Ước ǵ trời đất ngừng xoay
chuyển
Vũ điệu ái t́nh quấn quít
trao.
(Vũ Điệu)
Thơ bát cú Đường luật đ̣i hỏi
phải có đối ở hai cặp “thực” là “luận” là các câu 3 – 4 và 5
– 6. Chính cái việc đối này thường là một thách thức như con
dao hai lưỡi: nó là chỗ rất dễ để lộ sự non tay của tác giả
khi các câu đối có vẻ cũ và sáo ṃn; hoặc nó chứng tỏ bản
lănh vững vàng của tác giả với những vế đối mới mẻ, “xuất
sáo” và sáng tạo, như hai câu 3 và 4 trong bài
Ngược Gió:
Muốn hỏi rằng ai có khỏe
không
Nhưng sao lại thấy đắng nơi
ḷng
Bởi mây vắng gió mây buồn
trắng
V́ nắng đan mưa nắng khó hồng…
Hoặc hai câu 5 và 6 trong bài
Lá Tím
…
Bắt nắng cuộc đời va băi cạn
Tung bờm mùa lũ vượt ḍng đau
…
Ở trên tôi có nói thơ bát cú
Đường luật đ̣i hỏi phải tuân theo niêm luật rất khắc khe.
Ngoài luật bằng trắc, vần và đối, nhà thơ phải để ư đến qui
định:
Nhất tam ngũ bất luận
Nh́ tứ lục phân minh
Nghĩa là âm của các chữ thứ
nhất, thứ ba và thứ năm trong câu thơ th́ không nhất thiết
phải theo luật bằng trắc, nhưng các chữ thứ hai, thứ tư và
thứ sáu của mỗi câu phải tuân thủ âm bằng trắc rơ ràng. Như
thế gọi là đúng niêm. Câu thơ sai âm bằng trắc ở các
chữ đó th́ gọi là câu thơ thất niêm.
Và câu thơ cuối cùng này trong
bài thơ Ta Với Ta của chị là một câu thơ thất niêm.
Đời măi rẽ ngày hoài trống
vắng
Cuối vườn yêu thương
nhớ chưa qua.
Chữ thương là chứ thứ tư,
âm bằng, trong khi theo câu thơ nó phải là âm trắc.
Tuy nhiên chính sự thất niêm cố
ư này đă tạo hiệu ứng cho câu thơ, khiến câu thơ bảy chữ gồm
sáu âm bằng trở nên một lời than tiếc không nguôi,
chớ không phải lời phát biểu một sự kiện đơn giản và khô
khan.
Giả dụ tác giả thay từ thương
bằng một từ nào đó có âm trắc, từ “nỗi”, chẳng hạn,
câu thơ sẽ là:
Cuối vườn yêu nỗi nhớ
chưa qua
Th́ câu thơ đúng niêm luật,
nhưng đó là một câu thơ thật b́nh thường như kể một sự kiện
mà thôi, không có hiệu ứng khiến người nghe cảm nhận được sự
than tiếc của tác giả. Chính thủ thuật này cho thấy
nhà thơ đă rất chắc tay trong xử lư niêm luật thơ Đường.
Khi mới tập đi xe đạp, chúng ta
thường bấu chặt hai bàn tay vào “ghi đông” xe, mà xe vẫn cứ
ngă. Sau khi đă đi thạo, chúng ta không c̣n nhớ đến việc
phải giữ chặt “ghi đông” xe nữa, đôi khi chúng ta có thể chỉ
cầm lái một tay, hoặc thậm chí có thể buông cả hai tay mà xe
vẫn chạy băng băng. Làm thơ Đường luật dường như cũng phần
nào tương tự như vậy. Khi luật thơ đă ḥa nhập vào hồn thơ
rồi, nhà thơ không c̣n bấu chặt tay vào niêm luật nữa.
Trước đây nhà thơ Xuân Diệu đă
từng tấm tắc tâm đắc với một từ thất niêm trong câu thơ
Nguyễn Trăi:
Tuổi già tóc bạc cái
râu bạc
Một ngọn đèn xanh con mắt
xanh
“Cái râu bạc” toát lên
một cái ǵ đó có vẻ ngang tàng khí khái, hơn là “Cḥm râu
bạc” rất hiền hậu, yên thân.
Câu đầu và câu thứ ba trong bài
thơ tuyệt tác Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu đều thất niêm. Câu
thứ ba th́ trong bảy chữ đă sáu chữ mang âm trắc:
Tích nhân dĩ thừa
hoàng hạc khứ
Thử địa không dư hoàng hạc
lâu
Hoàng hạc nhất khứ bất
phục phản
Câu thơ toàn âm trắc khúc khắc
gập ghềnh như thể tác giả tuyệt vọng v́ hạc vàng đă bay mất
từ xưa không bao giờ trở lại nữa.
