Văn Học
Nghệ Thuật
Sinh Hoạt
Phiếm Luận
Trang Thân Hữu Thơ - Văn
Diễn Đàn
Giải Trí
Thư Tín
 
 
                               Thơ Huệ Thu
 
Tên thật Bùi Thu Huệ
Sinh trưởng tại Ðà Lạt,
Ðịnh cư tại hoa kỳ từ năm 1980
Hiện sống cùng gia đình tại San Jose, California
Thích Làm Thơ, Nuôi cá và trồng Bonsai...
 
Thơ đã xuất bản:
- Thơ Huệ Thu  1987
- Sương Chiều Thu Ðọng  1991
- Mở Ngõ Phù Vân  1995
- Lục Bát Huệ Thu  1997
- Ðầu Non Mây Trắng  1998
- Tứ Tuyệt Huệ Thu  1998
- Khúc Ca Quy Ẩn  2005
- Hương Mùa Cũ  2006
(thơ Ðường in chung với nhiều tác giả)
 
 
 
Cuối Năm Nhớ Quê Hương
 
Chợp mắt mùa Xuân đã vội về
Lòng còn nguyên vẹn nỗi đam mê
Câu thơ gửi bạn in trang trọng
Chén rượu mừng nhau rót cận kề
Ðã thắm thêm nhiều phong cảnh cũ
Mà vơi sao được nước non quê
Ai ngoài ngàn dặm nhìn mây trắng
Có thấy men nồng vẫn tái tê
 
  
Nhớ Ðà Lạt
 
Hoàng Triều Cương Thổ nhớ quê ta
Thị Xã giờ đây vạn dặm xa
Thấy mận Trại Hầm mừng tíu tít
Tưởng hồ Than Thở rộng bao la
Ðồi Cù năm cũ tình thân ái
Con dốc Hàm Nghi áo thướt tha
Bùi Thị Xuân ơi! Ơi tuổi trẻ
Soi gương đã thấy tuyết sương pha
 
 
Nhớ Sài Gòn
 
Cuối năm sao bỗng nhớ Sài Gòn
Ôi nhớ vô cùng nhớ héo hon!
Câu hát trên phà nghe lạnh lạnh
Bánh xe buổi sớm chạy bon bon
Công viên sáng tựa mùa Xuân thắm
Thổ mộ buồn như lối cỏ mòn
Cắt rốn chôn nhau không ở đó
Lá me rơi rụng ngẩn ngơ buồn
 
 
Nhớ Huế
 
Thượng Tứ nhìn sang lạ sắc cờ
Ðế Kinh còn lại những cơn mơ
Ngọn cau trước gió run cầm cập
Dòng nước bên cầu chảy lửng lơ
Thiên Mụ chuông chùa vang mấy dặm
Trường Tiền câu hát vọng đôi bờ
Người về thôn Vỹ chiều nay đó
Cửa sổ phòng ai khép hững hờ
 
 
Nhớ Hà Nội
 
Ai xuống thăm chơi xóm Ngọc Hà
Mùa Xuân Hà Nội bạt ngàn hoa
Mấy mươi năm lẻ nguyên màu đó
Ba Sáu phố phường vắng bóng ta
Sông Nhĩ năm xưa làn sóng dội
Hồ Tây ngày ấy mảnh trăng tà
Quê Hương ngăn cách muôn ngàn dặm
Ðường dẫu xa mà dạ chẳng xa
 
 
Giọt Lệ Nồng
 
Còn luận làm gì tội với công
Nỗi đau ngày ấy nỗi đau chung
Mấy câu vị quốc xem như lãi
Một chữ thành nhân cũng đủ hùng
Ðừng nói nhàn mà đừng nói nhã
Gọi là dũng đó, gọi là trung
Lại năm con Ngựa về bên cửa
Cất chén nghe như giọt lệ nồng
San Jose, 01 15 02
 
 
Gặp Bạn Học Cũ
 
Gặp bạn ngày xưa Bùi Thị Xuân
Nắm tay chưa mỏi đã ân cần
Nhớ thời Ðà Lạt lòng ngơ ngẩn
Tiếc sáng Xuân Hương bước ngại ngần
Cháu nhỏ ra trường bên Texas
Tuổi già tạm trú ở Houston
Thời gian dù đã bao dâu bể
Xa đấy mà sao vẫn cứ gần
 
 
Còn Ai Gối Ðầu
 
Ta ở bên này bạn ở đâu ?
Bao nhiêu nước chảy dưới chân cầu
Ðầu non mây trắng Xuân Ðà Lạt
Cuối bể mù sương chuyện Bích Câu
Một thuở Thanh Bình thôi đã tạm
Mười năm chinh chiến có gì lâu
Văn thơ gửi lại vài trang sách
Chẳng biết còn ai lấy gối đầu?
 
