Văn Học
Nghệ Thuật
Sinh Hoạt
Phiếm Luận
Trang Thân Hữu Thơ - Văn
Diễn Đàn
Giải Trí
Thư Tín
 
 
Tết Mậu Tý,
                 đọc lại truyện mèo chuột năm tý
Vương Trùng Dương
 
               (Trích trên Giai Phẩm Xuân Mậu Tý 2008 của nhật báo Viễn Đông)
 
Trong mười hai con giáp, chuột đứng đầu danh sách, mèo đứng hàng thứ tư và chó hàng thứ mười một. Ba con vật nầy không ưa nhau, thù hận muôn kiếp... từ đời nầy sang đời khác và vĩnh viễn không bao giờ có chuyện “hòa hợp hòa giải” với nhau. Chó và mèo ghét nhau vì vậy khi đề cập đến sự đố kỵ, tỵ hiềm, khích bác, gấu ó... thì dùng chữ chó mèo để ám chỉ. Khi miệt thị, bôi bẩn, hạ nhục ai thì dùng chữ chó mèo, và thành ngữ có câu “chó gio mèo mù, chó khô mèo lạc, chó lạc mèo hoang, mèo đàng chó điếm” ám chỉ loại vô giá trị, bất lương, vô dụng, xấu xa.
Mèo và chuột không những ghét nhau mà chuột coi mèo như kẻ thù nguy hiểm không đợi trời chung vì lúc nào cũng rình rập sát hại. Mèo coi chuột như miếng mồi ngon và khi bắt được chuột thì mèo vờn cho thỏa mãn thú tính, hành hạ nạn nhân trước khi xơi tái. Thế nhưng, hai chữ mèo chuột lại ám chỉ trai gái lăng nhăng, tằng tụi, bồ bịch với nhau... có vẻ bất chính. Nếu phái nam gọi tình nhân phái nữ là mèo thì chàng chuột coi chừng nàng mèo nuốt sống lúc nào không biết?. Thành ngữ có câu “chuột gậm chân mèo” để ám chỉ sự dại dột, liều lĩnh.
Nhân dịp Xuân Mậu Tý, đọc lại “truyện mèo chuột năm tý” trong nguyệt san Nhân Văn, số 10, Xuân Bính Tý 1972, ấn hành tại Sài Gòn. Những dòng đầu trong tuyển tập nầy với Thư đầu năm: “Nhâm Tý tức là năm con chuột nên tạp chí Nhân Văn xin gửi đến bạn đọc một tuyển tập truyện ngắn viết về loài chuột. Như thường lệ, hễ người ta nói đến chuột là phải nhác đến mèo. Vì chuột và mèo là hai kẻ thù truyền kiếp và hễ mèo gặp chuột là giết và ăn thịt.
Vì vậy tòa soạn Nhân Văn đã chọn chủ đề Truyện Mèo Chuột Năm Tý để gửi đến bạn đọc những truyện viết về mèo lẫn chuột do các nhà văn tên tuổi tiền chiến và hiện đại đã sáng tác.
... Những truyện ngắn đặc sắc và gái trị nhất trong những truyện ngắn viết về loài vật mà các tác giả tiền chiến và hiện đại đã sáng tác và cho ấn hành rải rác trên các tạp chí và sách báo xưa và nay...”.
Thay vì tóm lược, trích đăng từng mẩu chuyện, phần đọc có thêm trích dẫn những đoạn văn dẫn dắt câu chuyện để cảm nhận được nội dung và tài hoa của những cây bút viết về loại vật từ sinh hoạt trong đời sống và suy nghĩ của nó. Giữa con người với loài mèo thân yêu trong nhà và loài chuột tinh ranh, phá phách, với sự nguy hiểm do căn bệnh dịch hạch lây lan trên thế giới qua bao thiên niên kỷ.
                                                      *
* Truyện ngắn đầu tiên trong tuyển tập với Tình Thơ của Ngọc Giao và Lệ Cầm. Nhà văn Ngọc Giao với các tác phẩm quen thuộc trong thời tiền chiên như Cơn Gió Bấc (1938), Phấn Hương (1939), Cô Gái Làng Sơn Hạ (1942), Nhà Quê (1943), Con Người (1944), Chuyện Người Trẻ Tuổi (1944)...
