Home Văn Học   Nghệ Thuật 

Sinh Hoạt

Phiếm Luận Diễn Đàn

Giải Trí

Thư Tín 
Văn Học
Nghệ Thuật
Sinh Hoạt
Phiếm Luận
Trang Thân Hữu Thơ - Văn
Diễn Đàn
Giải Trí
Thư Tín
 
 
           Thơ Tô Thùy Yên
                                                                    VTrD giới thiệu
 
   Tên thật là Đinh Thành Tiên sinh ngày 20 tháng 10 năm 1938 tại Gò Vấp, Gia Định học qua Petrus Ký và Đại Học Văn Khoa Sài Gòn.
Nhập ngũ năm 1963, Khóa 17 Trường Bộ Binh Thủ Đức. Phục vục tại vùng IV Chiến Thuật 2 năm rồi được đổi về Cục Tâm Lý Chiến.
Bước đường văn nghệ được khởi nghiệp từ Tạp chí Sáng Tạo do Mai Thảo chủ trương tại Sài Gòn những năm đầu thập niên 1960, thơ Tô Thùy Yên xuất hiện đều đặn trên các tạp chí văn hoc và được đón nhận như luồng sáng tạo mới về kỹ thuật cũng như cấu trúc thi ngữ.
   Cuộc tình của ông với nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ (tên thật là Nguyễn Thị Băng Lĩnh, sinh năm 1937 tại Vĩnh Long) có đứa con là Khôi Thụy, chẳng may cháu bị tật nguyền, chậm phát triển, nằm liệt trên giường… Sau tháng 4-1975, NTTV đem con về sống âm thầm tại Lộc Ninh… (Khi nhà văn Văn Quang đề cập đến tình trạng cháu Khôi Thụy và bài viết của tôi về NTTV, thân hữu khắp nơi đã động lòng từ tâm, hỗ trợ cho NTTV được ổn định đời sống). Ông và NTTV chủ trương nhà xuất bản Hồng Đức, sau đổi tên thành Kẻ Sĩ.
  Là nhà thơ nổi tiếng trong thập niên 60, 70 nhưng chỉ ra đời tuyển tập Thơ, có 3 tác phẩm: Hồn Thụy (tiểu thuyết), tuyển tập truyện ngắn và Phận Người (dịch tác phẩm của André Malraux).
Sau tháng 4 năm 1975, ông bị 13 năm lao tù, định cư tại Minnesota, Hoa Kỳ theo diện H.O.  Năm 1995, tập thơ Tô Thùy Yên được xuất bản tại Hoa Kỳ, ông lập lại cuộc tình với cô Phan Dụy và về chung sống tại Texas. Thời gian gần đây (2006) ông bị bệnh tim trầm trọng. Và, Phan Dụy cũng chắp nối với cuộc tình khác!
  Đề cập về thơ, Tô Thùy Yên viết: “Tôi quan niệm là nếu làm thơ vần mà cảm thấy mình bị khó khăn trở ngại vì vần thì chưa thể làm thơ vần được, nếu không nói hơn là chưa thể làm thơ được. Thơ vần có một điều thoạt nghe nghịch lý là người làm thơ phải công tìm vần, nhưng vì việc tìm vần bao giờ cũng diễn tiến song song với việc tìm tứ, nên thơ vần gần như đã rải sẵn những chỉ dấu u hiển để cho người làm thơ nương lần theo và dễ có cơ may tìm ra những chữ, những tứ tuyệt vời, nhiều khi không thể ngờ trước được. Thực tế mà nói, thông thường, vần điệu đưa tay dẫn dắt, và than ôi ! cũng kềm chế thi hứng. Một cách tiên thiên, bản thân nghệ thuật bao giờ cũng phải chấp nhận những bó buộc nào đó. Tôi vẫn không quên một lời nói của André Gide : ‘Nghệ thuật sống nhờ luật tắc, và chết vì buông thả’ Tôi tin chắc rằng ngay cả thơ tự do, tiến gọi là tự do đi nữa, cũng phải tuân thủ những luật tắc nào đó, những luật tắc nội tại của nghệ thuật.
   Có những thể thơ, như song thất lục bát chẳng hạn, không còn hợp thời nữa, nhưng chẳng phải vì vậy mà có thể quả quyết một loại thơ nào đó đã được khai thác đến cùng kiệt, không còn gì để vét múc nữa. Vấn đề chính yếu ở đây, có lẽ không phải là làm mới thơ vần, mà làm mới hồn thơ. Một thời đại không nhất thiết chỉ có độc mỗi thể thơ. Và tôi cũng không tin rằng có thể có một thiên tài thơ không vần nào mà trước đó chẳng làm nổi ít ra hai câu lục bát hay bốn câu thất ngôn ra hồn. Rõ ràng là trước khi vẽ theo lối lập thể, Picasso đã là một tay nghề tuyệt diệu của hội hoạ truyền thống. Trong nghệ thuật, việc đi tới phải là một nhu cầu thời thế, chớ không chỉ là ý muốn suông trơn. Hơn nữa, trong nghệ thuật, không hề có lối đi tắt”.
   Những bài thơ của Tô Thùy Yên sáng tác sau năm 1975 rất tuyệt, nhiều người cho rằng hay hơn trước kia. VTrD – Cali Weekly

