Văn Học
Nghệ Thuật
Sinh Hoạt
Phiếm Luận
Trang Thân Hữu Thơ - Văn
Diễn Đàn
Giải Trí
Thư Tín
 
 
                 T́nh Khúc Gởi... Nha Trang
                                     Vương Trùng Dương
 
Mùa hè đầu thập niên 60, từ Đà Nẵng, chúng tôi mở cuộc “hành phương Nam” vào thành phố Nha Trang. Dũng có người bà con ở dưới Cầu Đá, đă nhiều lần vào Nha Trang, mô tả vùng trời phương xa thật hấp dẫn, ba đứa c̣n lại được nghe bạn kể nên rất náo nức, được dịp rủ rê nên chớp ngay cơ hội sau vài ngày nghỉ hè. Bốn đứa mang theo hai chiếc xe đạp để tiện việc di chuyển, đáp chuyến xe đ̣ Phi Long từ mờ sáng, đến Nha Trang vào lúc mặt trời lặn.
H́nh ảnh thành phố biển nên thơ và dễ thương đó đă in đậm trong tôi theo ḍng thời gian.
Giữa thập niên 60, tôi bước chân vào quân ngũ và h́nh như có duyên nợ với núi rừng cao nguyên, từ ngày tháng ở quân trường cho đến khi chọn đơn vị. Thỉnh thoảng có dừng chân nơi thành phố biển, và lúc chia xa, ḷng c̣n vương đôi chút.
Bóng dáng Hà Nội, Sài G̣n, Đà Lạt... đă đi vào ca khúc, và khung trời Nha Trang qua ḍng nhạc, lời ca của Minh Kỳ và Hồ Đ́nh Phương tạo thành bức tranh huyền ảo, linh động, rất có hồn, khi nghe, gợi trong ḷng nỗi nhớ thương man mác. Một nơi chốn với đôi nét chấm phá, thoảng nghe cũng mường tượng khung cảnh trữ t́nh:
“Nha Trang là miền quê hương cát trắng
Trông lên xanh êm màu trời
Nh́n ngoài nước thắm xa khơi...
... Nha Trang là miền khách du muốn tới
Cho phai bao nhiêu bụi đời
Để t́m nguồn yêu sống vui...
... Là đây biển t́nh bao la
Ngồi trông sóng chiều vươn xa
Ḷng đôi lứa thề trăm năm duyên tơ...”
Có lẽ h́nh ảnh trong ca khúc “Nha Trang” chưa bày tỏ hết tâm trạng giữa cảnh và t́nh nên tác giả gởi thêm vào cung bậc trong “Nhớ Nha Trang” để dàn trải tâm tư, t́nh cảm:
“... Từ ngày được trông Nha Trang, tôi càng mến yêu quê nhà:
Đây là đóa hoa muôn đời c̣n hương.
Từ ngày biệt ly Nha Trang, mỗi lần trông nắng vàng tới, xót xa hồn tôi...”.
Cảm nhận h́nh ảnh nơi chốn được thể hiện trong lời ca, tiếng nhạc là lẽ thường t́nh trong cuộc sống nhưng khi nơi chốn đó đă in sâu bao kỷ niệm, khi rơi vào nghịch cảnh, hoàn cảnh trớ trêu gắn liền với hệ lụy của cuộc đời, như vết hằn in sâu trong ḷng, bao nỗi xót xa.
 