Tình Thơ đề cập đến hình ảnh cô nữ sinh Liễu, con ông bà Tham, với con mèo được mua từ bên Xiêm mà nàng gọi là Bạch nương nương. “Liễu săn sóc nó như săn sóc chính nàng... Liễu truyền lệnh cho gia nhân không được trêu vào nó, nếu sai lời, Liễu đánh và đuổi ngay lập tức. Ðêm nào không có nó chung giường, Liễu không sao ngủ được. Nhiều khi nửa đêm thức giấc mà vắng bạn hiền, Liễu vùng dậy châm đèn tìm khắp gậm bàn, gậm tủ, dòm ra vườn hoa, vườn rau sục sạo, tìm cho kỳ thấy, làm náo động như có trộm vào nhà... Bữa cơm, Liễu không quên đặt nó ngồi riêng trên một chiếc ghế mây nhỏ có nệm nhung, cạnh Liễu. Liễu luôn tay chọn gắp món ăn ngon cho nó... Liễu đặt nó trên bàn học, Liễu cầm lược ngà chải cho lông nó rõ mượt như tấm áo nhung”.
Sau khi tắm con mèo trong chậu xà phòng thơm phức thì Liễu lấy khăn tay lụa vuốt cho lông nó thật khô. Về trang sức thì:
“Liễu bước gang đầu nó một sợi dây kim tuyến, váng lóng lánh và đính thêm một bông hoa đỏ, Liễu mặc cho nó chiếc áo dạ màu rêu cắt y như kiểu các tiểu thư đương thời. Liễu đeo vào cổ nó chiếc kiềng vàng của Liễu và mắc thêm cái xích mạ vàng tây mà Liễu mới bổ ống để thuê thọ bạc làm...”.
Cô mèo được Liễu yêu mến, chăm sóc tận tình như vậy nhưng tính mèo lăng nhăng lại tằng tịu với chú rắn.
“Ðêm ấy, con mèo trắng đa tình lại không nằm bên Liễu nữa. Nàng ra cửa sổ nhìn xuống dưới vườn. Nàng lại thấy nó lờn vờn đi... lờ mờ chạy... Bóng nó trắng lom lóp như bóng yêu tinh, dáng nó đi oai nghi và đường bệ như con mãnh thú chơi giăng giữa rừng.
Nó đứng lại, ngẩn ngơ như đợi chờ ai, nó lại rúc đầu xuống cỏ tựa hồ đánh hơi một vật gì là lạ... Nó cất tiếng kêu thật buồn, thật thảm. Một lát con rắn cạp nong, phải rồi, con rắn đốm đen đốm trắng đêm qua, từ trên cành cây nhoài xuống, quăng mình đến con mèo, từ từ quấn từng khoanh, che kín cả người yêu.
Con mèo giẫy giụa, kêu rên. Con rắn phun sè sè quằn quại. Ðó là cuộc ái ái ân của một cặp nhân tình trong một đêm xuân giăng mờ mờ lạnh”.
Lần đầu tiên trong đời, Liễu chứng kiến cánh ái ân với nhau nên “Liễu có cảm giác rằng mặt nàng đang đỏ lắm. Nàng thẹn với nàng”.
Thời gian sau, Bạch nương nương sinh con “Con thì đen như mực, con thì lông lốm đốm màu tro, màu trắng như con rắn cạp nong...”.
Liễu có người tình, và trong thời điểm đó, nàng cũng táo bạo khi nói dối với thầy mẹ để xin phép đi với cô bạn gái sang tỉnh Bắc sang thăm cô giáo ốm và sẽ ngủ ở đó một hôm nhưng để đi theo lời hẹn hò với người yêu. Và Liễu tự nhủ nếu dại dột nhắm mắt nghe lời dụ dỗ của chàng thì sao? Và, nàng tự nhủ “Thì ta cũng sẽ như...”