 

Thắp Tạ
tặng Huỳnh Diệu Bích
 
Một mình nàng lên núi chan chứa
Hỏi tìm cho gặp đá tiên tri
Về sau, đời có ra sao nữa
Cũng đã đành tâm sẵn một bề
 
Đá, chẳng đá nào lên tiếng với...
Nàng đi thôi đã nát chân hồng
Nghe con vượn ẩn thân khóc hối
Một lần lỡ bỏ chuyến lìa non
 
Một mai nàng vô rừng u ẩn
Nhặt trái nưa về nhuộm dạ sầu
Thấy trăm họ cỏ cây chen quấn
Nương náu nhau mà tội nợ nhau
 
Con loan, con phượng bay đâu lạc
Đến nỗi nào, sao chẳng gọi bầy?
Nếu như hoa biết chiều nay rụng
Âu cũng vui mà nở sáng nay
 
Một mai nàng qua cầu cam mặc
Mưa nắng gì thôi cũng một thì...
Rau hạnh, rau vi từ lúc có
Chưa từng nguôi biếc bãi Kinh Thi
 
Cửa đẩy lầm, vô lường cuộc diện...
Ba ngàn thế giới đã nhà chưa?
Lâu ngày, thân thế rách như gió
Thấy lại mình như kẻ đáng ngờ...
 
Một mai nàng đến thành hoa gấm
Hát một chiều, tiền thưởng ngập chân
Vui nốn náo trời, thốc tới biển
Một lần, thử đổi bỏ chân thân
 
Gà nửakhuya gáy xộ trăng muộn
Ai hồ nghi lộn kiếp bên này?
Con chó khóc tru ngoài địa giới
Ngờ ngợ người góc biển chân mây
 
Một mai nàng ra bãi vô định
Nhìn sông đổi lòng, nhìn núi chuyển chân
Mây bay bay như những vẫy biệt
Nàng đứng cho tàn như một nén nhang
 
Thắp tạ càn khôn một vô ích
Thắp tạ nhân quần một luyến thương
Biển Đông đã một ngày xe cát...
Đắm giạt, mơ lai kiếp dã tràng
 
