|
|
-
-
BÙI GIÁNG, Đại Lăo Cái Bang
-
Vương Trùng Dương
-
-
“Mùa xuân
hẹn thu về em trở lại
-
Bên đời đi
c̣n giữ măi hay không
-
Gịng bất
tuyệt xanh ngần xuân thơ dại
-
Sầu hoang vu
vĩnh hạ vọng non hồng”.
-
(Bùi Giáng)
-
-
(Nhà thơ
Bùi Giáng qua đời năm 1998, bài nầy viết cho số Xuân Bính
Tý 1996, để chúc mừng ông vào tuổi “cố lai hy” c̣n
sống lang bạt tại Sài G̣n. Đăng lại trên giai phẩm Xuân
Mậu Tý 2008 của nhật báo Viễn Đông. Ông vĩnh biệt
cõi trần năm 1998, mười năm trôi qua, tưởng nhớ đến
người quá cố, gởi đến bạn đọc trên trang web -
VTrD )
-
-
Bước vào năm
Bính Tư (1996), Bùi Giáng vừa tṛn tuổi thất thập. Với cuộc
sống lang bạt kỳ hồ, túi vải, chân đất, lang thang giữa chợ
đời, gầm cầu, hè phố, dầm sương dăi nắng, bữa đói bữa no gần
4 thập niên, qua bao thăng trầm bệnh tật, vẫn c̣n sáng tác ở
tuổi cổ lai hy, đó là một hiện tượng.
-
Trong sinh
hoạt Văn học, Nghệ thuật Việt Nam, Bùi Giáng để lại cho đời
biết bao giai thoại, đó là một hiện tượng. Ngôn ngữ thi ca
của Bùi Giáng là một hiện tượng. Hiện tượng Bùi Giáng.
-
Bùi Giáng,
nhà giáo, dịch giả, nhà văn, nhà phê b́nh văn học, triết học
nhưng đó chỉ là quán bên đường, người bạn tri kỷ tri bỉ: thi
ca.
-
-
Ngược Ḍng
Thời Gian
-
-
Bùi Giáng
sinh ngày 17 tháng 12 năm 1926 tại Vĩnh Trinh, Duy Xuyên,
Quảng Nam. Thân phụ là ông Bùi Thuyên, thường gọi là Cửu Tư.
Ông Cửu Tư thỉnh thoảng bị bệnh “điên” và khi “điên” th́ làm
bộ cưỡi ngựa bằng mo cau đi từ làng Trung Phước đến làng Cà
Tang đọc thơ, làm câu đối thích chọc ghẹo cô gái cho vui.

-
Lúc nhỏ theo
học Trung, Tiểu học ở Hội An, Quảng Nam rồi sau đó tiếp tục
học Trung học ở Thuận Hóa, Huế. Năm 1945 đậu bằng Thành
chung (Trung học), ông ở trong vùng kháng chiến thuộc Liên
Khu V (Nam Ngăi b́nh Phú), năm 1950 ông đỗ Tú Tài II Văn
chương. Ông ra Liên Khu IV (Thanh Nghệ B́nh Trị Thiên) theo
học Đại học nhưng khi nghe Viện trưởng Đại học đọc diễn văn,
ông bỏ ư định theo học và theo đường núi Trường Sơn trở lại
cố hương.
-
Theo lời
người bào đệ, ông Bùi Vịnh, trong ngày Hội Thi Văn & Tư
Tưởng Bùi Giáng ngày 21 tháng 10 năm 1995 tại Majestic,
Huntington Beach, California, Bùi Giáng “Có vợ vào lúc c̣n
rất trẻ, sau năm 1945. Nhưng v́ đi tản cư ở vào những nơi
rừng thiêng nước độc, người vợ trẻ đă qua đời sau cơn bạo
bệnh”. Ông chung t́nh chung nghĩa với “mộng ban đầu”,
suốt nửa thế kỷ ôm vọng tưởng, điên loạn bởi “hồn nguyên
tiêu” bao nhiêu h́nh ảnh mang dáng dấp của người t́nh muôn
thuở vào cơi thiên thu, ngôn ngữ Bùi Giáng trở thành kỳ bí.
