Home Văn Học   Nghệ Thuật 

Sinh Hoạt

Phiếm Luận Diễn Đàn

Giải Trí

Thư Tín 
Văn Học
Nghệ Thuật
Sinh Hoạt
Phiếm Luận
Trang Thân Hữu Thơ - Văn
Diễn Đàn
Giải Trí
Thư Tín
 
 
                   Trời Đất Mênh Mông...
                                                                     Thái Tú Hạp
 
Buổi trưa hè tịnh vắng dưới bóng cây hoàng lan xanh mát. Cái im vắng nghe nhịp đập của chính trái tim ḿnh, tưởng chừng như đang nằm trên chiếc vơng đu đưa đâu đó ở hiên nhà Cẩm Phô - Hội An, ở quê hương thuở nào chưa ngập tràn khói lửa chiến chinh:
 
Dưới gốc đa già, trong vũng bóng
Nằm mát đàn trâu ngẫm nghĩ nhai
Ve ve rung cánh ruồi say nắng
Gà gáy trong thôn những tiếng dài
 
Trời lơ cao vút không buông gió
Đồng cỏ cào phô cánh lược hồng
Êm đềm sóng lụa trôi trên lúa
Nhạc ngựa đường xa rắc tiếng đồng
 
Quán cũ nằm lười trong sóng nắng
Bà hàng thưa khách ngủ thiu thiu
Nghe mồ hôi chảy đầm như tắm...
Đứng lặng trong mây một cánh diều
 
Cành thưa nắng tưới chim không đứng
Quả chín bâng khuâng rung trước hè
Vài cô về chợ buông quang thúng
Sửa lại vành khăn dưới bóng tre
 
Thời gian dừng bước trên đồng vắng
Lá ngập ngừng sa nhẹ lướt ao
Như mơ đường khói lên trời nắng
Trường học làng kia tiếng trống vào
(Trưa Hè - Bàng Bá Lân)
 
Theo nhận định của Hoài Thanh - Hoài Chân trong Thi Nhân Việt Nam “Bàng Bá Lân chính thức đóng góp vào nền văn học nước nhà bằng tác phẩm Tiếng Thông Reo xuất bản năm 1934. Bàng Bá Lân là thi nhân tiền phong mở đầu cho phong trào thơ mới ca ngợi đồng quê...”  Bàng Bá Lân sinh năm 1912 tại Phú Lang Thượng Bắc phần nhưng chính quán ở làng Đôn Thư, huyện B́nh Lục, tỉnh Hà Nam.  Ngoài thi tập Tiếng Thông Reo, Bàng Bá Lân c̣n in chung tập Xưa với nữ sĩ Anh Thơ, Sông Thương xuất bản tại Hà Nội năm 1941, Tiếng Sáo Diều xuất bản năm 1939, Thơ Bàng Bá Lân năm 1957 tại Saigon, Tiếng Vơng Đưa do nhà xuất bản Nguyễn Hiến Lê ấn hành tại Saigon năm 1957... Những bài thơ mang tính chất mộc mạc, chứa chan hương đồng phấn nội của thi sĩ Bàng Bá Lân đă qua những thử thách trên sáu mươi năm đọc lại vẫn c̣n mới, nhất là đối với tâm trạng của chúng ta - lữ khách ngàn dặm xa cố quận - lại càng thắm thiết nồng nàn t́nh tự quê hương. Có thể những h́nh ảnh rất đơn sơ tầm thường như:
 
Quê tôi có lúa, có dâu
Có đàn c̣ trắng, có câu huê t́nh
Có cây đa, có mái đ́nh
Có bầy thôn nữ xinh xinh dịu dàng
Mùa thu có những hội làng
Có cây đu buổi xuân sang dập d́u...
 
... Một buổi nàng qua dưới mái hiên
Đường mưa in một gót chân tiên
Ta nh́n theo bước đi ren rén
Bỗng cả ḷng yêu náo nức liền...
 
Từ ấy trên đường loang loáng mưa
T́m hoài đâu thấy gót chân xưa!
Đường mưa bao gót chân mưa bước,
Gợi măi t́nh yêu buổi dại khờ!
 