Mòn Gót Chân Sương Nắng Tháng Năm
tặng Lê Thị Trang
 
Đôi bàn tay vỗ nháng âm thanh
Loan báo trần gian buổi thượng trình
Của các vương tôn miền trí tuệ
Lần sau cùng phó hội u minh
Ôi, các vương tôn miền trí tuệ
Mưu đồ đo đạc cả Vô Biên
Tung ra khắp bãi thời gian lộng
Lượn lượn ưu tư khốc liệt rền
Giờ đã thượng trình im tịch diệt
Nhòa tan sắc áo bụi quan san
Mỏi chìm đóm lửa ngoài muôn dặm
Kể từ đây, thế giới cư tang ...
Suốt bến sông này hoa trắng nở
Cỏ cây lưu gió khóc mơ màng ...
Chẳng hẹn mà sao vẫn đợi nhau ?
Nước xưa về tận chốn giang đầu
Thăm hỏi con chim màu sặc sỡ
Lời ca u uất giấu nơi đâu ?
Con chim thoát xác thành cơn mộng
Bay liệng dài trên trí nhớ không
Chiều chiều lớp lớp mây tiền sử
Quần tụ bên trời gợi nhớ nhung
Ta gửi mỗi ngày một sợi tóc
Cầu may cho trận gió kinh thiên
Có ai bên cõi vô cùng tận
Bắt gặp lòng ta bay đảo điên ?
Có thể mai kia, Thời Đại Lớn
Sáng rền trên cõi sống tinh anh
Bây giờ, cỏ mọn nơi mồ lạnh
Cũng nửa vàng chen nửa biếng xanh
Đời đồng thuộc mỗi câu tra vấn
Gió thổi chai người đứng lặng thinh
Biển Bắc tuyệt mù con nhạn lạc
Thời gian mất trí trắng vô âm
Hỡi người cố cựu trong trời đất,
Khi nước tràn sông, có nén tâm ?
Vụt đuốc đi thầm đến mãn kiếp
Lèm bèm ú ớ chuyện nhân gian
Phất phơ chéo áo đường thiên cổ
Nước mắt hồng tuôn đến đá mòn
Đâu miệng giếng xưa giờ ẩn tích
Dưới xum xuê hoang phế xanh rờn ?
Trăn năm, rồi lại trăm năm khác,
Tên đóa hoa này, ngươi nhớ chăng ?
Con ngựa bất kham cuồng bão táp
Cõi hồng trần lôi nỗi kinh tâm
Tiếng kêu réo đuối trong thăm thẳm
Mòn gót chân sương nắng tháng năm
Thấy, thấy sóng tan tành lũ lượt
Đời hoài công đứt nối miên man
Ta về tắm lại dòng sông cũ
Luống những bình yên kiếp dã tràng
Ha hả tiếng cười u tịch thốt
Đêm đêm sao lạc rụng trong vườn
Sáng ngày, đời giật mình ngơ ngác
Mường tượng đôi ba chuyện bắt quàng
Ta gắng về sâu lòng quá vãng
Truy tầm mê mỏi lý sơ nguyên
Hỡi ôi, dọc dọc thây câm cứng
Mắt trợn trừng chưa dứt ngạc nhiên ...
Ta lại trồi lên dương thế rộn
Ngày ngày ra bãi vắng vời trông
Bóng chim, tăm cá, cành trôi dạt ...
Bất luận điều chi giữa mịt mùng ...
 
Lão Trượng
 
Lão trượng chiều quay về bản quán
Thong dong đường tre trúc hắt hiu
Nghe, nghe trời đất hát xa lộng
Những tưởng tâm mình đang hát theo
Mừng linh thụ tóc râu khang kiện
Đông đủ chim về ấm cúng đêm
Mừng cổ đình tường mái phục chế
Đời trùng tu từ thịt xương rêm
Lớp bạn cũ ơn trờ để lại
Trà vườn nhà, nước trữ mưa xưa
Giọng chùng như cất từ u ẩn
Cố sự, tro tiền thả gió đưa.
 
Nhớ xưa thiên địa dậy hồng thủy
Núi sụp, rừng trôi, dời sảng hoàng
May nhiều, còn đứa con vơ vội...
May ít, còn tiếng nói tùy thân...
Mưa như trời sập, mưa không tận
Bốn biển dâng thành một biển thôi
Hạt cây, mầm lửa truyền nhau giữ
Nhân loại còn đâu được mấy người...
Anh phải sống, mai này nước rút
Đất trồi lên, xuất hiển kỳ lân
Thời thánh vịnh, hiền thi kết tập
Đồng hoa thánh thót phượng cầu hoàng
 
Nhớ xưa thiên địa bày hoang hạn
Sông cạn, đầm khô, rừng rụi tàn
Gió đuổi trùng trùng sa mạc chạy
Thú sẩy đàn, nhân loại lìa tan...
Người chết, không còn người dọn cất
Bỏ mặc tình quạ mổ diều tha
Cát vùi cả xương trắng lưu dấu...
Mặt đất vô danh, ký ức lòa
Thôi, rán giữ gìn chút nước mắt
Mai sau nhờ đó nhận ra nhau
Sẽ mưa, trời sẽ mưa châu ngọc
Ta sẽ về, qua bãi lệ rào.
 