-
Theo lời
người em là Bùi Vịnh: “Vào tháng Năm 1957, ông quyết định bỏ
vùng Việt Minh trốn qua vùng Quốc gia.
Và tại Huế, ông thi lại bằng Tú Tài tương
đương, rồi vào Sài G̣n, ghi danh vào Đại học Văn Khoa. Cả
lần nầy nữa, sau khi nh́n danh sách các giáo sư giảng dạy,
ông đă quyết định chấm dứt việc học ở trường của ḿnh tại
đây . Ông bắt đầu viết khảo luận, sáng tác và đi dạy học ở
các trường Trung học tư thục ...”
.
-
Thiên t́nh
sử của ông rất đặc biệt. Khi c̣n học ở trường Viên Minh, Hội
An. Nữ sinh Phạm Thị Ninh, học sau ông một lớp, nổi tiếng
xinh đẹp, quen biết nhau rồi cưới làm vợ tại Hội An. Năm
1945 gia đ́nh bà Phạm Thị Ninh tản cư lên Trung Phước, ông
đem vợ lên rồi mua một đàn dê để đi chăn. Ông nuôi dê để
rong chơi và c̣n đặt tên cho mỗi con dê rất kỳ lạ.
-
Theo nhà thơ
Tường Linh, học tṛ học tiếng Pháp của Bùi Giáng, vào một
buổi sáng, trời mưa dầm dề, Bùi Giáng đang ở trên núi th́
nghe tin vợ ḿnh qua đời. Ông hốt hoảng chạy ra ngoài trời
và vấp vào một gốc cây, ngă xuống bất tỉnh. Người vợ mà ông
cực kỳ yêu thương, sau này ông thường gọi là “con mọi nhỏ”,
bị bạo bệnh và mất vào năm 1952, lúc mới 26 tuổi. Ông thôi
hẳn việc chăn dê, chia tay hẳn với cỏ hoa hồn du mục để xuôi
về phố thị rộn ràng.
-
Ông tinh
tường về Anh, Đức, Pháp và Hán văn, không biết ông theo học
tiếng Đức và tiếng Anh lúc nào nhưng khi nghiên cứu triết
học Đức, thơ văn Anh Mỹ, ông dịch và viết rất tài t́nh. Ông
có trí nhớ kỳ lạ và “trí quên” rất độc đáo. Quên của ông
cũng là hiện tượng và có lúc không biết ǵ cả, cùng với cử
chỉ, hành động kỳ quái, người điên thời đại.
-
GS Vũ Kư,
thầy dạy của ông, trong bài “Nhớ Về Ba Người Em Lỗi Lạc”
trong Giai phẩm Quảng Đà 94 “Từ năm 1943 ấy, Bùi Giáng thôi
học ở Hội An, rồi lui về cố hương làm Tô Vũ mục dương ở
Trung Phước, miền rừng núi xứ Quảng.
Theo nhiều người cho biết, Giáng nghêu ngao
làm thơ, ca hát, điên khùng suốt năm tháng. Lúc tôi gặp lại
ở Sài g̣n th́ Bùi Giáng đă nghỉ dạy học tư để cầm cọ bôi mực
loay hoay vẽ tranh trong căn nhà lụp xụp ỏ ngơ hẻm Trương
Minh Giảng và Giáng cũng vừa mới in xong mấy cuốn sách giáo
khoa”.
-
“Với Tất Cả
Bùi Giáng” của Trần Phong Giao, Bùi Giáng <I>“Lập gia đ́nh
năm 18 tuổi, nhưng không được hưởng hạnh phúc bao lâu v́
chiến tranh và nạn lụt đă cướp mất vợ và hai đứa con thơ của
ông”.
-
Đó là mốc
thời gian tuổi niên thiếu của ông được đề cập qua ba người
có liên quan với ông nhưng đă khác nhau. Theo sự ghi lại của
“người thầy cũ và cũng là người anh” thiếu chính xác dấu ấn
quan trọng trong giai đoạn 9 năm “kháng chiến” đă ảnh hưởng
sâu đậm trong cuộc đời Bùi Giáng. Ông tham gia “kháng
chiến”, theo Việt Minh nhưng khi đụng chạm thực tế, ông ngán
ngẫm, gặp bất hạnh trong t́nh yêu, tâm hồn điên loạn...