Nói dài ḍng như thế, tôi không
hề có ư thổi phồng phỉnh nịnh nhà thơ Ngọc Tuyết làm thơ
Đường luật có tài năng ngang hàng với Nguyễn Trăi, nhà văn
hóa lớn của Việt Nam, và thi hào Thôi Hiệu đời Đường của
nước Tàu cổ. Dĩ nhiên nếu khắc khe một chút người ta có thể
t́m thấy đây đó trong những bài thơ Đường luật của chị những
chỗ có lẽ c̣n chưa vừa ư với chính tác giả của chúng. Chẳng
hạn, cùng với nhiều nét mới và sáng tạo, trong thơ Đường
luật của chị thỉnh thoảng có một đôi chỗ chưa tránh được
những từ quá cũ hay những ư khuôn sáo. Ví dụ:
Ai làm con tạo ngược vần
xoay…
(Nợ)
Hoặc
Từ độ trăng về qua lối mộng
Bao lần băo nổi cuộn hồn hoa…
(Ta Với Ta)
Nhưng mà ở đời có ai toàn bích
đâu? Vả lại sự nghiệp thơ của chị c̣n rất dài, nếu mỗi năm
chị vẫn đều đều có tác phẩm mới ra mắt người yêu thơ th́
chắc ǵ ở đó người ta c̣n dịp gặp lại những nét chưa tinh
lọc đó nữa. Trong bài thơ Ngược Gió của chị có câu:
V́ nắng đan mưa nắng khó hồng
Ba từ nắng đan mưa vẽ một
cách rất mới cảnh trời vừa mưa vừa nắng, và cảnh ḷng với
niềm vui buồn đan xen nhau, thật đắt.
Và câu cuối trong bài thơ Lá
Tím, tác giả viết:
Mặn chát t́nh ta bóng bạc
màu,
Với phát hiện bóng bạc màu
chị đă thật sự đóng góp thêm một nét sáng tạo rất mới trong
thơ.
Trong các tập thơ của Ngọc Tuyết
mà tôi được đọc, chị sáng tác với nhiều thể loại thơ rất
phong phú, từ thơ ba câu, bốn câu, tám câu; thơ hai chữ, ba
chữ, bốn chứ, năm chữ, bảy chữ, lục bát, thất ngôn Đường
luật, và cả thơ văn xuôi, trong đó những bài thơ thất ngôn
Đường luật của chị đă “chung sống hài ḥa” với các thể thơ
khác, và cùng thể hiện một tâm hồn thơ nữ đằm thắm, dịu
dàng, phản ánh phong cách điềm đạm và chừng mực của chị
trong cuộc sống đời thường.
Xin chúc chị ngày càng đạt được
nhiều thành tựu hơn nữa trong nghệ thuật.
Cám ơn quí vị và các bạn đă lắng
nghe.
Thiếu Khanh
Hăy Bắt
Đầu Thôi
Lê Văn Trung
Tặng NT
Hăy bắt đầu thôi em chớ để
Ngày vui ngắn quá dưới tay người
Ta ném trăm năm vào một cơi
Nối t́nh dâu biển để rong chơi
Nhân gian sâu thẳm rừmg gai độc
Em nở cho ta một đoá hồng
Ngày mai có ngă bên triền dốc
Ta nh́n máu đỏ thắm hư không
Giọt lệ sầu xưa em cứ khóc
Mắt người thiên cổ bến mờ sương
Ta rót tràn ly màu ngọc bích
Tràn ly từng giọt t́nh bi thương
Hăy bắt đầu thôi ngày sắp hết
Chiều hoang lịm ngắt bóng mây tàn
Ta tụng dăm câu bùa chú lạ
Em về nhung lụa trắng mùa tang
Trăm năm thôi cũng đành gang tấc
Ta sóng bờ khuya mỏi mạn thuyền
Chút sắc hương thừa em cứ để
Tan vào ta nỗi ngậm ngùi riêng
Hăy bắt đầu thôi ngày sẽ trôi
Hồn thiên thu lạnh lẻo bên trời
Ngọn gió oan khiên nào thổi tới
Lệ có c̣n xanh đôi mắt người
Hăy bắt đầu thôi hăy bắt đầu
Ta d́m ta trong vũng t́nh sâu
Ta vỡ buồng tim bung ḍng máu
Chảy siết đời qua cuộc bể dâu.
Lê Văn Trung