Nhớ xưa thiên địa dậy binh lửa
Xứ xứ rần lên, người giết người
Thú loạn rừng kêu rú nhật nguyệt
Ruộng hoang, thành trống, ai tìm ai?
Núi đổ lấp sông, sao chổi hiện
Nhãn tiền sống chết, chuyện như chơi
Đêm trước đại quân vừa hạ trại
chiều nay, lều cháy, xác thây phơi
Xa giá càn dân lấy lối chạy
Trẻ giữa đường đứng khóc một mình
Sau cùng, có người lính chấp kích
Ra trước Ngọ môn mà quyên sinh
 
Nhớ xưa thiên địa làm ly tán
Anh em nhà không ngó mặt nhau
Người chạy về thành, kẻ nhảy núi
Dốc đời cho một cuộc chiêm bao
Xuân Thu, du sĩ rao phương lược
Khiêán mấy đời sau còn váng đầu
Xe kiệu rộn ràng cửa lớn nhỏ
Về ngang thánh miếu, mặt vênh cao
Có người nghề nói thơ đầu chợ
Chạỵ sắc phong thi sĩ với đời
Có người hàng thịt sẵn dao nhọn
Cũng rắp ranh làm tráng sĩ chơi
 
Nhớ xưa thiên địa rộn dâu biển
Người lạc người bởi ngọn đông phong
Ngọn đông phong, càn rừng, bạt núi
Người thương người chút phận long đong
Cỏ đoạn rễ, luồng sông, luống gió...
Chim xa đàn, bãi Bắc, bờ Đông...
Sao lúc rời nhau chẳng đổi áo
Khuya lạnh lùng, còn cái đắp lòng?
Rày đã ra sao, miền cố cựu?
Bờ giếng xưa, còn ai đứng trông?
Đêm nằm nghe tóc mai già rụng
Nghĩ lại, ràn tuôn nước mắt hồng.
 
Nhớ xưa thiên địa bừng hưng trị
Khoác áo xuân, ra với đất trời
Dắt trẻ tắm sông, hứng gió núi
Giấc suông đêm rỗng, cửa không cài
Quạt ấm pha trà độc mộc ẩm
Nghe tan ngoài ngõ những phù vân
Toan xuống núi khoe câu thơ đắc
Trời đất không cùng, ai chí thân?
Xé rải gió tờ tờ sách nát
Đi kéo theo chuỗi chuỗi cười tan
Ta mừng trời đất cho ta mộng
Vui đồng hành qua cõi võ vàng
 
Cây yên, cỏ lặng, trăng thiu ngủ
Giường cũ, nằm nghe tiếng dế khuya
Mơ màng có một lần xiêu lạc
Ngoài tối tăm, nhờ chỉ nẻo về
Việc đời, biết thế nào xong trọn...
Nước cuối sông còn lẩn quẩn chi?
Đêm xuân, dầm nguyệt lên sơn tự
Hỏi vị sư già chỗ trước kia
Sinh tử hai đầu mắc lại võng
Tan rền chuông vọng vọng mê mê
Trôi chìm xa vợi đường thiên cổ
Mỏi trĩu hàng mi, khởi chuyến đi.
 
  
Suốt Bãi Sông Hằng
 
Đón em, suốt bãi sông Hằng
Cát muôn kiếp mãi nhớ lần gặp xưa
Hẹn về dù nắng, dù mưa
Hẹn về dù sớm, dù trưa cũng về
Tàn thân trăm bụi não nề
Chờ nhau đã bấy sơn khê mõi mòn
Chiều mưa sông dẫy nước tuôn
Chim kêu bãi quạnh, gió luồn mái tơi
Nghe thiên thu cũng trở trời
Áo phơi mùa trước như lời bỏ quên
Đầu nguồn, nước lợ máu lền
Đau thương thôi đã pha rền tử sinh
Quản chi lớp lớp hư hình
Dài đêm đăm đắm mắt nhìn quần thâm
Hẩm hiu thân dại áo chằm
Gío thu ngăn ngắt chỗ nằm lẻ loi
Lạnh lùng tóc rũ sương rơi
Ngọn đèn tàn héo sáng rời hắt hiu
Đòi phen toan đẩy cửa liều
Ra cùng thiên hạ vui chiều ngửa nghiêng
Hát ngao, xá mũ, nhặt tiền
Cuộc tan, bãi trống, còn riêng bóng mình
Sân nhà hoa rụng mặc tình
Gío xưa, lời cũ, sao mình vội quên?
Em về, cát bụi oà lên
Trăm thương, nghìn nhớ vỡ rền thế gian
Trở chiều, ngồi lại cời than
Nhen bùng ngọn lửa chưa tàn ba sinh
 
Chim Kêu Bãi Quạnh
 
Dưới lũng, trên triền, nắng xếp nhỏ
Nước ròng sâu, sông lảng lảng xa.
Khắc khoải chim kêu ngày tận tuyệt
Ai trầm luân đó có về qua?
Mông quạnh bãi phơi vũng vướng mắc
Con cò trầm mặc lắng hơi thu
Xác cây gục hỗn mang cành rễ
Rừng đứng quanh đây, rừng tận đâu?
Gió thấp thoáng, xa xôi hiện ẩn
Đêm nay, mây đậu nghỉ phương nào?
 