-
Sau 3 năm
“chia cắt” đất nước, phân ranh Quốc/Cộng, ông mới chọn lựa
quyết định ranh giới giữa 2 miền. Bài thơ “Nỗi ḷng Tô Vũ”
của ông đă ghi “Kỷ niệm một đoạn đường mười năm chăn dê ở
núi đồi Trung Việt”.
-
Không bao
giờ muốn và để ai đề cập “tiểu sử”, theo ông “Thi sĩ sinh ra
như mọi người giữa cỏ cây ly kỳ, và chết đi giữa cỏ cây ly
kỳ, gay cấn”. Tuy nhiên, công việc của nhà nghiên cứu Văn
học cần phải t́m hiểu chính xác, nh́n lại Văn học Việt Nam,
ông là khuôn mặt đặc biệt. Hy vọng, một ngày nào đó, có được
“tiểu sử” của ông từ tuổi thơ đến thời điểm “tam thập nhi
lập”.
-
Trước năm
1975, nhiều cây bút viết về tư tưởng, thơ văn Bùi Giáng
nhưng không đề cập về “tiểu sử” nên có nhiều nghi vấn cùng
với giai thoại quanh ông. Tháng 5.1973, Mai Thảo và Nguyễn
Xuân Hoàng của tờ Văn thực hiện “Số báo đặc biệt về thiên
tài thi ca Bùi Giáng”, 10 câu hỏi của Nguyễn Xuân Hoàng về
Bùi Giáng có tính cách khác lại và cả hai cùng hỏi và nói
“Chuyện rong chơi”. Nhận định thơ văn của ông với Thanh Tâm
Tuyền, Nam Chữ, Trần Tuấn Kiệt, Tuệ Sĩ.
-
Có nhiều tác
phẩm đă đề cập đến ông, điển h́nh như Cao Thế Dung: Văn Học
Hiện Đại, Thi Ca & Thi Nhân, Du Tử Lê: Năm sắc Diện, Năm
Định Mệnh, Tạ Tỵ: Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ Hôm Nay, Trần Tuấn
Kiệt: Thi Ca Việt Nam Hiện Đại...
-
Sau tháng
Thư năm 1975, cái bang Bùi Giáng với nhiều giai thoại và mỗi
giai thoại nói lên cái điên, cái tĩnh trong cảnh khốn cùng
của xă hội. Một Bùi Giáng quằn quại, một Bùi Giáng ngông
nghênh, một Bùi Giáng vào tù ra khám... và một Bùi Giáng bất
khuất.
-
Gần hai thập
niên, tác phẩm của ông với số lượng đáng kể:
-
Sách Giáo
khoa, Luận đề: - Bà Huyện Thanh Quan, 1956 - Lục Vân Tiên,
1956 - Chinh Phụ Ngâm & Quan Âm Thị Kính, 1956 - Truyện Kiều
& Truyện Phan Trần, 1957 - Cung Oán Ngâm khúc, 1957 - Nguyễn
Công Trứ, 1957 - Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, 1958 - Phan Bội
Châu, 1958 - Chu Mạnh Trinh, 1958 - Tôn Thọ Tường & Phan Văn
Trị, 1958...
-
Sách dịch: -
Cơi Người Ta của Saint-Exxupéry, 1966 - Trăng Tỳ Hải của
Albert Camus, André Gide, Martin Heidegger, 1966 - Khung Cửa
Hẹp của A.
Gide, 1966 -
Hoa Ngơ Hạnh của Shakespeare, 1966 - Bạo Chúa Caligula của
Albert Camus, 1967 - 1974 - Kim Kiếm Điêu Linh của Ngọa Long
Sinh, 1967 - Ngộ Nhận của A. Camus,1967 - Con Người Phản
Kháng của A. Camus, 1968 - Mùa Hè Sa Mạc của A. Camus , 1968
- Kẻ Vô Luân của A. Gide, 1968 - Orphélia Hamlet của
Shakespeare, 1969 - Ḥa Âm Điền Dă của A. Gide, 1969 - Sương
B́nh Nguyên của các tác giả Âu Mỹ, 1969 - Hoàng Tử Bé của
Saint-Exupery, 1973 - Mùi Hương Xuân Sắc của Gerald de
Narval, 1974...
