Sau phóng sự
Saigon giữa ngọ, tôi muốn viết về Saigon midnight. Không
phải đêm của quán bar, pḥng trà có thể giống nhiều chỗ
khác, như mọi chỗ khác ở các thành phố lớn mà là ngoài vỉa
hè, nơi diễn ra các sinh hoạt của thành phố một cách chân
thật, gần gụi nhất. Khi tất cả cửa tiệm đă đóng cửa đi ngủ,
vỉa hè không nghỉ ngơi vẫn miệt mài cuộc sống của ḿnh. Có
điều khuya khoắt quá tôi không dám lang thang lề đường một
ḿnh, Saigon midnight măi vẫn chưa viết được.
Rồi tôi cũng
t́m được người thường hay thức cùng đêm sâu. Nhà thơ Sa
Giang Trần Tuấn Kiệt cư ngụ khu Hàng Xanh, một ngày ông ra
ngoài đường bất cứ lúc nào, có lẽ phần v́ nhà cửa chật chội,
và dù cái nắng giữa trưa miền Nam có chang chang vẫn đỡ khó
chịu hơn gian gác nhỏ luôn nóng bức như ḷ nướng bánh. Sớm
uống cà phê đương nhiên, chiều và tối đều ra ngoài. Thậm chí
nửa đêm về sáng không ngủ được ông cũng ra quán cóc trầm tư
cùng đèn đường và trăng sao.
Tôi ngồi với
ông nơi ấy. Vỉa hè Hàng Xanh thật lư tưởng để ngóng đêm thâu
v́ là đầu cửa ngơ xa lộ ra vào thành phố. Khi mọi nao nức
của ban ngày lắng xuống, cuộc sống về đêm lặng lẽ hơn nổi
lên những sắc màu ch́m đắm. Bà quét rác đi thu tiền góp, xe
đ̣ thả người khách xa lỡ độ đường, những cô gái ăn sương
trắng phếch mặt phấn, tên cao bồi xấc xược xin mồi thuốc hay
đứa bé quỳ gối ăn xinà
Từ đó khám
phá ra cái thú ngồi quán, tôi theo nhà thơ đổi chỗ dài dài
khắp hàng quán suốt dọc Hàng Xanh, Thị Nghè, không nhà hàng
sang trọng hay tiệm nước cửa kính riêng rẽ, tách biệt mà là
những nơi ḥa lẫn vào giữa cuộc nhân sinh chao đảo. Nhà thơ
thường xuyên ngồi đó trầm ngâm nh́n những cảnh đời chung
quanh. Ông hút thuốc liên tục và chuyện tṛ lan man.
Khi tôi c̣n
nhỏ, ông đă nổi tiếng. Bài thơ đầu tiên tôi xem là Trăng
Xuân Thu.
Mai ta về
sau núi
Mà cất am tị
trần
Vẽ h́nh nàng
trên gối
Ngồi ngắm
suốt mùa xuân.
Về sau đọc
nhiều hơn tôi mới biết thơ của ông không chỉ đượm nét hào
hoa của cổ thi mà c̣n nhiều khuynh hướng khác: thần bí, hiện
thực, tượng trưng. Không phải chỉ thơ t́nh cảm lăng mạn mà
c̣n các vấn đề xă hội và tâm tưởng. Ông cũng thường xử dụng
một thể thơ mới gồm nh?ng câu, nhưng bài thơ ngắn mà một số
người lầm tưởng Haiku hay Tanka.
Có một tiếng
khua.