 
Qua Trung Quốc
Ðứng trên cầu Phong nhớ Trương Kế
 
Bến này có phải cầu Phong trước ?
Có một vầng trăng rụng cuối trời
Có một thi nhân trên bến vắng
Chiếc thuyền hiu quạnh vật vờ trôi
Ngàn năm sau đó ta dừng bước
Trên chiếc cầu xưa chạnh nhớ người
Chẳng có ai là Trương Kế nữa
Hàn San thảng thốt tiếng chuông rơi
1987
 
 
 
Có Bạc Ðầu
 
Lầu Hạc là đây, Hoàng Hạc đâu ?
Chung quanh mây trắng ngẩn ngơ sầu
Hán Dương san sát hàng cây cũ
Anh Vũ chiều hôm cỏ úa mầu
Ta đến ngàn năm sau họ Lý
Ðọc câu thơ cổ lại thương nhau
Tài hoa thương lắm, ai bầu bạn?
Khói sóng trên sông có bạc đầu ?
 
 
Mong Mỏi
 
Một cánh chim trời bay ngẩn ngơ
Anh ơi ! Em nhớ quá người thơ
Bâng khuâng mấy chiếc thuyền xa bến
Vật vã từng cơn sóng vỗ bờ
Mây chẳng làm sao trôi mải miết
Lòng riêng cứ vậy đứng bơ vơ
Giá như mình ở bên nhau nhỉ
Tóc xõa bờ vai hớn hở chờ !
 
 
Nhất Phiến Băng Tâm
 
Ðà Lạt ngày xưa tiếng mẹ ru
Bao nhiêu lá rụng nửa mùa Thu
Nước đâu dễ kiếm trang kỳ nữ
Ðời vẫn còn nhiều những Nguyễn Du
Ngoảnh lại thêm đau làn gió lạnh
Ngước lên chỉ thấy đỉnh mây mù
Rót ra chén rượu mời ai nữa
“Nhất phiến băng tâm tại ngọc hồ” *
 
*câu thơ thường thấy đề trên chén trà không biết của ai
(một lòng trong trắng trong hồ ngọc)
 
 
Anh Ở Ðâu
 
Thăm thẳm canh dài thăm thẳm sâu
Anh giờ chẳng biết ở nới đâu
Sao tình yêu mới chưa hồng má
Liệu tóc huyền xưa có bạc màu
Chiến địa ngày đêm vang súng trận
Tử sinh tin tức dục cơn sầu
Làm thân con gái thời tao loạn
Ðành nước trôi xuôi dưới nhịp cầu
 
 
Dạ Héo Hon
 
Vượt mấy nguy nan mẹ với con
Người tuy đã mất chút xương còn
Máu da vùi lấp nơi đồng nội
Tên tuổi trường tồn với nước non
Coi rẻ giặc thù vài phát đạn
Dốc cùng Tổ Quốc tấm lòng son
Tình duyên vắn vỏi thôi đành phận
Ðất khách năm tàn dạ héo hon
 
 
Một Con Tim
 
Khác gì đáy biển lại mò kim
Mà cứ ra công mải miết tìm
Chương Thiện ngược xuôi xa vắng nhạn
Cà Mau bươn chải biệt mù chim
Ðành hay nghiệp số phơi mưa nắng
Ðã biết rằng duyên phận nổi chìm
Chinh phụ xưa nay thì cũng một
Mà người chỉ có một con tim
 
 
Kiếm Xác Chồng
 
Một mình mò mẫm khắp Tây Ðông
Hỏi kiếm gì đây ? Kiếm xác chồng
Anh bỏ con thơ lìa vợ dại
Em băng qua suối lội qua sông
Căm gan, nén lệ dù oan trái
Nhắm mắt bưng tai trước bất công
Người có linh thiêng xin chỉ dẫn
Trăm năm còn chút nghĩa đèo bồng
 