Thật là ngu ngơ của chút t́nh thơ dại, dễ thương, nhưng cũng đủ hé lộ một tâm hồn lăng mạn tỏa ngát cả trời thơ trữ t́nh.  Những bài thơ bây giờ tôi không t́m thấy ở hải ngoại. Đôi khi người yêu thơ Bàng Bá Lân ở viễn xứ bùng vỡ từ trong tiềm thức, cứ mơ hồ mong được tâm trạng như Trang Tử hóa bướm và không c̣n phân biệt bướm hay Trang Tử hiện hữu trong cuộc đời phàm tục này.  Những h́nh ảnh tuy là chơn chất tầm thường trong thơ Bàng Bá Lân, chúng ta cảm nhận thấp thoáng mơ hồ như chỉ c̣n trong tâm tưởng của một thời thơ mộng hồn nhiên trong quá khứ.  Khi những cái tầm thường đó đă thực sự rơi mất trong tầm tay như Lưu Nguyễn rời khỏi Thiên Thai th́ sương khói mơ Tiên chỉ là ảo mộng, chỉ là nuối tiếc vu vơ... 
Những giọt nắng rụng đầy trong vườn, đong đưa trong làn gió thoang thoảng mùi hương hoa cỏ dại. Giọt nắng gợi nhớ những buổi trưa ở Đông Hà, Ái Tử, Khe Sanh, ở Kỳ Sơn, Tiên Phước, Trà Mi, ở Vỹ Dạ, ở Hồ Than Thở, ở khu vườn Măng Cụt Lái Thiêu, trên băi biển thùy dương reo ở Cửa Đại, ở cánh đồng hoa quỳ Đơn Dương, cùng bằng hữu uống rượu say ngất trời. Buổi trưa mùa hè im vắng mơ hồ thoảng đến khúc Giao Hưởng Số 6 của Beethoven, diễn tả cảm giác an b́nh khi ông ḥa nhập với thiên nhiên. Trong thời gian hiện tượng rực rỡ nhất của thiên tài âm nhạc lỗi lạc của đầu thế kỷ 18.  Hàng loạt tác phẩm của Beethoven đă ra đời như những bản Sonate cho đàn dương cầm, nhiều bản quator cho đàn dây, Oratorio của bản “Chúa Ngự Trên Núi Olive”, khúc dạo tuyệt vời cho vở kịch “Coriolan”, “Egmont”, những bản Concerto thứ 3, thứ 4. Bản giao hưởng số 5 diễn tả sự dũng cảm chiến đấu của con người trước những đàn áp về nhân bản, tự do.  “Moonlight” đi dần về siêu thực. Và dừng lại với thiên nhiên rộng lớn như đi t́m sự an ủi chân t́nh.  Lúc đó thực sự ông đă nh́n rơ chân tướng cuộc đời chỉ là hư ngụy giả dối, bản chất con người cũng chỉ là những manh nha áp bức lẫn nhau để mưu dồ danh lợi nhỏ nhen ích kỷ.  Trong khi ông mải miết đi t́m chân lư yêu thương giữa con người với con người dưới chân Thượng Đế, dưới ánh sáng mặt trời từ ái bao dung.  Cuối cùng người nhạc sĩ thiên tài chán nản, thất vọng, lặng lẽ quay về với người t́nh thủy chung đó là thiên nhiên an b́nh chân thật.  Ở Vienna, ông trở thành bóng dáng đơn độc, lang thang trên những cánh đồng đầy cỏ hoa và hát rong với mây trời.  Quê hương nguyên quán không chừng đă xa lạ đối với ông.   
Thi sĩ Hạ Tri Chương thời Sơ Đường (659-744) tự là Quư Châu, người Quảng Đông, ngoài tài thơ văn, đàm thuyết, ông c̣n có biệt tài viết chữ thảo, chữ lệ rất xuất sắc. Tính t́nh phóng khoáng, thích uống rượu ngâm thơ thưởng nguyệt, bạn thân của Lư Bạch, Trương Húc, được người đời gọi là “Túy trung bát tiên”, đỗ tiến sĩ, được triều đ́nh trao chức Bác Sĩ Quốc Tử Tứ Môn, làm Thái Tử Tân Khách Bí Thư Giám, được một thời gian rồi từ quan về làm đạo sĩ ở quê nhà.  Điều đáng ngạc nhiên và đau khổ v́ khi đă luống tuổi, ông mới có cơ hội hoài hương.  Khi về đến quê nhà mọi cảnh trí và người đều thay đổi với thời gian.  Ông như người khách lạ trên chính quê hương thân yêu của ḿnh:
 
Thiếu tiểu ly gia, lăo đại hồi
Hương âm vô cải, mấn mao thôi
Nhi đồng tương kiến, bất tương xứng
Tiểu vấn: “Khách ṭng hà xứ lai”?
(Hồi Hương Ngẫu Thơ - Hạ Tri Chương)
 
 Trẻ lăng du - già về cố xứ
Giọng không thay - pha tuyết mái đầu
Đám trẻ nhỏ thờ ơ không biết
Cười hỏi ta: Khách đến từ đâu?
 
