Home Văn Học   Nghệ Thuật 

Sinh Hoạt

Phiếm Luận Diễn Đàn

Giải Trí

Thư Tín 
Văn Học
Nghệ Thuật
Sinh Hoạt
Phiếm Luận
Trang Thân Hữu Thơ - Văn
Diễn Đàn
Giải Trí
Thư Tín
 
 
               Thơ Diên Nghị
                                                                        VTrD giới thiệu
 
    Diên Nghị họ Dương, quê quán Lệ Thủy, Quảng B́nh. Cựu học sinh Quốc Học, Huế. Động viên vào quân đội, ra trường năm1956, phục vụ trong ngành Chiến Tranh Chính Trị tại Quân đoàn II, III và IV.
Làm thơ từ thời c̣n cắp sách vào đầu thập niên 50. Thơ xuất hiện đầu tiên trên tuần báo Thẩm Mỹ tại Sài G̣n năm 1952. Sau đó thường xuất hiện trên các tuần san, tạp chí: Chiến Sĩ cộng Ḥa, Bách Khoa, Khởi Hành, Sáng Tạo, Văn Nghệ Tiền Phong ... Tên tuổi của ông cũng được nhắc đến trong các tác phẩm: Thi Nhân Việt Nam Hiện Đại của Phạm Thanh 1958, Những Nhà Thơ Hôm Nay của Nguyễn Đ́nh Tuyến 1966, Những Khuynh Hướng Thi Ca Việt Nam của Nguyễn Đ́nh Tuyến 1967, Thi ca Việt Nam Hiện Đại của Trần Tuấn Kiệt 1967, Thơ Việt Hiện đại, Uyên Thao 1964, Tự điển Văn Học Việt Nam, Thanh Tùng 1973….
Song song với sinh hoạt văn nghệ và đời sống quân ngũ, ông c̣n theo theo học đại học và tốt nghiệp Cử nhân Luật.
  Thi phẩm đă xuất bản:  Xác Lá Rừng Thu 1956, Chuyện Của Nàng 1962, Rừng Đỗ Quyên và Kẻ Lạ 1971, Vùng Trời… Truyện dài Mây Trắng 1971 và một tập biên khảo Khái Luận Về Thơ Mới 1956, Khái Luận Về Văn Nghệ Quân Đội...
    Năm 1960 ông nhận giải thưởng Tao Đàn và nguyên Ủy viên Thơ Hội Văn nghệ sĩ Quân đội VNCH.
    Sau tháng 4 năm 1975, ông trải qua nhiều năm lao tù. Đến Mỹ năm 1994 (H.O 20). Với nghiệp cầm bút, ông giữ vai trò Tổng Thư Kư tạp chí Chiến sĩ Quốc Gia tại San José, rồi ông hợp tác với vài đồng nghiệp sáng lập viên Cơ Sở Thi Văn Cội Nguồn vào năm 1995... Ngoài ra, ông c̣n là thành viên nhóm Nghiên cứu Lịch sử Việt Nam Cận Và Hiện Đại tại Santa Clara. Đă xuất bản quyển I “Việt Nam - Cuộc chiến tranh Quốc Gia-Cộng sản”.
 
GĂ DA ĐEN GÓC PHỐ
 
 
Trầm lụn không gian đen
Loáng thoáng đèn mờ đục
Gă da đen gà gật
Liên tưởng cổ tích xa
 
Đón đợi bóng người qua
Ngửa tay xin điếu thuốc
Đồng quarter cũng tốt
Để c̣n thấy ngày mai....
 
Hư ảo ṿng sinh phần
Nh́n hàng phong trụi lá
Từng mảng đời lụi gió
Như hóa hiện mong manh
 
Mái trọ kẻ không nhà
Mất c̣n bên góc phố
Nếu gă c̣n nguyên hơi
Khúc saxo... cuồng nộ
Vang động bốn phương trời
 
Nếu gă làm được thơ
Ngôn từ thơ u-uất
Ư từ thơ rất thật
Rút từ nỗi đau người!
 
Một đêm xuân lêu bêu
Tối loanh quanh ngang phố
Gă da đen dáng quen
Co quắp trong túi ngủ
 
Vườn kỳ vĩ thiên đường
Vẫn nhú mầm địa ngục
Giấc chập chờn sắc không
Gă t́m ra hạnh phúc
Gă da đen kiệt sức
Đă vĩnh biệt mùa xuân
Xă hội người bất lực
Và tôi, kẻ yếu hèn.
 
 
CHÂN LƯ
 
Thuở xưa...
Ngày xưa...
....
Bác học Bruno
Bước lên giàn hỏa thiêu
Hồn nhiên như dạo phố
Quay mặt nói với lũ người cuồng nộ
Quả đất vẫn tṛn
Sau trước niềm tin
Dù thân này - cát bụi tro than
 
Lũ cuồng tín nhất định quả đất vuông
Ông thánh, ông thần phán dạy
Kẻ nào nói khác đi - quân càn quấy
Tội đồ giữa hỏa thiêu
 
Ngàn năm sau
Trí tuệ con người hào quang ngời reo
Bay lên tận mặt trăng
Nh́n xuống
Quả đất chúng ta tṛn - bong bóng
Màu xanh thực vật, màu mát dịu dung nhan
 
Thế kỉ hai mươi đang đếm bước cuối cùng
Có những kẻ c̣n tôn thờ cuồng tín
Truy chụp anh em - nguời dị đồng chính kiến
Gieo rắc hận thù giữa tai họa đau thương
 
Những thằng ngu ba hoa chuyện văn chương
Những bọn khùng điên đ̣i làm lịch sử
Kẻ thất học mơ giấc mơ lănh tụ
Quân thần nằm chết
Lớp bùn đen !
 