 
Nói Chuyện Với Bà Hồ Xuân Hương
 
Cháu cũng yêu thơ hệt giống bà
Giống bà cháu cũng lụy tài hoa
Liếc ngang khó kiếm người thanh nhãn
Ngó tới sao tìm bạn Bá Nha
Cũng muốn cười cho tàn tuổi trẻ
Chỉ lo khóc mãi mệt thân già
Thơ bà cháu đọc thâu đêm vắng
Thơ cháu ai người sẽ thiết tha
 
Thơ cháu ai người sẽ thiết tha
Cuộc đời chìm nổi lắm phong ba
Mong vun sáng sớm vài nương cải
Thích tưới chiều hôm mấy luống cà
Cứ nghĩ nương nhờ nơi thảo dã
Nào ngờ vướng mắc chốn phồn hoa
Muôn trùng xa cách nơi quê mẹ
Mỗi độ Xuân về lệ nhỏ sa
 
Mỗi độ Xuân về lệ nhỏ sa
Tại sao mình lại phận quần thoa ?
Là trai họ cứ nhờ danh bố
Làm gái ai qua nổi mặt Bà
Một Ván Cờ Người thành đại tỷ
Cái Hang Cắc Cớ nổi sơn hà !
Thơ Nôm đến cụ là sư tổ
Ðánh hết Ðông, Ðoài cụ chẳng tha !
 
 
Ðứng Giữa Sài Gòn
 
Là đây Hòn Ngọc Viễn Ðông sao ?
Phong cảnh còn đâu giống thuở nào
Nắng trải dọc con đường phố vắng
Gió đùa trên những ngọn cây cao
Công viên ghế đá buồn duyên cũ
Ngõ hẹp hàng quà lạc tiếng rao
Bỗng thấy Sài Gòn tên cũ mất
Hỏi người năm cũ chẳng tiêu hao
 
 
Biềt Ai Còn Nhớ
 
Nửa đêm tỉnh giấc rụng tàu cau
Có tiếng ai về lối cổng sau
Lơ đãng ánh trăng vàng trước dậu
Bẽ bàng ngọn gió thổi qua mau
Anh ngoài trận địa lòng chưa lạnh
Em dưới trời sương ruột quặn đau
Ngày tháng mong tin, tin chẳng tới
Biết ai còn có nhớ thương nhau
1970
 
Với Ai Ðây ?
 
Tám năm hương lửa tưởng vài giây
Bỗng chốc tin đưa nước mắt đầy
Dũng tướng đã không chờ tóc bạc
Giai nhân đành chịu vóc mai gầy
Anh đà lặng lẽ về bên ấy
Em dám lần khân ở mãi đây
Sao lại sinh vào thời loạn lạc
Ðể mình như cỏ lại như cây
1971
 
 
Nhớ Ðà Lạt
 
Ðà Lạt ngày xưa có những ai
Nay về mái cũ bóng trăng cài
Ðường Duy Tân ấy hàng hiên vắng
Trường Thị Xuân xưa vạt áo dài
Bè bạn đã quên rồi dĩ vãng
Chị em còn nhớ mãi tương lai
Non sông thì vẫn non sông cũ
Trước mắt toàn là chuyện mỉa mai
 
 
 
Ðường Về
 
Tôi về bước nhỏ ai đo
Xanh xao ngọn cỏ một bờ vắng hiu
Tại sao chiều nhớ thương chiều
Gió bay mất tấm lụa điều quanh lưng
 
Tôi về bước nhỏ ai thương
Con sông nước chảy xa nguồn tới đâu
Mây trôi ở tận giang đầu
Mưa chưa rớt xuống sao sầu đã lên ?
 
Tôi về bước nhỏ nhớ quên
Nhớ tôi mấy tuổi quên mình mấy xuân
Mấy lần nữa mới hết mừng
Khi tay khép cổng nắng dừng trên vai...
 
 
Nửa Trăng Kỷ Niệm
 
Trăng nửa vầng trăng sáng trọn trời
Ðêm nào người ấy đứng bên tôi
Bảo rằng trăng vẫn chưa về kịp
Thì mắt người yêu cũng sáng ngời
 
Núi Và Tôi
 
Sáng ra chiều lại trở vào
núi xanh không một bước nào theo ta !
chiều vào sáng lại trở ra
núi xanh trước mặt cùng ta lặng nhìn !
 