                                                              *
Cuối năm 1970, tôi thuyên chuyển về Nha Trang, không biết “được” hay “bị”, với cuộc sống lang bạt kỳ hồ, tôi chẳng có điều ǵ để quan tâm. Tôi biệt phái sang Trung Tâm Điều Hợp Tâm Lư Chiến Vùng II Chiến Thuật, làm Trưởng Ban Điều Hành, mỗi ngày chỉ viết vài tờ truyền đơn và vài ḍng để phóng thanh nên công việc khá nhàn v́ thế có dịp bù khú với bạn bè... vui chơi là chính. Trung Tâm cũng nằm trong doanh trại của đơn vị gốc, thuộc khuôn viên của bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II, Pleiku. Bốn đứa kết thân nhau, la cà café và nhậu nhẹt đến nỗi Vũ Ngọc Hải, bạn đồng khóa, em ruột của đơn vị trưởng, không chịu về Sài G̣n lấy vợ.
Bà cụ gọi lên khiển trách ông anh thế nào không biết, rồi một buổi sáng âm u, ông gọi tôi lên cho biết phải tách bốn “cậu” ra bốn nơi để Hải lập gia đ́nh. Đơn vị có địa bàn hoạt động khắp vùng II nên ông bảo tôi muốn phục vụ ở đâu, cho ông biết. Tôi không có ư kiến v́ “Ở đâu cũng ăn cơm tháng, ngủ giường bố” nên để ông quyết định. Khi ông đề cập đến Nha Trang, tôi chịu ngay. Hai hôm sau, có xe đi công tác về Nha Trang, tôi vội vă lên đường. Nguyễn Trường Xuân, Y Sĩ Trưởng, về Sài G̣n học tiếp giải phẫu, Vũ Ngọc Hải về Cục An Ninh Quân Đội, c̣n Huỳnh Văn Hiếu, Trưởng Ban 4, trụ tŕ Pleiku. Khi về đến Quy Nhơn, lấy cớ thăm bạn bè, ở lại vài hôm. Gặp lúc mưa băo nên từ Quy Nhơn vào Nha Trang, tôi bảo tài xế may quá, lấy lý do đường sá hư hại, ghé chỗ nầy, tạt chỗ kia chơi luôn... vì vậy đoạn đường đó mất hết mười hai ngày, tưởng chừng đương sự mất tích.
H́nh ảnh Nha Trang sau cơn băo lụt như giai nhân bị dập vùi trong băo cát. Trong mười năm qua, tôi vẫn yêu mến khung cảnh nên thơ đă bắt gặp từ dịp nghỉ hè. của thuở học tṛ. Từ đó, tôi rất thích hai ca khúc đề cập đến địa danh đă ru ḷng ḿnh về cơi mộng nhưng khi “chọn” được nơi đă từng ấp ủ, tôi lại rơi vào t́nh trạng bất đắc dĩ. Bởi đơn vị được “trú đóng” ở nơi tốt lành nên sĩ quan phải phục tùng và “biết điều” với đơn vị trưởng, c̣n tôi th́ bạt mạng, ngang bướng, ghét nịnh nọt nên khó ḥa đồng, khó bề thích nghi trong môi trường không mấy tốt đẹp.
Hôm tŕnh diện, có ông sĩ quan của đơn gợi ư c̣ mồi về thông lệ, sĩ quan ra mắt anh em với chầu nhậu ở Gió Khơi. Tôi phán ngay việc nhậu nhẹt là chuyện nhỏ nhưng chưa thân ít khi cụng ly, cạn chén hồ trường.
Thế nhưng, đệ tử của Lưu Linh, có máu văn nghệ, chẳng mấy chốc, có bạn bè đàn đúm. Lư Bạch để lại cho đời nhiều bài thơ bất hủ về rượu, trong đó có hai câu thơ rất mết:
“Cổ lai thánh hiền giai tịch mịch
Duy hữu ẩm giả lưu kỳ danh”
(Xưa nay thánh hiền đều lặng lẽ. Chỉ người uống rượu mới lưu danh).