Chân lư Bruno - chân lư người hiền
Rừng rực hỏa thiêu
Nghênh ngang sự thật
 
Ngày nay
Con người tung hô xuyên tạc
Trắng đổi đen, xanh đổi đỏ vàng...
Nghĩ buồn thay chuyện của thế gian!
 
 (*) Bruno (Giordano) 1548-1600, triết gia, bị ṭa án
dị giáo kết tội, bắt trói hỏa thiêu sống.
(Philosopher: burned at the stake by the Inquisition).
 
 
 
 
THÁNG TƯ
 
Tháng tư chợt thức - bừng tin dữ
giặc khép ṿng vây ép Sài G̣n
hải hạm vội vàng rời căn cứ
đường bay tên lửa xé thinh không
 
Tháng Tư  - vợ ngóng chồng đầu ngơ
nón sắt, giày sô vất dọc đường
mưa sớm khai mùa tuôn xối xả
đất trời xót động nỗi tai ương
 
Thương binh lê lết, ra y viện
tà quyệt nào tha phận tật nguyền
đơn vị ră hàng, tàn chinh chiến
hỏi người nhân đạo với nhân danh
 
Có người lính trẻ không buông súng
ngẩng mặt hiên ngang trước kẻ thù
thà ngă dưới cờ, tṛn danh dự
dày trang sử Việt, sáng thiên thu
 
Đất lạ năo ḷng mỗi tháng tư
đêm ngồi diện bích nỗi thực hư
hai bờ Nam Bắc, đâu Chân, Ngụy
ai thắng, ai thua? Cuối cuộc cờ.
 
 
KẺ XA...
 
Họa “Nếu Anh C̣n Trẻ”
đáp tạ thịnh t́nh thi sĩ Hoàng Cầm từ Kinh Bắc
 
 
Bỗng dưng gợi tưởng thời xưa ấy
Chung lối đi về gọi em anh
Hương ngọt rủ rê con bướm lại
Cho hoa hồng nụ lá tươi xanh
 
Tạo vật tùy duyên người duy phận
Trùng vây thế sự mịt mù sương
Nỗi nhà ly cách niềm chia biệt
Phó mặc sinh phần sóng viễn dương
 
Mười năm ai đó c̣n lui gót
Mang hộ tâm t́nh kẻ ở xa
Lưu lạc xứ người thương được mất
Tàn khuya thèm quá tiếng canh gà...
 
 
QUẢNG B̀NH
 
Quư tặng anh Lê Công Y,
người chứng kiến Quảng B́nh qua dâu biển.
 
 
Quảng B́nh ơi, hỡi bạn Quảng B́nh
Sử xanh in đậm, biếc ḍng Gianh
Một thớ Trịnh Nguyễn chia Nam Bắc
Máu đỏ pha sông, xương dựng thành
 
Lớn lên - nh́n núi với nh́n sông
Dằng dặc Trường sơn điệp điệp rừng
Nhật Lệ mấy phen hồng thủy dậy
Đất cằn, quê mẹ - nỗi đau chung
 
Những tưởng ĺa quê hẹn buổi về
Binh hùng, sĩ dũng, pháo liền xe
Ngờ đâu tráng sĩ trên lưng hgựa
Chiến mă thất cơ hóa ngựa què!
 
Từ đó, quê hương, chỉ một lần
Thân tù xiềng xích chuyển về Nam
Ga xưa: Thuận Lư thay dời chỗ
Đồng Hới nơi nạ đêm tối tăm?
 
Biết hỏi ai, Thù - Bạn, lạ, quen
Sân ga trơ vắng - ánh đèn câm
Bé thơ rao bán “Ai trà nóng”
Nghe xót xa thay giọng Quảng B́nh!!
 
Nh́n em áo vá, chằm ba lớp
Chân đất, bùn lem luốc mặt mày
Mắt đọng u hoài - buồn - tội nghiệp
Khổ nghèo trùm phủ bóng thơ ngây...
 
Cũng phút giờ này quê hương tôi
C̣n bao nhiêu trẻ nữa - hỡi trời??
Bao nhiêu số phận bi thương khác
Xă hội quay lưng chẳng đoái hoài!
 
Con tàu chở nặng khâuất trùng đêm
Hướng tới phương Nam ruột thịt gần
Bến Hải thông đường chung một ngả
Sao ḷng Nam Bắc vẫn qua phân?
 
Hỡi bạn gần xa - của Quảng B́nh
Ở đâu? Đầu, cuối cực hành tinh?
Hăy dâng lời nguyện cho quê Mẹ
Hoa thắm, vườn xanh đổi dáng h́nh
 
Ta về, cùng Nhật Lệ - đầu Mâu
Non núi cao và sông biển sâu
Nơi đó địa linh sinh tuấn kiệt
Lũy Thầy ta dựng lại mai sau...
 
                          Diên Nghị
 
 
 

 




 


 

 

Thư từ liên lạc:  vuongtrungduongonline@yahoo.com
Copyright © 2006 vuongtrungduong
Last modified: 01/02/07