Núi cùng ta đứng lặng thinh
ta còn có chỗ che mình nắng mưa
thương cho ngọn núi chơ vơ
ngàn năm hiu quạnh bên bờ nước non !
 
Ta nhìn đỉnh núi chon von
núi nhìn ta mái tóc vờn phất phơ
núi cùng ta có duyên thơ
nếu ta đi biệt núi chờ chắc đau ?
 
Sáng ra chiều lại trở vào,
vườn ta một góc sân rào giậu hoa,
có hôm mưa, núi khóc òa
ta thương núi quá, trước nhà khóc ngon !
 
  
Nửa Câu Thơ
 
 
Ðầu non
cuối biển
làn mây trắng
Tôi hỏi thăm người
gió đáp thôi!
Gió đáp lời tôi
gió nghẹn ngào
Ngàn xưa tâm sự
cũng ngàn sau?
Thuyền trôi chớ đỗ *
thơ ai nhỉ?
Tình đẹp nỡ nào
viết nửa câu?
 
Nửa câu thơ
nửa tấm lòng
Tôi vờn mái tóc
xuống giòng sông
Nửa nào người vuốt
bàn tay cũ?
Nửa, mới bây giờ
đẵm nhớ mong!
 
Người ấy phải chăng
con sáo sậu
Qua sông rồi chẳng
nhớ chi nhiều...
Ôi ai nằm ở
ca dao mẹ
Câu nhớ nửa vời
bỗng hắt hiu!
 
* Hồ Dzếnh
 
 
Nữa Ðêm
 
Nửa đêm ôi nửa đêm buồn
Vầng trăng cuối tháng đầu non ngước nhìn
Cửa gương sương đọng long lanh
Như là nước mắt của mình của ai
Nửa đêm bên cửa trăng cài
Tóc em nhánh liễu xỏa dài ánh trăng
Một con chim lạc bay ngang
Buông ra tiếng thảm như làn roi đau
Quê Hương chìm một đêm nào
Mười lăm mười bảy năm chao là dài
Ai còn nhớ nữa đến ai
Nước non vạn dặm nhắc hoài làm chi ?
Nửa đêm ta thức làm gì
Sương rơi bên cửa trăng kề bên tim
Ðến đây chặng cuối đường tìm
Tìm ta thấy bóng, tìm anh thấy buồn !
 
 
 
Ðêm Thu
 
Ðêm Thu ngắm bóng trăng mờ
thấy hạt sương đọng trên gờ cửa gương
thấy mình trong nỗi cô đơn
và ánh trăng lạnh chảy buồn nhánh cây...
 
Trời không gợn một chút mây
chỉ sương nhàn nhạt tỏa đầy không gian
ở đây tôi ngủ không màn
nên sương ngoài cửa như tràn gối chăn
 
Trăng xa xa quá chỗ nằm
quê hương xa quá mút tầm mắt trông
mấy lần nhắm mắt muốn quên
bởi trăng kia chẳng là riêng của mình!
 
Ðêm thu chẳng có thơ tình
viết chi nữa nhỉ giấy xanh xé rồi
tim mà cắt được làm đôi
để xem thử nỗi ngậm ngùi ra sao?
 
 
 