 
* O Chuột của Tô Hoài. Nhà văn Tô Hoài với tác phẩm Dế Mèn Phiêu Lưu Ký năm 1941 rất quen thuộc qua bao thập niên về truyện dài loài vật nầy. Ðã ấn hành các tác phẩm khác như Quê Người (1941), Giăng Thề (1943), Nhà Nghèo (1944), Xóm Giếng Ngày Xưa (1944), Cỏ Dại (1944)... Từ năm 1954 đến 1975, ông cho ra đời rất nhiều tác phẩm nhưng không được chú ý. Gần đây tác phẩm Chuyện Ba Người đề cập đến hình ảnh tương phản với nhau thật ê chề trong cuộc cải cách ruộng đất mà trong thời kỳ Nhân Văn ố Giai Phẩm ông im lặng.
Tập truyện O Chuột, Tân Dân - Hà Nội, ấn hành năm 1943, thể hiện văn phong tài tình. độc giáo của ông về truyện ngắn. Tô Hoài viết O Chuột vào năm 1937, đến này tròn bảy thập niên.
O Chuột mô tả hình ảnh con mèo rình rập để bắt con chuột nhắt lanh lợi, tinh ranh. Chuột nhắt hôi hám, mèo không có dụng ý bắt để ăn mà “Mèo chỉ bắt những con chuột tiểu yêu đó để đùa nghịch và để hả cơn cáu kỉnh; vì loài chuột nhắt cứ bặng nhặng, rúc rích trong xó bếp, là chỗ nghỉ ngơi của mèo... Chỉ vì bực mình mà mèo bắt chuột nhắt. Nhưng chú chuột nhỏ khôn ngoan vẫn hay chạy trốn được. Ðời đời, cái giống chuột nhắt tai quái cứ làm rức tai loài mèo”. Và, cuối cùng “Gã mèo mướp kia chỉ đi quanh đi quẩn để tìm, để lùng bắt chuột nhắt. Và có những đêm sau, hắn cũng đi tìm chuột, nhưng - vẫn khờ dại như thường - hắn chỉ tìm để đùa chơi một chút. Rồi nó có rông mất, hắn lại khó chịu, bực dọc, hậm hực mà đi lùng bắt những con khác. Cái loài chuột nhãi cứ làm ta rối đầu và ngứa mắt quá.
Cơ chừng gã mèo mướp phải dành tất cả cái hoa niên của mình để mà chỉ luẩn quẩn đi O Chuột”.
Ngòi bút của Tô Hoài rất linh hoạt khi phác họa hình ảnh con mèo:
“Y là một chàng mèo mướp. Giống đó, nhà quê người ta nuôi nhiều. Cái bộ lông mèo mướp thực là dị kỳ. Nó vừa trắng màu lụa, vừa xám màu tro lại vừa đen xỉn. Khắp mình, ba màu ấy trộn lẫn với nhau, mà trông rất nhỏ, hòa hợp lại thành một màu đặc biệt như màu cái chăn dạ của các chú lính tập. Chỉ ở dưới bụng mới có một mảng lông trắng mềm mềm. Màu mướp ấy trông bẩn, vì đen ngòm ngòm, nhưng chính ra sạch lắm. Nó sạm như đất, mà không phải là có đất bám. Nó lại mờ mịt như có tro là chỗ ngủ tốt nhất của loài mèo - mà thực ra cái bờm lông xấu xí đó chẳng vấn một chút bụi tro. Ngắm thì không đẹp mắt, nhưng nếu sờ tay vào, nó mướt như sờ tay trên tấm nhung tơ.
Hai mắt mèo tròn và quắc như hai hòn bi ve để dưới ánh mặt trời. Hắn không có môi, song hắn có cái mũi đo đỏ, đẹp như môi son hồng của các cô con gái đương thì. Ðàn bà không ưa cái mũi đỏ ấy. Người ta bảo mèo mũi đỏ là mèo hay ăn vụng. Hai bên mép hắn có hai hàng ria cứng nhắc như ria làm bằng thép nước. Lũ trẻ con, có lúc nghịch, đè ngửa hắn xuống, lấy kéo cắt trụi cả đôi hàng ria xuôm đuột. Nhưng chỉ qua ít ngày, nó lại trổ ra như thường.