Đơn vị “cấp” cho tôi căn nhà bỏ trống trong khu gia binh, căn nhà chỉ dành cho sĩ quan có gia đ́nh nhưng tôi không hiểu v́ sao được “chiếu cố” như vậy. Tôi cũng chẳng quan tâm vì giữa tôi và ông đơn vị trưởng không ưa gì nhau mà vừa đến đã có nơi cư ngụ "tử tế" thế sao... Khoảng tháng sau, buổi tối cuối tuần lai rai đôi ba chén với anh Vĩnh, hạ sĩ quan Tiếp Liệu, anh hỏi tôi ở trong căn nhà nầy có thấy ǵ không? Tôi ngạc nhiên hỏi anh có ǵ mà thấy? Anh cho biết trước đây có người thắt cổ chết ngay trên cái giường tôi nằm... Tôi rót chung rượu đặt ở vị trí người quá cố, lâm râm hai câu thơ của Nguyễn Bá Trác trong Hồ Trường:
“Trời đất mang mang ai người tri kỷ
Lại đây cùng ta cạn một Hồ Trường”.
Nơi tôi ở trở thành nhà văng lai, có lẽ người chết kẻ sống đều thờ thần rượu Dionysos, Bacchus, đệ tử của Lưu Linh nên dễ thông cảm, xí xóa cho nhau. Tôi cũng chẳng xê dịch cái giường đi chỗ khác vì sợ người chết thì người sống trong đơn vị sẽ hù nên coi như không có gì bận tâm.
H́nh ảnh Nha Trang năm xưa dần dà trở về trong ḷng tôi, buổi tối uống café, thả bộ trên băi biển, đêm về chén tạc chén thù với đồng đội, vô cùng thích thú.
Người bạn thân đầu tiên là Đoàn Trọng An, quê ở Vạn Giả, anh là người Công Giáo, tôi là Phật Tử thuần thành ngày trước, cũng như Vũ Ngọc Hải, rong chơi với nhau quên cả bổn phận phải đi Lễ cuối tuần, và tôi cũng chẳng biết ngày Rằm, Mồng Một ǵ cả. Đôi khi tự biện minh, tuổi trẻ thời chinh chiến, nay c̣n mai mất, nếu có ǵ sai sót xin dành lại kiếp sau.
Trong dịp công tác, Đoàn Trọng An quen với cô giáo, người Hà Nội, chàng giới thiệu cho tôi. Duyên nợ gắn chặt với tôi từ đó, Nha Trang được ấp ủ trong ḷng tôi trải dài qua bao thập niên với bao biến thiên trôi nổi theo thời cuộc. Tôi rất quư An ở đức tính chân thật, hiền lành nên bị cấp trên bắt nạt và lợi dụng. Cặp kè với tôi rồi cũng khổ thân, bị chuyển lên công tác ở Đà Lạt. Tôi giới thiệu lại cô em nhưng duyên nợ không thành.
Mùa hè 1971, tôi theo học Khóa 3 Trung Cấp CTCT, những lá thư t́nh rất tuyệt trao gởi cho nhau, xây dựng cuộc t́nh tương lai. Cuối năm đó, tôi đổi về Đà Nẵng, khi thưa với mẹ tôi chuyện lập gia đ́nh. Mẹ tôi trố mắt rồi hỏi: “Có thật không con?”. Anh chị lại ngạc nhiên, lúc trú đóng ở Nha Trang không tính chuyện đó, về lại quê nhà lại lấy vợ phương xa. Mẹ tôi vui mừng cho đứa con út của người, dừng bước chân giang hồ để t́m về tổ ấm. Gia đình tưởng đâu tôi tạm yên bề gia thất để phục vụ gần nguyên quán nhưng bốn tháng sau, tôi hoán chuyển về Đà Lạt, lại có đi phép về thăm quê.
Người bạn thân kế tiếp thời gian ở Nha Trang là Nguyễn Kim Quư, gốc gác Nha Trang, anh và tôi không ưa với nhau từ lúc giáp mặt ở đơn vị. Thế rồi, trong dịp Tết Tân Hợi 1971, tôi làm sĩ quan trực đơn vị trong ngày cận Tết, khoảng 11 giờ tối đêm 30, anh mang đến chai Whisky của miền Scotland và chơi tṛ đánh cuộc, ai thua phải trực, nếu tôi uống hết đến giờ Giao Thừa thì anh thua và ngược lại, tôi thua.