-
Sáng tác:
-
- Thơ: Mưa
Nguồn, 1962 ố Ngàn Thu Rớt Hột, 1962 ố Bài Ca Quần Đảo, 1962
- Lá Hoa Cồn, 1963 - Màu Hoa Trên Ngàn, 1963 - Sa Mạc Trường
Ca, 1969 ố Rong Rêu, 1970 (in lại năm 1996 tại Đà Nẵng) ố
Đêm Ngóng Trăng, 1972...
-
- Biên khảo,
Tạp văn, Tùy bút: - Tư Tưởng Hiện Đại, 3 quyển, 1960 & 1962
- Martin Heidegger & Tư Tưởng Hiện Đại, 2 quyển, 1963 - Sao
Là Không Có Triết Học Heidegger, 1969 - Đi Vào Cơi Thơ, 1969
- Thi Ca Tư Tưởng, 1969 - Sa Mạc Phát Tiết, 1969 - Sương
B́nh Nguyên, 1969 - Trăng Châu Thổ, 1969 - Mùa Xuân Trong
Thi Ca, 1969 - Thúy Vân, Tam Hợp Đạo Cô, 1969 - Mùa Thu
trong Thi Ca, 1970 - Biển Đông Xe Cát, 1970 - Ngày Tháng
Ngao Du, 1971 - Đường Đi Trong Rừng, 1972 - Lời Cố Quận,
1972 - Lễ Hội Tháng Ba, 1972 - Con Đường Ngă Ba, 1973 ...
-
Tại hải
ngoại, có 3 tuyển tập về thơ Bùi Giáng sáng tác vào sau năm
1975:
-
- Thơ Bùi
Giáng, năm 1990, nhóm Việt Thường ở Canada thực hiện, gần
200 bài thơ.
-
- Thơ Bùi
Giáng, Thế kỷ 1994, Phạm Xuân Đài thực hiện, gồm 106 bài
thơ.
-
- Thơ Bùi
Giáng, California 1995, Bùi Vịnh & thân hữu thực hiện, gồm
81 bài thơ, tranh b́a “Thiếu nữ” do Bùi Giáng vẽ.
-
- Chớp Biển,
Anaheim, 1996
-
Suốt 4 thập
niên, Bùi Giáng đă cống hiến cho đời, cho nền Văn học Nghệ
thuật Việt Nam thật nhiều tác phẩm gồm đủ mọi thể loại. Một
con người không có nơi nương tựa ổn định, thể chất gầy g̣,
bệnh tật, tâm tính lúc b́nh thường khi điên loạn mà tạo dựng
“kho tàng quư báu” cho Văn học Việt Nam, điều rất lạ, không
thể hiểu được.
-
-
Ngôn Ngữ &
Cuộc Sống
-
-
Gần gủi,
tiếp xúc với Bùi Giáng, mỗi lần, có thể nói giai thoại về
ông, thương mến, cảm quư con người tài hoa nhưng sống đầy
khổ hạnh.
-
Viết
về Bùi Giáng, với Mai Thảo: “ Bùi Giáng chất ngất một trời
chữ nghĩa, Bùi Giáng trùng trùng một biển văn chương...
Sự h́nh thành một tác phẩm nơi Bùi Giáng cuối cùng vẫn c̣n
là một bí ẩn hoàn toàn trong cái vùn nụt, cái bất tuyệt thao
thao, cái chớp mắt đă là của nó... Bùi Giáng đă đem lại cuộc
đời biết bao nhiêu châu ngọc. Bằng tài thơ trác tuyệt. Bằng
ngôn ngữ ảo diệu, không tiền khoáng hậu. Có ông, thi ca mới
đích thực có biển có trời. Từ ấy, thi ca mới không cùng
không tận”. Thế mà, chân dung & đời sống của nhà thơ
“Mái tóc ông đỗi màu. Mấy chiếc răng của bị gẫy, nụ cười
vừa trẻ thơ vừa móm mém. Cặp mắt sâu hoắm xa khuất dần với
mọi h́nh hài thực tế... Ông ấy chỉ c̣n da bọc xương trong
quần áo thùng th́nh, mái tóc dài đạo sĩ, cái túi vải c̣n
thêm cây gậy... Có lúc thấy nói ông đeo một xâu chuổi toàn
giày dép và quần áo phụ nữ quanh cổ như một ṿng gai quái
dị, đám con nít reo ḥ chỉ chỏ người điên, người điên. Có
khi nghe thấy, ông ẩn lánh ở ngôi chùa vùng ngoại ô thành
phố, ăn chay niệm Phật cả ngày không nói”. “Bùi Giáng
cũng tạo được một cái lạ mà theo tôi là một cái ngang...