Gã mèo mướp ăn ở thì giờ như một người đúng mực. Ban ngày hắn ngủ hoài, cái dáng mèo nằm, dáng êm, dáng thanh, dáng lâng, đẹp biết bao! Lúc bấy giờ, cái thân hắn nhẹ muốt, chỉ như một chút gợn gió phẩy bay một nắm bông gạo nõn.
Mà giá ban ngày hắn có thức cũng không làm gì; hắn chỉ nằm gù gù. Ðể đến đêm, trong cái bóng tối mung lung, hắn mới ra tay hoạt động. Hắn đi rà rà thâu canh như người trương tuần. Gã mèo có cái vẻ đạo mạo như một ông đứng tuổi, đương bắt đầu để râu. Hắn hiền hiền mà lại ang ác. Nghĩa là trông hắn thì không tài nào đoán được trong óc hắn nghĩ ngợi gì. Mà chừng hắn chẳng tư tưởng chi ráo! Hắn chỉ là một người rong chơi lông bông.
Chẳng có những bác trông mặt thì ra dáng đăm chiêu tư lự mà thực ra trong đầu không chứa đựng một ý nhỏ định nào.
Gã ngồi đấy, ở trên mặt dại bể. Hai chân trước đứng thẳng, đôi chân sau gấp lại, y như lối ngồi xổm. Ðôi mắt nhìn xa xôi... Thỉnh thoảng, theo thói quen, hắn đưa cẳng chân phải lên gãi mép, cũng như người ta đưa tay lên vuốt râu cho nó oai vậy...
... Hai cái tai mèo mướp hơi động đậy. ấy là khi anh hết sức lắng nghe. Tai mèo mỏng tanh, gần soi bóng qua được, dõng lên như chiếc tai lừa tý hon. Cái vòng tai rộng mở và loe ra. Chả trách gã nghe rõ lắm”.
Hình ảnh con chuột được mô tả thật sinh động qua ngòi bút của Tô Hoài:
“Chuột nhắt bé hơn chuột chù. Nhưng nó nhanh và hoạt bát hơn nhiều. Anh chuột chù có cái mõm dài nghêu - cứ vác cái mõm đã đủ mệt - đi đến đâu cũng rụt rụt, rè rè. Hễ hơi có cái gì đáng sợ là vội hốt hoảng chạy cuống lên, vãi cả đái và kêu rối rít. Ðã thế còn chậm và không biết leo tường, leo cột, chỉ luẩn quẩn sát mặt đất. Thật là một thứ chuột cùng dân, thấp kém nhất trong xã hội chuột. Vậy mà thiên hạ lại ưa thứ chuột đó. Không phải là ưa cái thân hôi hám của nó - chẳng đã có câu mỉa “Hôi như chuột chù” - nhưng người ta chỉ ưa có tiếng kêu “chuúc... chuuuúc...”. Các cụ ta nói: “ấy chuột chù bảo: túc, túc, ắt nhà ấy hẳn sắp có việc đại phát tài”.
Và đây chỉ là hai con chuột nhắt. Thân chúng nhỏ nhắn, mõm chúng xinh xinh vừa phải. Về sự nhanh nhẹn, phải biết rằng nhờ ở cái thân hình bé bỏng, chúng leo vun vút, chúng chạy nhoăn nhoắt như có phép biến hóa”.
Hình ảnh con mèo sau khi vồ được con chuột nhắt:
Mèo nhả chú chuột xuống đất, rồi ngồi ngây ra mà nhìn. Con vật khổ sở nằm co ro. Mèo ta đắc chí, lấy một chân vờn vờn vào mặt chuột. Bất tỉnh nhân sự từ nẫy giờ mới lại hoàn hồn, chuột khe khẽ thoi thóp thở. Mèo yên lặng, dáng ngẫm nghĩ. Gã không để ý đến chú chuột đương giương đôi mắt lồi như hai hột chàng ràng ra nhìn gã. Chỉ ti hí mắt lương mà ranh thượng hạng.