Vừa uống vừa đem chuyện Kim Dung luận bàn về rượu với cuộc tao ngộ kẻ chánh, kẻ tà giữa Lệnh Hồ Xung và Điền Bá Quang trong Tiếu Ngạo Giang Hồ, t́nh bạn qua chung rượu với Kiều Phong, Đoàn Dự, Hư Trúc trong Lục Mạch Thần Kiếm, t́nh yêu nảy sinh giữa hai thái cực, minh giáo và tà giáo giữa Trương Thúy Sơn và Hân Tố Tố khởi nguồn từ chén rượu... H́nh ảnh Mạc Đại tiên sinh gầy g̣ với lưỡi kiếm mỏng manh dắt trong đáy dao cầm, trong quán rượu có chín gă hán tử ngồi nhậu bố lếu bố láo, v́ không biết nên vô t́nh xúc phạm đến tên ông, ông già chỉ hoa tay với làn ánh sáng lấp lánh rồi bỏ đi, cơn gió thoảng qua, chín cái miệng chén bị cắt đứt bằng nhau rơi xuống mặt bàn, vỡ tan...
Tán gẫu với câu chuyện bên chai rượu trong nửa giờ đă hoàn thành xong nhiệm vụ đánh cuộc được giao phó, tôi chiếm thượng phong trước giớ ấn định khoảng mười lăm phút, nhưng rồi bảo anh về ăn Tết với gia đ́nh, tôi làm bổn phận kế tiếp với giấc ngủ dài trong ngày đầu năm. Từ đó, chúng tôi có dịp chuyện tṛ với nhau, sau đó anh biệt phái sang phái đoàn thông dịch ở xứ Chùa Tháp, tôi đổi về Đà Nẵng, rồi cả hai cùng thuyên chuyển về quân trường ở Đà Lạt, trở thành đôi bạn thân.
Với Nguyễn Kim Quư, kỷ niệm t́nh bạn trong hai mươi năm qua, bài viết “Một Bông Hồng Cho Người Cựu Tù Nhân Chính Trị” trên nhật báo Người Việt (28-7-1991) và các tuần báo khác, tôi viết về anh và nhân cơ hội giới thiệu luận án Tiến sĩ văn chương Pháp “La Prison Chez Stendhal” dày 520 trang, vừa được hoàn thành tốt nghiệp. Tháng 3-1992, anh tham dự Hội Thảo Quốc Tế Stendhal tại Paris và thuyết tŕnh đề tài “Stendhal, Paris et Le Mirage Italien”. Tôi giới thiệu tiếp khuôn mặt người bạn trên báo chí ở Quận Cam vào tháng 4-1992.
Anh và tôi cùng cảm nhận được ng̣i bút của nhà văn Pháp ở thế kỷ XVIII đă để lại trong tác phẩm “Những nhân vật nữ đẹp tuyệt vời và thế giới ngọt ngào hương phấn, nửa hư nửa thực... Tôi yêu Stendhal có lẽ v́ cùng nỗi lăng mạn như những nhân vật ông tạo dựng, cô đơn, đi bên lề xă hội, suốt đời ôm ấp trong tay ảo ảnh một thiên đường đă mất, nơi đó t́nh yêu không có vết nhăn, không có lọc lừa, không có phản bội” (Kim Thanh ố Betima & Mùa Xuân).
Stendhal thời trẻ, chán ngán Paris, lưu lạc xứ người, bị ngộ nhận là kẻ đánh mất quê hương nhưng cuối đời ông trở về chết nơi quê nhà, với ông, quê hương như ṿng tay của người mẹ hiền, lúc nào cũng mở rộng ṿng tay đón nhận đứa con hoang quay về trong ḷng mẹ...
Nguyễn Kim Quư dạy Pháp văn ở Đại học Eastern Washington University nhưng thuộc loại bất cần đời, tính nết cũng hơi phách đôi chút nên bị kỳ thị, bỏ dạy về Oregon làm công chức, lập lại cuộc đời sau thời gian trong chốn lao tù, tan vỡ cuộc t́nh.
Với tôi, ng̣i bút của Kim Thanh chỉ nhắc nhở đến h́nh ảnh con ngựa bất kham, bạt mạng lại có mái ấm gia đ́nh.
Cảm tạ Nha Trang, cảm tạ bạn bè đă đưa con ngựa chứng về nơi biển trời mênh mông, bát ngát, rất thân t́nh.
 