Trong hành
lang sự sống
Bọt bể trầm
tư
hay
Ta vẫn ngồi
KhắÔc tượng
đá đời ḿnh
Bên bờ vắng
Một hớp rượu
t́nh người
Ồ ai ôm lấy
vai gầy
Hai bàn tay
thế kỷ
Bài thơ đầu
tiên T́nh Trương Chi đăng ở báo Sinh Lực của Đồng Tân. Sau,
ông cộng tác với Phổ Thông của Nguyễn Vỹ, Văn Hóa Ngày Nay
của Nhất Linh, Vui Sống của B́nh Nguyên Lộc, Sống, Sóng
Thần và hầu hết các báo về văn học nghệ thuật từ 1963 đến
1975. Trần Tuấn Kiệt làm thơ rất nhanh và nhiều. Thơ làm
xong ông bỏ đầy lộn xộn trong ngăn tủ!
Mấy tập
trường ca chính: Bài Ca Thế Giới, Trường Ca Đất đă đăng
đoạỳn đầu trong báo Nghệ Thuật của Mai Thảo, Ngôi Đền Cổ,
Triều Miên ngâm khúc là khúc kinh khóc con trù định viết đủ
một ngàn câu nhưng đến chín trăm chín chục câu th́ ngưng,
ông cho đó là ư Trời cuộc đời này không bao giờ được đầy đủ
tṛn vẹn. Thi phẩm Lời Gửi Cây Bông Vải đoạt giải thưởng Văn
học nghệ thuật quốc gia viết về chiến tranh VN lồng trong
h́nh ảnh thần thoại dân tộc. Ngoại trừ thơ tuyển đưa vào
hàng chục tập: Hồng Hạc riêng tặng người mẹ mất sớm và nơi
chôn nhau cắt rốn, Thơ Trữ T́nh, Thái Hằng, Cổng Gióà Lạc
Đạo Thi đang viết hiện nay được hơn hai trăm bài. Nh?ng ngày
bé thơ giữa thiên nhiên Cồn Tiên đă tạo nhiều kỷ niệm rất
quan trọng trong việc h́nh thành nên các sáng tác chính của
ông. Một trong nh?ng kỷ niệm đó là Ngôi đền thiêng. Một buổi
gió vi vu trắng xóa vườn bông vải bốn bề hoang vu, ngoài xa
sóng vỗ sông dài, nằm nh́n lên mây trắng trên cao, ông thấy
không phải bức tranh vân cẩu mà dường vẽ ra h́nh dáng một
ngôi đền vĩ đại, ấn tượng ấy đă trở thành sự ám ảnh mạnh mẽ
đi theo suốt cuộc đời ông để hiện diện vào trong nhiều tác
phẩm.
Sau này bận
nhưng thỉnh thoảng tôi vẫn ghé ông ngồi quán, vào sớm mai
cuối năm mang mang cảm giác bùi ngùi của mùa Đông, buổi
chiều hoàng hôn đỏ ối mặt trời chưa bị nhà cao tầng che
khuất, hay đầu hôm trước ḍng xe cộ tuôn tràn như thác lũ,
tôi nghe ông kể nhiều chuyện về cuộc đời. Thời ấu thơ ở Sa
đéc rồi nh?ng tháng ngày lưu lạc đất Saigon. Tôi ngạc nhiên
khi biết ông từng học trường Quốc gia âm nhạc khóa I cùng
với cô Lê thị Kim Ngôn, vận động viên bóng bàn nổi tiếng một
thời và ông Nguyễn văn Đời, sau này đảm nhiệm chức trưởng
khoa âm nhạc dân tộc của Nhạc viện thành phố, là thầy dạy
tôi môn đàn tranh. Âm nhạc đă rớt rơi trên cuộc đời lang
bạt, chỉ c̣n sót lại ống sáo từ lâu chủ nhân không c̣n thổi,
cũng không dùng để dạy nữa, treo quên trên tường nhện giăng
bụi bám, năm ngoái ông đem tặng nốt cho người bạn thơ mới
quen đến nhà. Không biết có phải v́ thông thạo các nhạc cụ
cổ truyền, v́ gắn bó chặt chẽ với quê hương từng bước thăng
trầm, nên thơ ông luôn phảng phất ḷng hoài niệm, sự ray rứt
mănh liệt và niềm tin yêu vô bờ đối với đất nước và dân tộc.