-
“Trần gian
lắm kẻ không cơm áo
-
Mà con thờ
thẩn cứ nh́n trăng.”
-
Bùi Giáng có
cái giọng bạt đó và cái giọng bạt đă ảnh hưởng vào âm vận
của thơ Giáng” (Uyên Thao - Thơ Việt Hiện Đại).
-
Sau năm
1975, thảm họa chung của đất nước, Bùi Giáng cũng bị nhốt 3
tháng ở trại giam Gia Định. Ông bất chấp tất cả. Ông gọi mầy
tao khi bị hỏi cung, thản nhiên với thức ăn “cặn bả” của con
người mà không bị nhiễm trùng. Thế rồi, tháng ngày sau đó,
theo Phạm Xuân Đài “Cuộc sống của anh tại Sài g̣n hiện nay
là của một cuồng sĩ, khi th́ thu ḿnh trong túp lều của anh
tạ một khu vườn bên Gia Định, khi th́ lang thang vô định
trong cơn điên... Đi lang thang hàng chục cây số bất kể
nắng mưa, múa may la hét suốt mấy ngày liền, kẻ lực sĩ chưa
chắc đă làm được”. Thế nhưng “Bùi Giáng như một ngọn lửa
cháy liên tục mấy mươi năm nay trong thế giới thơ ca - của
anh và của chúng ta. Ngọn lửa có
khi thu lại thành một đám nhỏ, có khi bùng lên dữ dội, có
khi bị gió băo lắt lay, nhưng vẫn là nguyên một ngọn lửa ấy
từ đầu cho đến bây giờ”.
-
Vũ Kư viết
nhiều giai thoại về Bùi Giáng, một Bùi Giáng thông minh, tài
hoa, điên khùng, lang bạt... một Bùi Giáng với t́nh yêu ảo
tưởng trong thơ văn và một Bùi Giáng lăng mạn với bóng hồng
ở tuổi 60. Không hiểu v́ cơn gió nào, bỗng nhiên có hai cô,
một cô là Đ.N.L.H (giáo viên cấp ba, người Huế) và một cô là
H.H.T.V, cháu của nhà văn Cung Giũ Nguyên xách đồ đạc đến
nhà Thùy ở luôn 2 tháng. Thùy là bạn học, đồng hương với Bùi
Giáng, thường gặp gỡ nhau. Thế rồi cô L.H “lại rất mến trọng
Giáng, thường la cà với Giáng tại nhiều quán cà phê, nhiều
lúc t́nh tứ khiến mọi khách trong quán rất ngạc nhiên”. Đó
cũng là một hiện tượng, thử tưởng tượng h́nh ảnh Đại lăo Cái
bang ăn mặc rách rưới kỳ dị lại song bước cùng bóng hồng
tuổi c̣n đôi mươi, tâm t́nh với nhau.
-
Ngày nay, ở
trong nước đă có vài bài viết về ông với h́nh ảnh con người
điên loạn sống bên lề cuộc đời nhưng thi văn của ông vẫn giữ
thế đứng trong nền văn học. Văn chương, Nghệ thuật của ông
như một cơi trời bao la, khác xa với tư tưởng của người cầm
bút theo giáo điều chủ trương “hiện thực xă hội”!
-
Dẫn chứng
vài cây bút tượng trưng viết về ông ở trên cho thấy con
người của ông nửa tỉnh nửa động, đời sống của ông bất định,
nay đây mai đó, ngôn ngữ của ông có lúc thật huyễn hoặc, kỳ
bí, lúc thật b́nh dị, nhẹ nhàng, lúc thanh lúc tục. Quan
niệm sáng tác của ông “chơi mà thôi”, chẳng có ǵ bận tâm,
chẳng có ǵ để bàn. Cuộc đời của ông ở giữa trần thế chỉ là
Ngày Tháng Ngao Du, rong chơi, ung dung tự tại.