                                                                *
“Nha Trang ngày về, ḿnh tôi trên băi khuya
Tôi đi vào thương nhớ, tôi đi vào cơn gió
Tôi xây lại mộng mơ năm nào
Bờ biển sâu, hai đứa tôi d́u nhau.
 
Năm xưa, biển nầy người yêu trong cánh tay
Đêm nay c̣n cát trắng, đêm nay c̣n tiếng sóng
Đêm nay c̣n trăng soi, nhưng rồi
C̣n ḿnh tôi trên băi khuya khóc người t́nh...
 
... Nha Trang biển đầy, người yêu không có đây
Tôi như là con ốc, bơ vơ nằm trên cát
Chôn sâu vào thân xác lưu đày
Dă tràng ơi! sao lấp cho mối sầu nầy”
Trót theo chồng nên rời xa quê hương cát trắng. Năm 1972, nhà tôi đổi lên dạy học ở Đà Lạt, sau 1975 tiếp tục cuộc sống nơi xứ lạnh. Mỗi năm, cứ hai lần vào dịp Tết và hè, nhà tôi đưa con cái về Nha Trang sum họp với đại gia đ́nh.
Mùa hè năm 1982, tôi trở lại Nha Trang sau những năm trong ṿng lao lư. Thăm băi biển Nha Trang, nơi để lại trong tôi nhiều kỷ niệm không bao giờ phai. Tôi lặng lẽ đi dưới ánh trăng thượng tuần tỏa ánh nhạt nḥa trên băi cát. T́nh khúc “Nha Trang Ngày Về” của Phạm Duy như nỗi ḷng, tâm trạng của kẻ chiến bại, mang nỗi khổ đau với bao vết hằn chồng chất đang t́m về nơi thiên đường đánh mất. Đâu rồi “con đường t́nh sử” của Bá Đa Lộc, mỗi lần thả bộ, nhà tôi lại nhắc đến những h́nh ảnh bạn bè giữa thập niên 60, năm Đệ Nhất A của trường Vơ Tánh; Đâu rồi những góc phố thân thương, những hàng quán ban đêm với món ăn mang đặc sản Nha Trang... tất cả đă chết theo thời gian và c̣n lại nơi đây cảnh đ́u hiu của “đất Hán Hồ”. Đâu rồi “Những người muôn năm cũ. Hồn ở đâu bây giờ?” (Vũ Đ́nh Liên)...
Tôi mới chợt hiểu rằng tại sao bao nhiêu lần về với gia đ́nh, chưa bao giờ nhà tôi ra biển một ḿnh, trong cô đơn, chỉ có nước mắt, chỉ có tiếng thở dài cho thân phận. Mồng Một Tết Mậu Ngọ 1979, Thành, em ruột của nhà tôi, vừa tṛn hai mươi, tổ chức cuộc vượt biên cùng bạn bè trong đội banh ngay Bưu Điện - Quán Gió Khơi ngày trước, Thành giấu kín người thân trong gia đ́nh, chỉ tin cho nhà tôi biết trước lúc đi. Rồi Thành đă vĩnh viễn ra đi, bóng chim tăm cá. Từ đó, nhà tôi sợ nơi chốn tuyệt vời như sợ mũi tên đâm vào lồng ngực!
Tôi trở về lang thang nơi chốn cũ với nỗi niềm mà Erich Maria Remarque chọn làm tựa đề trong tác phẩm “Một Thời Để Yêu & Một Thời Để Chết” trong bối cảnh sau Đệ nhị thế chiến.
Chia tay Nha Trang, hè 1990, đôi t́nh nhân ngày xưa qua năm tháng thăng trầm, bất hạnh mới t́m được giây phút êm đềm bên nhau giữa mây trời và cát biển của ngày tháng cũ.
Giă biệt Nha Trang, giă biệt khung trời ngày cũ trước giờ rời bỏ quê hương.
Bao năm trôi qua, xa cách quê nhà, tôi vẫn mong có được ngày về để khe khẽ hát “Nha thành mến yêu, một ngày trời sang mùa mới... Gió ơi! gió ơi! ngân ḥa thêm tiếng ḷng tôi”.
Với niềm ước mơ, một ngày nào đó, mái tóc bạc màu ngă ḿnh trên băi cát, ôn lại kỷ niệm xa xưa để hàn gắn lại lớp bụi thời gian.
 
                               Vương Trùng Dương (8-2003)
                  (Trích Đặc San Nha Trang - Khánh Ḥa Nam Cali Hè 2003)
 
 
 
                                        Trở lại trang nhà >>>
 
 
Vương Trùng Dương  Email: caliweekly@yahoo.com - vuongtrungduong@yahoo.com