Bỗng, thoáng một cái, chú chuột chạy vụt vào phía trong. Nhưng chàng mèo vẫn nhanh hơn. Chàng vươn tay ra. Lại chộp liền ngay lấy gáy chú nhỏ. Ôi chao! Chàng ta mới chộp cho chú nhỏ một cái nhá! Chú nhỏ kêu “chíi... chíi...” rầm cả lên.
Có lẽ nhân cuộc chạy trốn ấy, gã mèo bầy ra một trò chơi tiêu khiển qua thì giờ. Gã đem chuột ra chỗ ánh trăng, giả vờ để yên chú ra đấy. Rồi mèo yên lặng. Chú chuột sợ hãi không nhúc nhích.
Nhưng chính ra chuột vẫn rình mèo và mèo cũng lại rình chuột. Ðể hễ khác ý là chuột lại chuồn biến. Còn mèo, mèo cũng chỉ chờ chuột chạy là vồ ngay lấy. Gã mèo dương oai thả lỏng và chắc chắn chẳng khi nào chú chuột chạy thoát nổi đôi bàn chân nanh móng của gã.
Mà cũng thế thật. Chú chuột tưởng bác mèo hất lờ, cứ sểnh một chút lại chạy. Có đến mươi lần. Nhưng cũng không lần nào khỏi bị tóm lại. Mỗi bận chuột động chân, mèo ta chỉ nhoi lên một tí, đã túm được dễ dàng. Mãi rồi con chuột hóa mệt lử. Nó chạy chậm dần và cuộc chơi cũng dần mất thú vị”.
 
* Truyện ngắn Chuột Thành Phố của Tô Hoài, nếu xếp loại, thuộc vào truyện vừa vì có 8 phân đoạn và 53 trang sách. Lấy bối cảnh ở Sài Gòn và nhà văn đã nhân cách hóa.
“Chúng tôi thật xứng đáng với địa vị chen lấn và được đem ví von với loài người... Chúng tôi chỉ hơi khác với họ có một điều. Như họ thì to lớn, mà chúng tôi thì bé quắt, chỉ bé bằng cái cẳng tay của người ta... Xưa nay, thiên hạ tưởng chúng tôi không biết nói. Xà! bậy hết sức. Chúng tôi đây cũng biết nói như ai. Chí, chí, là chúng tôi nói đó. Chúng tôi nói tiếng của chúng tôi. Cũng như loài người nói tiếng nói của loài người...
... Thực ra từ xưa đến nay, chúng tôi vẫn hết sức tôn phục loài người. Người ta làm nhà để cho chúng tôi có nơi ở ké. Người ta lại làm ra cái bếp để nấu nướng thức ăn, khiến chúng tôi có chỗ để ăn ké. Thỉnh thoảng, người ta lại nuôi một vài chú gà con, để cho các tay chuột cụ trổ tài quắp trộm.
Chúng tôi lại biết rằng, loài người cũng chẳng khác gì loài của chúng tôi mấy. Ai cũng phải làm việc hết sức để mưu lấy sự sống còn. Biết bao nhiêu chông gai nhọn sắc đầy dẫy trong lối đi của con đường đời! Sống vất vả quá. Sống cực nhọc quá. Nhưng có vất vả, có cực nhọc mới đáng gọi được là sống trên đời nầy”. Rồi chàng chuột nhỏ bé kể lại câu chuyện mình sau nữa đời lăn lóc.
“Tôi làm trùm bọn họ, Bởi vì tôi chay nhanh, tôi nhảy khỏe mà tôi lại biết võ... Tôi họp đoàn lại. Rồi tôi chơi lu bù. Có khi tôi đi mất mặt đến mấy ngày, không về đến hang. Thới đó, tôi ở với anh chị tôi. Mỗi bận tôi đi chơi về như thế, chị dâu tôi thường cằn nhằn, rầy la tôi. Tôi lấy làm khó chịu lạ. Tôi cho chị tôi là mụ chuột lắm điều....”.