Khắc khoải chim kêu hồn khuất giạt
Cảnh nổi trôi giờ đã lặng chưa?
Ngấn nước đục khoen lem cỏ sậy
Lưu mà chi chỉ dấu phù hư?
Xương cốt vẫn là xương cốt cũ
Đành rêm nhức mãi trở trời xưa
Linh chăng những vàng tiền mẹ đốt?
Cửa ngỏ, con đi chơi về khuya
 
Khắc khoải chim kêu đời khổ nạn.
Còn ai ngồi rạng cội cây già?
Chim vút lên như hòn đá ném,
Rồi thôi, cái có chỉ là qua.
Chiều nay, trên bãi sông dun rủi.
Mường tượng dòng sông trôi tro ta
Một mai, ngoài cõi gió hao đuối,
Ai hỏi ai về ai trước kia?
 
Khắc khoải chim kêu mùa xóa giải.
Hành nhân về bên giếng quê nhà.
Ngõ trúc chiều ngát cơm gạo mới.
Ngọn đèn thắp đợi đã rền hoa.
Cởi đôi giày vẹt, tấm áo tả,
Xót xa như lột một lần da.
Chiêm bao, âu cũng chiêm bao cả.
Mưa lớn, chừng mưa rợp hải hà.
 
Chiều bóc, bóc dần những rớt nắng
Loi ngoi nắm níu lũng triền xa.
 
 
Đêm Qua Bắc Vàm Cống
 
đêm qua bắc Vàm Cống
mối sầu như nước sông
chảy hoài mà chẳng cạn
cuốn phăng kiếp bềng bồng
tôi đi xuống Lục Tỉnh
để rắc bỏ ven đường
tài,tâm hồn, kỷ niệm...
giữ làm gì đau thương
 
đã đôi lần nhầm lẫn
còn gõ cửa ái tình
van nai chút lưu luyến
của không về người xin
 
tôi châm điếu thuốc nữa
đốt tàn thêm tháng năm
chiếc bắc xa dần bến
đời xa dần tuổi xanh
 
nước tách nguồn về biển
sầu lại chảy về hồn
khi tôi vuốt lấy mặt
nghe bàn tay trống trơn
 
 
Hề, Ta Trở Lại Gian Nhà Cỏ
 
Hề, ta trở lại gian nhà cỏ
Giữa cánh đồng không, bên kia sông
Trống trãi hồn ta cơn gió rã
Tiếng tàn tàn rụng suốt mênh mông
 
Hừng đông hùng vĩ và thanh thản
Sương hứa nguyên ngày nắng rực say
Ta dậy khi gà truyền nhiễm gáy
Chân mây rách đỏ vết thương dài
 
Ta ngồi trước gõ nghe xao động
Trời đất bào thai cựa cựa nhanh
Mầm cỏ ngoi ngoi lên rạo rực
Con chim chèo bẻo hót lanh chanh
 
Ta ngồi cho đến khi trời nắng
Đồng ruộng xanh đông đúc tiếng người
Ta rảo quanh làng hóng chuyện phiếm
Đời người cũng chuyện phiếm mà thôi
 
Ở đây ta có dăm người bạn
Phúc tự tâm, không lý đến đời
Ở đây ta có dăm pho sách
Và một dòng sông, mấy cụm mây ...
 
Dòng sông u hiển trôi vô lượng
Dòng sông hiền triết chảy vô tâm
Mà ta ngưỡng vọng như sư phụ
Mà ta thân thiết tựa tri âm ...
 