Tôi tức cười
khi nghe kể cây sáo của ông được chế tạo bằng đồng chứ không
phải làm từ thân trúc, v́ không những chỉ dùng để véo von
lên những giai điệu Trương Chi mà đó c̣n vừa là vũ khí pḥng
thân. Là môn đồ Tây Sơn Nhạn, một chi nhánh của ḍng vơ Tây
Sơn, ông từng nổi tiếng trong làng vơ với bộ đá B́nh Sa Lạc
Nhạn của Tây Sơn Nhạn và đ̣n Phá Dao, cũng vơ cổ truyền. Vừa
giỏi vơ, vừa đọc sách vơ hiệp thuở nhỏ, nhưng bộ sách quen
thuộc thời bấy giờ như Long Hinh Quái Khách, Bồng Lai Hiệp
Kháchà khiến ông có thể tự đặt ra nhiều chiêu thức thực hành
trong đời sống và đưa vào các cuốn truyện vơ hiệp của ḿnh,
có lúc c̣n mong muốn trở thành chưởng môn của một môn phái
vơ thuật tự sáng lập. Một nhà thơ thậm chí đôi khi thượng
đài lấy tiền vui chơi với bạn bè và khi cần, có thể thu nhận
môn sinh để sở truyền lại các ngón vơ.
Cây sáo cuối
cùng đă cho đi, nói ǵ đến thanh âm của đàn nguyệt, đàn
tranh. Dẫu sao đó chỉ là những hương vị thêm vào cuộc sống.
Chung thủy đến cuối đời, như máu chảy trong huyết quản, như
hơi thở tự nhiên, đối với ông, chính là thơ trên bước đường
đời không mang nhiều dễ dàng, may mắn. Ông gơ tay lên bàn,
ngâm nga quán vắng dưới đèn đường đỏ quạnh phủ lấp ánh trăng
non. Giọng ngâm thơ mới sang sảng ngày nào ở chương tŕnh
Nghệ Thuật Truyền Thanh và các trường Văn Khoa, Vạn Hạnh
cùng Trần Dạ Từ, Đỗ Quư Toàn, Viên Linh, Nguyễn Nghiệp
Nhượng, Tú Kếu... giờ khàn khàn trút vào một thoáng xa xăm.
Em đi chân
bước lạc đà
Suốt miền ải
hạn giữa sa mạc người
Nhiều ngườii
nghĩ rằng ông duy nhất chỉ làm thơ. Thật ra ông lăn lộn
trong nghề báo suốt từ năm 1963 đến 1975 với rất nhiều báo
chí bấy giờ: Sống, Liên Minh, Phổ Thông, Dân Ta, Sân Khấu...
Ngoài thơ và biên khảo thơ là sở trường, ông c̣n viết khoảng
hai trăm cuốn truyện kiếm hiệp, dă sử t́nh cảm kư Lan Sơ
Khai, Xuân Thu, Hồng Lĩnh Sơn..., sách vơ thuật lấy tên Hồng
Lĩnh, Phi Long, Đại Tâm. Sách về tư tưởng dưới bút hiệu
Việt Thần, Duy Thức, Việt Hoàng, không kể một số truyện:
Tiếng Đồng Nội, Sa Mạc Lan Dần, Mê Cung, Màu Kỷ Niệm...
Trong đó Tiếng Đồng Nội là tác phẩm mang tính độc đáo của
văn chương Nam bộ đặc trưng. Vào khoảng thập niên 70, ông
c̣n chủ trương nhà xuất bản Hồng Lĩnh với Mặc Tưởng, Phạm
Quốc Bảo, Bùi Ngọc Tuấn chủ yếu in các tác phẩm của ḿnh và
bè bạn. Sau này, lúc bắt đầu mở cửa, có thời gian sách kiếm
hiệp trở lại bán chạy, ông viết đều đặn cứ mỗi đêm năm mươi
trang truyện, sáng ra có người đến lấy bản thảo trao lại năm
trăm đồng. Riêng bộ Thần Đạo mà tư tưởng xuyên suốt tác phẩm
các loại từ trước đến giờ không nhằm viết chạy gạo, mà chính
là tâm huyết cuối đời dốc kiệt sức lên trang giấy trắng.