Bị người anh và chị dâu khinh thường, coi cậu chuột ăn bám và hoang đàng chi địa nên “Tôi phải đi chứ. Dù sao tôi cũng cần phải có cuộc đời riêng của tôi, không ỷ lại vào ai”. Nhưng khi cậu chuột bỏ hang ra đi, tìm lại các bạn cũ đã chơi nhau để sống lang thang và không ngờ lại bị chê cười nên đánh lộn với nhau rồi “Tôi quyết định đi cho thật xa. Xa nhà của anh chị tôi. Và xa chỗ ở của lũ bạn khốn nạn kia”. Tìm được ngôi nhà sang trọng để tá túc và không có gì để ăn nên “Cho đến ngày thứ tư, tôi đành phải bỏ đi. Tiếc căn nhà rộng rãi, kín đáo, ngăn nắp quá nhưng không có gì mà ăn, thì cũng chẳng thể ở được”.
“Tôi đã tìm được một chỗ ở mới. Nơi nầy khác hơn trước. Tôi đã biết sợ những cửa cao nhà rộng. Bây giờ tôi mò tới một cái ngõ hơi lầy lội. Tôi nghĩ, đất nầy có thể dung thân. Tôi vào đó luôn, ở căn nhà trong ngõ”.
Thế nhưng “Nhà vắng teo. Bác chủ nhà đã vác xe máy đi đâu từ sáng sớm... Trong nhà... không thể tìm thấy một vật gì hơn nữa. Chĩnh gạo không. Chai nước mắm không. Ðến mấy ông vua bếp cũng không có nốt”. Trong căn nhà nầy cậu chuột gặp lão Chuột Què vì thân tàn ma dại nên không đi được nơi khác đành cam phận sống quanh quẩn và đói qua nên ăn cục xà-boong, cậu chuột cũng đói quá đành xơi cho qua bữa nhưng chủ nhà phát hiện rồi cất đi. Cả hai đành gặm đôi giày cũ nhưng rồi cũng bị chủ nhà cho vào tủ. Không còn cách gì để kiếm sống, đành ra đi nhưng Chuột Què lết không nổi “Chuột Què quay về, Tôi đứng trông theo cái bóng thất thểu của anh cho tới khi khuất hẳn, mới lừng khừng đi”.
“Tôi cứ đi... Rút lại, dù là cái thành phố nầy to rộng, nhưng tôi cũng chật vật lắm mới tìm được một chỗ khả dĩ nương thân được một độ”. Nhưng không may, gặp lúc người ta đang đánh đuổi chuột, chú chuột bị ngọn roi cắt mất cái đuôi “Tôi từ đấy, biệt hiệu là Chuột Cộc... Tôi nghĩ có cái biệt hiệu như vậy, cũng hay hay. Nó gợi cho mình mãi mãi một kỷ niệm cho mình”.
“Mãi một ngày kia, tôi tìm đến một chỗ ở tốt quá. Nơi nầy là một xóm lao động. Mà ở chung quanh có những vũng lầy lội gớm ghê. Tôi đã biết sợ những căn nhà có cái vỏ sang trọng rồi. Một lần cũng đủ kệch tới ngày xuống lỗ... Ở đấy, trước tôi tới, chỉ có chưa được một chục mống chuột. Cuộc sống rất thong dong. Ăn rồi lại nằm kềnh ra ngủ. Tôi đến, họ tiếp đón tôi rất niềm nở! Tôi kết thân ngay với họ. Một đống cơm nguội thay cho cái lễ tương kiến. Mấy anh em ăn uống hể hả”. Và từ đó, Chuột Cộc đã trải qua thời kỳ giang hồ, từng trải nên được tôn làm anh Hai, và “Ngày qua ngày, tháng qua tháng. Cuộc đời kết bằng hoa tươi và lúc nào cũng là mùa xuân”.