 
            Ðọc Ðêm Thu Nghe Quạ Kêu của Quách Tấn
 
Quách Tấn là bạn vong niên mà chí thiết của Chế Lan Viên, và Hàn Mặc Tử ; khi Quách Tấn đã là thông phán thì Chế Lan Viên Chỉ là học sinh trung học đệ nhất cấp, Hàn Mặc Tử chỉ là một ký giả tầm thường ở Sài Gòn, nhưng họ rất thân nhau.
Ông Quách Tấn có kể một chuyện, hồi ấy “ông già Bến Ngự” tức cụ Phan Bội Châu khen thơ Hàn Mặc Tử hay. Một bậc đại danh như cụ Phan khen ai thì tất thơ người ấy phải hay lắm. Mà Hàn Mặc Tử bấy giờ còn nhỏ quá. Cụ Phan hơn Hàn phải vài ba chục tuổi. Cụ Phan là Thái Sơn, Bắc Ðẩu của làng chữ nghĩa Việt Nam lúc bấy giờ. Cụ Phan khen, lại khen thơ của một anh chàng trẻ tuổi, theo Tây học cũng là một điều lạ.
Thời ấy đôi khi Hàn Mặc Tử có làm thơ Ðường, nhưng ít lắm . Thơ của ông là thơ mới. Thơ mới chưa có chỗ ngồi ổn định trong thi ca . Hàn Mặc Tử chỉ viết có một bài luật thi mà cụ vội khen, vậy mới biết con mắt của cụ khám phá thật phi thường.
Khi đó Quách Tấn làm thơ lại chỉ đặc biệt làm thơ luật. Cả làng thơ, làng báo Việt Nam ngỡ ngàng. Ông lội ngược giòng, nói như nhà thơ trào phúng Tú Mỡ . Nhưng thơ ông dần dần được thưởng ngoạn . Qua hai tập thơ Lá Mã Tiền và Mùa Cổ Ðiển ông đã nổi tiếng. Lá Mã Tiền toàn thơ tứ tuyệt và Mùa Cổ Ðiển toàn thơ luật. Lúc bấy giờ thanh niên mới tiếp xúc với văn minh Tây phương. Người ta thích những từ mới, ý mới. Quách Tấn không chịu mới. Ông thích dùng điển tích, thích dùng chữ Nho, là đùa úy kỵ của thời thế ! Bài Ðêm Thu Nghe Quạ Kêu là một chứng cớ.
 
Từ Ô Y hạng rủ rê sang
 
Ô Y Hạng là cái gì ? Ở đâu ? Ngõ Ô Y là ngõ của hai họ quyền quý xưa thường ở. Ở đó người nhà họ Vương, họ Tạ thường mặc áo đen. Cho nên nghe tiếng quạ kêu Quách Tấn nghĩ đến ngõ Ô Y.
Quách Tấn thừa biết đàn quạ không xuất phát từ ngõ Ô Y. Người mặc áo đen có màu lông con quạ, ai cấm thi nhân nghĩ vớ vẩn rằng đàn quạ kia chính là con cháu nhà họ Vương họ Tạ rủ rê sang !
Quạ bay về Nam vào đêm trăng sáng, (nguyệt minh tinh hy ô tước nam phi, thử phi Tào Mạnh Ðức khốn ư chu lung giả hồ ? = trăng sáng sao thưa quạ bay về phương Nam đó có phải là lúc Tào bị nguy khốn vì Chu Du không ?)
 
Bóng lẫn đêm thâu tiếng rộn ràng
 
Ðến đây tác giả đã nói rõ đề; Ðề là Ðêm Thu Nghe Quạ Kêu
Rồi đến hai câu thực :
Trời bến Phong kiều sương thấp thoáng
Thu sông Xích Bích nguyệt mơ màng.
 
Tác giả nhắc đến Phong Kiều vì Trương Kế ở bài Phong Kiều Dạ Bạc rất nổi tiếng (Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên). Vậy thì Trương Kế đã ngủ ở bến Phong Kiều đầy sương, Quách tiên sinh tưởng như đang trong cảnh đó. Rồi ông nhớ đến Tào Tháo, Tào Tháo ngoài là một danh tướng ông còn là thi nhân. Ông đã thua lớn trong trận Xích Bích. Hỏa công đã đốt khiến ông chạy thục mạng mới thoát chết.Khổng Minh đã dùng hỏa công đốt đến vách núi bên sông thành màu đỏ, cái tên Xích Bích (vách đỏ) là do đó mà có. Trận đánh xảy ra vào mùa Thu. Cũng vào mùa thu, Tô Ðông Pha đi chơi thuyền trên sông Xích Bích có viết bài Thu Thanh Phú, Xích Bích Phú . Do một bài thơ mà nhắc đến vài bài thơ . Quách Tấn đối từng lời, từng chữ nhưng lời thơ vẫn tự nhiên, không gò bó.
Câu đù lấy ý trong bài Phong Kiều Dạ Bạc của Trương Kế, cũng đêm trăng, cũng tiếng quạ trên bến Phong Kiều. Bến Phong Kiều đối với sông Xích Bích.
Tào Tháo thua trận ở sông Xích Bích. Trương Kế nổi tiếng vì bến Phong Kiều.
Thực đến như thế thật là tuyệt vời. Hai câu tả cảnh ấy làm sao thay thế được !
Ngày xưa họa sĩ Nguyễn Gia Trí có vẻ một bức tranh hoành tráng về Ngày Xuân.Có một khoảng trống ở dưới, có người hỏi cụ định vẻ gì ở đây ? ố một bụi cỏ ố Tại sao lại bụi cỏ ? ố Cho đỡ trống , cụ trả lời.
Cũng vậy Quách Tấn nhắc đến sông Xích Bích nguyệt mơ màng , cũng như họa sĩ Lão thánh Nguyễn Gia Trí với bụi cỏ. Giản dị thế mà thôi . Chúng ta tưởng là cầu kỳ nhưng những điển tích ấy, ở những gia đình cổ phong lưu, cha dạy con, khách nhắc chủ nhà, toàn chữ nghĩa thánh hiền, khiến người đọc không thấy bỡ ngỡ. Ai cũng iểu , ai cũng biết.
Ðến cặp trạng :
 