C̣n chút hơi
tàn với bóng đêm
Máu rơi ba
giọt dưới chân thềm
Văn thơ là
vậy, ám vào người cầm bút không buông tha, một đời hiến cho
nghiệp ấy, bởi v́ ngoài viết lách, ông không thể mưu sinh
bằng bất kỳ công việc nào khác. Ông viết mê mải cho tới khi
không c̣n ngồi vững, nhiều lần quỵ ngă lâm ngọa bệnh. Không
dùng máy chữ hay vi tính, ông miệt mài trên từng xấp bản
thảo dày cộm. Lăng du trong cơi thơ thật xa lạ với những
giới hạn của đời thường, ông luôn luôn đẩy nh?ng đam mê của
ḿnh đi đến chỗ tận cùng. Không quan tâm đến tiện nghi vật
chất và coi nhẹ thói thường, ông thông thạo thú nuôi chim,
đá gà, trồng hoaà và chén trà tịch mặc, ly rượu ngả nghiêng,
và gởi trọn niềm say đắm tới những nàng thơ. Ông sống thật
ngang tàng bạt mạng, cũng thật dễ mềm ḷng, cả tin, không
màng lưu giữ chút ǵ riêng tư cho bản thân, ông phóng khoáng
cùng bằng hữu và tấm ḷng luôn trải rộng chẳng chút nghi
hoặc với nhân gian.
Những năm
tháng vui vầy bè bạn đă trôi qua, ch́m vào kư ức. Rồi đến
quăng thời gian dài khốn khó chung như mọi người. Ḍng thơ
không v́ thế mà ngưng chảy. Ông và thơ chỉ là một. Vui hay
buồn, hạnh phúc hay đau khổ, tất cả đều thể hiện qua vần
điệu.
Giang hồ
luân lạc tuổi xanh
Càn khôn
rượu chuốc năm canh một hồ
Đầm đầm máu
lệ chưa khô
Trăng thiên
thu rạng cơi bờ bể dâu
Là người có
tư tưởng, ông dành ra nhiều năm soạn thảo bộ Đại Việt Thần
Đạo, bản thảo đồ sộ viết tay đóng lại thành mười lăm tập
dày. Tác phẩm có tham vọng đề ra một tôn giáo, một triết
thuyết đặc biệt riêng cho dân tộc Việt đi từ cộỳi nguồn Thần
minh của Việt tộc tự xa xưa trong huyền sử, thần thoại đến
hiện đại. Vượt lên sự thở than, chán nản mặc thời gian hoài
phí trôi qua hoặc lẩn tránh trước những biến cố gai góc,
thách đố như nhiều ngườii cùng cảnh ngộ, cho đến bây giờ dù
mái tóc ngả sương, sức khỏe đă hao ṃn, ông vẫn giữ được
tính cách mạnh mẽ không hề biết đến xuôi tay. Cây bút vẫn
cứng cỏi trong tay ông.
Và từng đêm
lại xuống không nguôi khắc khoải, ông vẫn thao thức giữa ngă
tư đời giao nhau ngh́n nỗi nước non. B́nh yên là điều không
bao giờ Thượng đế trao đặt nơi tâm hồn ông, niềm ưu tư hằn
rơ trên gương mặt. Nhưng cùng lúc, điều ân phúc cũng do
Thượng đế trao tặng bất biến theo thời gian, khiến nhà thơ
không trầm luân theo đời mọn mà thong dong trên ngh́n trùng
hoa lá, chính là tình yêu gửi ngườii măi măi nồng nàn.