Trẻ đi già trở lại nhà
Giọng quê vẫn giữ - tóc đà pha sương
Thiếu nhi gặp gỡ - lạnh lùng
Cười lơ đễnh hỏi khách phương mô về?
(Cảm Xúc Khi Về Làng - Ái Cầm)
 
Một ngày nào đó, quê hương chúng ta thực sự thanh b́nh tự do, khắp nơi trên thế giới sẽ rộn ră người kéo nhau về thăm nơi chôn nhau cắt rún, không biết bà con có c̣n nh́n ra nhau. 
Mới đây vài tháng tôi có đọc mẩu tin đăng trên New York Times kể chuyện một Giáo sư người Nhật, dạy ở Havard, về thăm gia đ́nh nội ngoại nơi một ngôi làng nhỏ ngoại ô Sakata.  Khi xuống xe buưt ở đầu thành phố, ông ta ngơ ngác không biết phải đi về hướng nào bèn hỏi bằng tiếng Anh với người khách qua đường.  Nhưng mọi người đều thờ ơ bước đi.  Ông buồn quá không biết xử trí ra sao th́ may có người Nhật biết chút đỉnh tiếng Anh giúp ông:
- Thưa ông, ông người nước nào?
- Cám ơn, tôi là người Nhật.
- Sao ông không biết tiếng Nhật?
- V́ tôi sinh trưởng ở New York và đây là lần đầu tiên tôi về thăm quê nhà.
- Song thân ông c̣n nói được tiếng Nhật?
- Đúng như thế. Cha mẹ tôi nói tiếng Nhật với nhau ở nhà và nói tiếng Mỹ với chúng tôi.
- Tại sao vậy?
- V́ cha mẹ chúng tôi bận đi làm nên cả ngày chúng tôi ở trường chỉ học và nói tiếng Mỹ thôi.
- Hiện ông là công dân Mỹ chứ?
- Sinh ra, tôi là công dân Mỹ rồi.  Nhưng tất cả người Mỹ vẫn xem tôi là người Nhật, v́ màu da vàng, mũi tẹt thực sự tôi là người Nhật.  Mặc dù tôi không biết tiếng Nhật.
- Tội nghiệp cho sự cô đơn của ông quá. Có điều tôi nói thật với ông, khi năy ông hỏi những người qua lại đều không muốn trả lời ông v́ họ không muốn một người Nhật xử dụng tiếng ngoại quốc để hỏi chuyện với nhau nên họ không trả lời chứ những người ấy đều biết tiếng Anh cả đấy chứ. Và họ nghĩ tại sao ông không cảm thấy hổ thẹn v́ sao ông không biết nói tiếng mẹ đẻ.
- Cảm giác đó chính tôi cũng vừa nhận thấy mới đây... nhưng tôi c̣n quá đủ th́ giờ để học chữ và tiếng nói của người Nhật chúng ta trong thời gian sắp tới... tôi hy vọng sẽ đạt ư nguyện. 
- Tại sao ông không nghĩ cách khác khỏi tốn th́ giờ nhiều hơn là tự hậu có ai hỏi lư lịch, ông nên từ chối ông không phải là người Nhật là cách hay nhất...
- Cốt tủy máu huyết tôi là người Nhật. Chính tôi có muốn sinh ra ngoài đất nước thân yêu của ḿnh đâu. Cả thế hệ chúng tôi đâu muốn như thế, lỗi đâu phải chúng tôi... Người Mỹ không nhận tôi là người cùng chủng tộc với họ, người Nhật hất hủi xem chúng tôi là người ngoại quốc... Tôi là ai bây giờ?  Hay tôi đến từ một hành tinh khác chăng?
Vài năm sau, chúng ta hy vọng không c̣n nh́n thấy bóng dáng một Kiều Phong đứng trên đỉnh non cao mà than: “Đất trời th́ quá mênh mông mà ta không có một tấc đất để dung thân”.

                                                                Thái Tú Hạp

 
 
 
 
 

 




 


 

 

Thư từ liên lạc:  vuongtrungduongonline@yahoo.com
Copyright © 2006 vuongtrungduong
Last modified: 01/02/07