Bồn chồn thương kẻ nương song bạc,
Lạnh lẽo sầu ai rụng giếng vàng.
 
Tại sao thương kẻ nương song bạc mà lại bồn chồn ? Vì người chinh phụ đang nhớ chồng. Mà chồng thì :”hiếu giao phu tế mịch phong hầu” (luống để chàng đi kiếm tước hầu)- Chàng thì còn nhớ đến công danh. Cho nên nàng buồn. Giai nhân buồn là nét đẹp muôn đời của bức tranh, cho nên Quách tiên sinh không thể bỏ qua .
Song bạc đối vói giếng vàng, thật không còn gì chỉnh hơn ố Chính vì quá chỉnh nên đời sau có kẻ chê Quách tiên sinh không xuất xử tự nhiên, còn câu kỳ quá .
Tình ý đang lan man như thế thì :
 
Tiếng dội lưng mây đồng vọng mãi,
Tình hoang mang gợi tứ hoang mang
 
Câu thơ chấm hết nhưng dư vị bài thơ vẫn còn. Tình còn hoang mang mà tứ cũng còn hoang mang . Hoang mang vì tiếng quạ kêu nửa đêm khi trăng sáng . Cái hay của bài thơ là vậy, uống cạn ly nước trà rồi mà vị ngọt của trà vẫn còn trong cổ họng.
Nói về tề chỉnh thì ít bài thơ được tề chỉnh đến thế . Có người cho đó là ưu điểm mà có người cũng cho đó là khuyết điểm của Quách Tấn , vì nó bằng phẳng quá !
Bài thơ này bảo cũ thì thật cũ mà bảo mới thì cũng rất mới. Tuy đầy chữ Hán nhưng thứ chữ Hán đã được Việt hóa, khiến những người ít học như chúng tôi vẫn hiểu và cảm nhận được.
.
 
Ðêm Thu Nghe Quạ Kêu
 
Từ ô y hạng rủ rê sang,
Bóng lẩn đêm thâu tiếng rộn ràng...
Trời bến Phong kiều sương thấp thoáng
Thu sông Xích Bích nguyệt mơ màng.
Bồn chồn thương kẻ nương song bạc,
Lạnh lẽo sầu ai rụng giếng vàng.
Tiếng dội lưng mây đồng vọng mãi,
Tình hoang mang gợi tứ hoang mang
 
Quách Tấn
 
Bài họa I
Cứ Mang Mang
 
Ô y dẫu chẳng quạ bay sang
Vương, Tạ ai xưa vẫn rộn ràng
Trăng bến Phong Kiều còn tưởng vọng
Rượu sông Xích Bích có mơ màng
Sầu từng thấy rớt đôi dòng lệ
Thu đã nghe rơi chiếc lá vàng
Tiếng quạ nửa đêm càng lảnh lót
Làm sao lòng dạ cứ mang mang
 
Bài Họa II
 
Gió Thu Sang
 
Chim bay theo với gió Thu sang
Tiếng quạ đêm sương thật rõ ràng
Song bạc nếu thương người khách lạ
Giếng khơi càng lạnh lá ngô vàng
Phong Kiều bến cũ trăng mờ nhạt
Xích Bích sông xưa gió muộn màng
Tâm sự với ai còn gửi lại
Tự nhiên lòng dạ cứ mang mang
 
Huệ Thu
Sài Môn Tịnh Thất , ngày 9 tháng 10 năm 2007
 
 
 
 
                                        Trở lại trang nhà >>>
 
 
Vương Trùng Dương  Email: caliweekly@yahoo.com - vuongtrungduong@yahoo.com