Lòng ta vô sự, ta vui vẻ
Bướm với hoa cùng bay nhởn nhơ
Mùa hạ tàn trôi trôi đóm lửa
Dòng ngày tháng trắng chảy lơ mơ
 
Quên quên, nhớ nhớ tiền sinh kiếp
Thiên cổ mang mang, thế sự nhòa
Trận lốc cười tròn trên quá vãng
Ta làm lại cả tâm hồn ta
 
Buổi trưa như buổi trưa nào đó
Tiếng võng đưa đưa tịch mịch mùi
Điệu hát ầu ơ hoa cỏ lịm
Nước mây buồn bã chợt quên trôi
 
Ta thiếp trong vòm xanh đại thọ
Đời đời giương rộng lượng bao dung
Ví dầu ta ngủ không còn dậy
Ắt hẳn lòng ta cũng dửng dưng
 
Chuyện trần thế bấy lâu thanh thỏa
Sống một ngày, ta rõ một ngày
Thôi vướng mắc dài duyên với nợ
Ân oán đời, phong kiếm rửa tay
 
Còn lại chăng cây đàn lở tróc
Gảy mình nghe đôi điệu xưa xưa
Còn lại chăng chút u hoài mốc
Pha cùng rượu uống đến say thua
 
Gặp buổi trời mưa bay phới phới
Lá cành sáng rỡ sắc hồi xuân
Ta nhìn cọn cỏ, lòng mê mẩn
Nghĩ tới đời ràn rụa thâm ân
 
Sống trên đời, chuyện ghê gớm quá
Vậy mà ta sống có kỳ không ?
Nước mắt ta tuôn khi nghĩ tới
Những người đã chết, chết như rơm ...
 
Gặp buổi trời trong dàn bát ngát
Ngọn cây ô ! đã giát hoàng hôn
Cơn gió mơn man bờ bụi rậm
Kể dạo quanh vườn chuyện trống không
 
Ta ngắm gốc cây nứt nở vỏ
Gốc cây to đến mấy người ôm
Nghĩ tới bao điều thầm lặng lớn
Trí ta không đủ lực đo lường
 
Nên ta phó mặc cho trời đất
Trời đất vô ngôn lại bất nhân
Nên ta lẳng lặng đi đi khuất
Trong lãng quên xanh hút thời gian
 
Đêm tối êm ru lời thủ thỉ
Bên hè có tiếng dế ca ran
Vầng trăng ta thấy thời thơ ấu
Mọc lại cho ta thuở xế tàn
 
Hình như mọi sự đều như thế
Kể cả lòng ta cũng thế thôi
Các việc vô công làm miết miết
Quên tiệt đời ta như nấm mai
 
Trăng, bạn hiền xưa giờ tái ngộ
Ta thức đêm nay chơi với trăng
Nghĩ tội thương sau này mãi mãi
Trên mồ ta, trăng phải lang thang
 
 
Hề, ta trở lại gian nhà cỏ
Sống tàn đời kẻ sĩ tàn mùa
Trên dốc thời gian, hòn đá tuột
Lăn dài kinh động cả hư vô
 
Xa nghe đợt gió lên cơn bão
Nhân loại quay cuồng biến đổi sâu
Bầy chó năm châu cắn sủa rộ
Quỉ ma cười khóc rợn đêm thâu
 
Cuộc đời kỳ lạ không bày tướng
Ăn sạch quân, trừ tính được thua
Hỡi ai tráng sĩ mài dao nhọn
Xin nhớ đời không mỗi sắc vua
 
Hề, ta trở lại gian nhà cỏ
Tử tội mừng ơn lịch sử tha
Ba vách, ngọn đèn xanh, bóng lẻ
Ngày qua ngày, cho hết đời ta.
 