-
Trước kia,
Thượng Tọa Thích Minh Châu dành cho ông căn pḥng ở Đại học
Vạn Hạnh, ông chỉ để sách vở rồi rong chơi đầu đường xó chợ,
gặp đâu ngũ đó bất kể nắng mưa, đêm ngày. Sau nầy, thân nhân
lo cho ông túp lều trong vườn ở Gia Định, căn pḥng nhỏ trên
lầu ở đường Trần Quang Diệu Sài g̣n, ông để đó, rong chơi
dưới gầm cầu Công lư, vĩa hè.
-
Với ông, tư
tưởng triết học Đức của M. Heidegger, Nietzsche, thi ca của
Holderlin, Walt Witman, Emily Dickinson... Văn chương Pháp
của A. Gide, St Exupery, A. Camus, văn chương Anh của
Shakespeara. Ông chọn lựa và chuyển ngữ rất tài t́nh. Cuộc
đời của ông điên, tỉnh, ông đă đề cập trong tác phẩm, t́nh
yêu huyễn hoặc thấy bàng bạc trong thơ văn. Tư tưởng triết
học, tư tưởng cao siêu của con người, theo ông, đều có đề
cập trong Kiều của Nguyễn Du.
-
Sức sáng tạo
của ông rất kỳ diệu. Như một tay vơ công tuyệt luân khi xuất
chiêu liên tục bất tận. Trong một đêm, ông viết cả trăm
trang cho một tác phẩm. Gặp ông, hỏi thơ để đăng, ông sáng
tác ngay tại chỗ, viết như đă nhập tâm từ trước.
-
Ông có năng
khiếu về ngoại ngữ và cách học của ông, chọn tác phẩm để
học, đọc, tra cứu. Biết hết chữ nghĩa của tác phẩm là biết
được ngôn ngữ nước đó. V́ vậy, khi t́m hiểu M. Heidegger,
ông học tiếng Đức mới hiểu được tư tưởng. Văn chương Pháp,
Anh, ông chuyển dịch từ nguyên tác. Ông dịch Kim Kiếm Điêu
Linh để học thêm chữ Hán. Chuyển ngữ lại từ tác phẩm “chuyển
ngữ” th́ không c̣n thoát được cái ư của nó. Chẳng hạn Ngàn
Thu Rớt Hột nghe rất văn chương bóng bẩy, đó là “h́nh ảnh
cứt” dê bao năm ông gần gủi với nó trên núi rừng. Làm sao
chuyển ngữ thoát được cái âm điệu, h́nh ảnh bóng bẩy đó
được.
-
Có lần Huy
Tưởng gặp và hỏi chơi với ông chuyện chăn dê có thi phẩm
“rớt hột”, nghe nói ông có chăn ḅ ở quê đúng không? - đúng!
đúng? đúng với cái đầu của họ. Rồi cười thoải mái, xem như
hỏi chơi, nghĩ chơi, đáp chơi rồi thôi.
-
Nguồn thơ
của ông dạt dào, bất tận, ông viết nhiều về h́nh ảnh ở quê
hương, ở núi rừng Trung Việt. Điều bắt gặp trong thơ của ông
với chữ Kim ở đầu. “Người t́nh trong thơ” Kim Novak, Kim
Cương. Ngài ra với vài h́nh bóng các cô Kim... thấp
thoáng:
-
“Ôi phương
cảo Ôi Kim Liên
-
Cảo thơm Kim
Thúy diện tiền Kim Hoa!
-
Ôi Kim Ngọc
Ôi Kim Nga
-
Chắc ǵ mai
hậu mà ra phụ ḷng”.
-
(Ra Hoa)
-
“Tuy nhiên
hồn mộng chan ḥa
-
Đầu tiên Kim
Thúy Kim Hoa thập thành
-
Cuối cùng
thừa thượng Kim Thanh
-
Đi về vô tận
tập thành Kim Liên
-
Kim Nga Kim
Ngọc diện tiền
-
Đầu sương
cuối tuyết thần tiên bấy chầy”.