Hái Rau
 
Tặng Văn Kiếp Thiên
và Nguyễn Thanh Châu
 
Chiều ra đồng hái rau hoang,
Nghe sầu theo gió thổi tràn mặt ta.
Ơn trời, ơn đất bao la,
Hái đi, này những xót xa kiếp người.
Cổi kim chung một mái trời,
Kinh Thi cũng có bóng người hái rau.
Lâu rồi, quên cả bao lâu,
Thí thân, há sá tóc râu rộ tàn.
Một lần núi đổ, sông dâng,
Vắt cơm, hớp nuóc, âm phần là đây.
Đêm nằm, lệ chảy mòn tay,
Nghe chừng đá nát vàng phai đến điều.
Mịt mùng gió lửa liu hiu,
Bóng nào khóc, bóng nào kêu, não nùng.
Thịt rơi, xương rụng trùng trùng,
Một thời thế ngã với từng xác thân.
Dưới thềm, máu đọng ghê chân,
Mới ầm cửa sập, đã rần cỏ lên.
Thất phu cũng biết thẹn mình,
Góc sân, trơ mắt đứng nhìn được a?
Thất tung từ phó mặc ra,
Chim kêu, vượn hú, biết nhà chốn nao?
Quê người, lại chỗ gối đầu,
Lạ trăng sao, lạ cả màu chiêm bao
Miếng ăn đắng, nuốt nghẹn ngào,
Chỗ sân thấp, biết khoảnh nào sạch dơ?
Kiểm còn chút đức ngu ngơ,
Hổ chi, chẳng trải bãi bờ trăm năm?
Một mai gió xóa dấu nằm,
Thản nhiên, trời đất lỗi lầm lại xưa.
Kiếp này lửa nắng, dầu mưa,
Hậu thân xin chớ nhớ thừa hiện thân.
Xót thay hoa đợi trên giàn,
Quán xanh còn mở cho chàng về qua?
Rượu hồng, ai để phần ta,
Lệ hồng, ai nén chờ sa một lần?
Thân nào, ôi chẳng là thân,
Cát đau bởi nỗi gió quần biết đau.
Núi vây, trời hẹp, ngày mau
Liều đau đến điếng, nguôi đau ít nhiều
Hái nhanh cho kịp trời chiều
Ấy mê, ấy tỉnh, cỏ nhiều hơn rau.
Làm người, đã phải làm sao?
Thêm bề rau thấp, cỏ cao, tội người.
Cám ơn rau của đất trời,
Hẩm hiu chưa cả được đời đặt tên.
Cám ơn rau của người hiền,
Quản chi dưới vực, trên triền mọc khơi.
Giá ta hỏi được một lời,
Rau này, trăm họ mấy người đã ăn?
Bãi dài, nghe hú âm rân,
Ngẩng lên, ngày đã bội phần chầy nghiêng.
Rừng đưa mái võng treo triền,
Như quằn chiều sánh, như lền gió qua.
Lũng sâu, gom gọn nắng tà,
Dải lau sóng ngất bạc nhòa cuối mây.
Biết còn ai đợi ai đây?
Hú lên một tiếng cầu may mới đành.
Lắng chờ, trời đất lạnh tanh,
Tuyệt vô âm vọng, rợn mình mình ta.
Dặm về, xa bấy là xa,
Lấy ai đồng cảnh cùng ta bước kèm?
Thu gom áo nón lèm bèm,
Xốc vai bó củi lại kèm bó rau
Bóng xô dài ngã lao đao,
Phải chăng lòng nặng, trĩu đầu mà đi?
Dọc đường thấy suối xanh rì,
Muốn nghiêng trút tất những gì đeo đai.
 
Một Lần Cuối Khác
 
Em hãy cho ta vay nụ cười
Dù mai mình bỏ dở cuộc chơi
Mai sau trên những khung tình nhớ
Nhớ những tàn phai củng đủ rồi
 
Em hãy cho ta niềm hãnh diện
Chỉ là chút ít bọt bèo thôi
Ta đến tình yêu bằng cửa chính
Củng bằng cửa ấy lúc chia phôi
 
Em hãy cho ta tin tưởng mãi
Những lời thề ngọt uống trên môi
Những đêm thừa gió trăng man dại
Những tháng mưa đông vắng mặt trời
 
Em hãy cho ta đầy bất hạnh
Ông vua nhu nhược bị nhường ngôi
Làm tên thủy thủ trên sa mạc
Đợi sóng đêm về nhớ biển khơi
 
Em hãy cho ta lần cuối khác
Một ngày hẹn chót dẫu xa xôi
Ta ươm một nhánh cây hyvọng
Sẽ nở hoa xanh ở cuối đời
 
Nhớ Có Lần Trên Bến Bắc Khuya
Nghe Một Oâng Lão Đàn Hát
 
Ông lão khô quắt như thanh đước,
Đàn hát mưu sinh bến bắc đêm,
Cổ vương oan khuaất, tay u hồn,
Miết giây, xé giọng, khóc nhân thế...
Âm bóng xưa về quanh chiếu manh.
Trăng thiếp, sao mê, sông ráo gió.
Buồn như sóng nói, tản không tan.
Tiếng lân, tiếng hạc, nỗi trong đục,
Cổ bản đưa: Từ phu tướng đi...
Mòn mỏi, thành Nam, nghĩa sĩ tận.
Kèn chiều mấy tiếng lạc trời quê.
Pháp trường úng máu, khí xung uất,
Ngần ấy năm còn nghe rợn thiêng.
Biệt đảo, mùa mùa gió chướng nổi,
Bè thả về không tới đất liền.
Bao phen nước cũ thay danh hiệu,
Mưa nắng bay lần hơi hướm quen.
Trăng chết đồng xa, buổi mạt pháp,
Áo đạo chìm cây cỏ cấm sơn.
Làng đã cháy, im lìm bất trắc...
Người nhớ người mà cũng sợ người.
Trời ơi, những xác thây la liệt,
Con ai , chồng ai, anh em ai?
Mùa nước nổi qua mùa nước giựt,
Đốt tay nào Thân Dậu niên lai?
 
Em về giồng dưới, qua bưng gió,
Mắt có nhòa triều bông sậy dây
Người còn, trời đất còn chan chứa.
Ghe thương hồ khẳm điệu huê tình,
Sông bảy ngã, thương, còn gặp lại,
Muối mặn, gừng cay, trắng tóc xanh...
Chỉ cho con chỗ doi xưa sụp.
Cồn mới thành, con tự nhận ra.
Nước chảy, đừng chờ khi xế bóng,
Hối không làm việc nghĩa trôi qua.
Ông lão khô quắt như thanh đước,
Cổ vương oan khuất, tay u hồn...
Tình ý theo người đi một đỗi,
Một đỗi, dài hơn bốn chục năm.
 
 
Ta Về
 
Ta về một bóng trên đường lớn
Thơ chẳng ai đề vạt aó phai
Sao bổng nghe đau mềm phế phủ
Mười năm đá cũng ngậm nguì thay
 
Vĩnh biệt ta-mười-năm chết dấp
Chốn rừng thiêng ỉm tiếng nghìn thu
Mười năm mặt sạm soi khe nước
Ta hóa thân thành vượn cổ sơ
 
Ta về qua những truông cùng phá
Nếp trán nhăn đùa ngọn gío may
Ta ngẩn ngơ trông trời đất cũ
Nghe tàn cát bụi tháng năm bay
 
Chỉ có thế. Trời câm đất nín
Đời im lìm đóng váng xanh xao
Mười năm, thế giới già trông thấy
Đất bạc màu đi, đất bạc màu
 
Ta về như bóng chim qua trễ
Cho vội vàng thêm gió cuối mùa
Ai đứng trông vời mây nước đó
Ngàn năm râu tóc bạc phơ phơ
 
Một đời được mấy điều mong ước
Núi lở sông bồi đã mấy khi
Lịch sử ngơi đi nhiều tiếng động
Mười năm, cổ lục đã ai ghi
 
Ta về cúi mái đầu sương điểm
Nghe nặng từ tâm lượng đất trời
Cảm ơn hoa đã vì ta nở
Thế giới vui từ nỗi lẻ loi
 
Tưởng tượng nhà nhà đang mở cửa
Làng ta ngựa đá đã qua sông
Người đi như cá theo con nước
Trống ngũ liên nôn nả gióng mừng
 
Ta về như lá rơi về cội
Bếp lửa nhân quần ấm tối nay
Chút rượu hồng đây xin rưới xuống
Giải oan cho cuộc biển dâu này
 
Ta khóc tạ ơn đời máu chảy
Ruột mềm như đá dưới chân ta
Mười năm chớp bể mưa nguồn đó
Người thức mong buồn tận cõi xa
 
Ta về như hạt sương trên cỏ
Kết tụ sầu nhân thế chuyển dời
Bé bỏng cũng thì sinh, dị, diệt
Tội tình chi lắm nữa người ơi
 
Quán dốc hơi thu lùa nỗi nhớ
Mười năm ngừơi tỏ mặt nhau đây
Nước non ngàn dặm bèo mây hỡi
Đành uống lưng thôi bát nước mời
 
Ta về như sợi tơ trời trắng
Chấp chới trôi buồn với nắng hanh
Ai gọi ai đi ngoài cõi vắng
Dừng chân nghe quặn thắt tâm can
 
Lời thề buổi ấy còn mang nặng
Nên mắc tình đời cởi chẳng ra
Ta nhớ người xa ngoài nổi nhớ
Mười năm ta vẫn cứ là ta
 
Ta về như tứ thơ xiêu tán
Trong cõi hoang đường trắng lãng quên
Nhà cũ mừng còn nguyên mái, vách
Nhện giăng, khói ám, mối xông nền