-
(Cuối Ngày
Em Đi)
-
Ông lang
thang suốt 4 thập niên, thời gian quá dài cho một đời người,
xem cuộc sống nhẹ như tơ hồng, xem cuộc đời ảo thật, thật
hư, thế nhưng đôi lúc t́m trong thơ ông mới cảm nhận được
nỗi thống khổ thiết tha cho mối t́nh đầu đời đă hoài công
t́m lại:
-
“Chắp tay
tôi lạy ông trời
-
T́m người
yêu giúp giùm tôi một lần”
-
(T́m Em)
-
Khi làm kẻ
chăn dê và h́nh ảnh nơi cố hương được mô tả qua ḍng thơ rất
tuyệt:
-
“Đồi tăm tắp
chạy về ôm chân núi.
-
San sát đồi
phủ phục quấn núi xanh.
-
Chiều xuống
rồi tơ ḷng rộn ràng rối.
-
Trời núi đồi
ngây ngất nhảy dê nhanh
-
Thôi từ nay
tha hồ em mặc sức
-
Nhảy múa
tung sườn núi vút gịng khe
-
Thôi từ nay
tha hồ em mặc sức
-
Vang vang
lên đồi núi giọng be be”.
-
(Nỗi ḷng Tô
Vũ)
-
Và, trong
khung cảnh đó, ông bày tỏ nĩ niềm cùng h́nh ảnh người yêu:
-
“Em nhớ hay
không hồn ḥa dại cỏ
-
Những ngậm
ngùi đầu núi canh khuya
-
Vàng cao gót
nai đầu truông hăi sợ
-
Gió cây rung
trút lá mộng tan ĺa”
-
(Nỗi Ḷng Tô
Vũ)
-
Ông lấy h́nh
ảnh Tô Vũ đời Hán Vũ Đế, đi sứ sang Hung Nô bị giữ lại và
đày đi chăn dê gần hai thập niên. V́ vậy, nỗi ḷng Tô Vũ là
nỗi ḷng của kẻ lưu đày giữa chốn trần gian.
-
H́nh ảnh
người vợ, người t́nh ban đầu, yêu thương say đắm, đă vĩnh
viễn ra đi để lại cho ông “điên” với t́nh, với thủy chung
h́nh bóng cũ:
-
“Em chết bên
bờ lúa
-
Để lại trên
đường ṃn...
-
... Đêm
cuồng mưa khóc điên
-
Trăng cuồng
khuya trốn gió...
-
... Anh đi
về đô hội
-
Ngó phố thị
mơ màng
-
Anh vùi thân
trong tội lỗi
-
Chợt đêm nào
gió bờ nọ bay sang”
-
Bất hạnh
trong t́nh trường, ông rong ruỗi trong nỗi bất hạnh đó qua
ngôn ngữ bằng thơ, văn, bằng rái tim rướm máu, bằng tài hoa
lỗi lạc của Bùi Giáng và có lẽ duy nhất với cái tên Bùi
Giáng.
-
“Văn Thơ
cùng Tư tưởng của Bùi Giáng đi vào lịch sử văn học đất nước,
đánh dấu một giai đoạn của văn chương Việt Nam”, phải hiểu
con người Bùi Giáng mới cảm nhận được ư thơ, văn và tư tưởng
của ông, ông sáng tạo lúc tĩnh, ngao du lúc động để măi măi
đi t́m h́nh ảnh xa thẳm, mịt mù!
Hồn thơ luôn
luôn chất chứa trong Bùi Giáng, bất luận ngày đêm, gặp đối
tượng khơi động, ḍng thơ tuôn trào. Tâm hồn Bùi Giáng chu
du, mộng mị khắp bốn phương trời để “thơ và giai nhân” kết
tinh thành “thiên cổ lụy” ngất ngây, nồng nàn, say đắm ḥa
cùng điên dại trong ngôn ngữ thi ca. Viết về bản thân, ông
phơi bày cái tốt, cái xấu, khi tĩnh, khi điên... nhưng mọi
người vẫn quư mến.
-
Một h́nh
bóng, suốt cả cuộc đời trôi nỗi với hệ lụy khổ đau, một nhân
tài không bao giờ có được mùa xuân nhưng với tâm hồn thanh
thoát.
-
-
Vương Trùng Dương
-
(Cuối năm Ất Hợi 1995)
|
|
|