Thế rồi, cuộc sống bình yên bỗng bị kẻ lạ xâm phạm, gây hấn. “Chiều tối hôm đó, có vô số chuột ở đâu chúng nó rầm rộ kéo đến, con nào cũng như con nào, mõm vuông và đuôi ngắn. Chúng xô vào trong cống làm nhặng xị lên”. Bọn chúng tìm đến vì các nơi khác không có chỗ ăn và dung thân nên thấy chỗ đó thuận tiện, muôn tá túc. Chuột Hai cư nự và sau một hồi đôi co với nhau rồi đánh lộn với nhau “thế là chúng tôi cũng thua trận” và đành nhường cái cống và phần đất. sau đó, xảy ra trận kịch chiến và “Chúng tôi sát đuôi vào nhau, vừa đánh vừa lùi. Lùi mãi vào đến cửa buồng ngủ nhà người ta, chúng tôi tọt vào đấy và giữ thế thủ trong khe cửa”. Sau đó, Chuộc Cộc đi cầu cứu đồng bọn về, trong đêm xảy ra trận quần thảo lan rộng trong nhà. Ðánh nhau tơi bời hoa lá làm chủ nhà thức giấc “Ức quá, gã trở dậy, cầm cái que và bật ngọn đèn điện... Chúng tôi hốt hoảng chạy tan tác. Thế là trận vỡ”.
Thế rồi, một ngày kia “Người ta mới mua được một ông mèo to quá... Chúng tôi trốn rối rít”, và “Chúng tôi cắm cổ chạy bán sống bán chết. Nhưng cái đàn chuột kia là một đàn chuột ghê gớm. Chúng đã chạy trốn ông mèo từ lúc nào, và khi chúng tôi tới căn nhà trú ẩn ở cuối xóm, thì chúng đã lọt vào đó tự bao giờ. Chúng đánh và đẫy bọn tôi ra.... Chúng tôi lêu đêu, đành ra ở tạm ngoài bụi cây, để tính một kế hoạch đánh bọn ăn cướp kia”.
Một cuộc họp quan trọng của phố chuột “ngót một trăm con, vừa đực vừa cái và đủ cả già trẻ lớn bé”. Chuộc Cộc được bầu làm chủ tịch. Tuyên bố “Hỡi các anh em chị em, chúng ta phải ghép chặt hàng ngũ, mau mau tiến đánh quân thù ghê gớm thì mới mong tìm lại được sự thịnh vượng và sự thái bình ngày xưa được”. Rồi cuộc đánh nhau với đám chuột mõm vuông đó. Sau khi đánh nhau, đám chuột mõm vuông nầy rất tinh ranh, chỉ để lại một con nhằm nhử ông mèo mò đến đàn Chuột Cộc.
“Trong khi ấy, mùi thối càng tăng lên ghê gớm. Tôi nghĩ có bệnh nguy hiểm mất. Ðó là cái bệnh dịch hạch do loài chuột chúng tôi mang tới, mỗi khi có nhiều chuột chết quá. Thì dùng một cái, quả nhiên như thế. Và ông mèo là nạn nhân đầu tiên. Ông lăn quay ra chết”...
“Có một người chết, người ta thử, biết chết về bệnh dịch hạch, nhất là sau khi lục ra cái đám bảy con chuột nhắt kia, người ta lại càng tin lắm...”. “Bấy giờ người ta mới bơm vào những làn khói độc. Khói bay đến đâu, chuột ngửi phải, hắt hơi một cái là lăn quay ra chết. Họ tẩy uế cả khu phố và bỏ hoang với hơi khói độc như vậy đúng một tháng...”. “Tính ra, đến hơn bốn trăm con chuột bị trúng độc mà chết. Riêng có một mình tôi thoát nạn”.
“Chiều hôm đó, đứng ở một căn gác, vọng về phía dãy phố bị hun khói độc, tôi khóc mà nói rằng: ... Thù nầy là thù không dội trời chung. Cộc tôi khắc cốt ghi tâm, ăn cay nuốt đắng mà ghi nhớ trong lòng. Từ nay, Cộc tôi quyết coi những quân thù mõm vuông đuôi ngắn kia là kẻ thù số một”.
 
* Con Chuột Mù của Bùi Hiển. Nhà văn Bùi Hiển với tập truyện đầu tay Nằm Vạ, Ðời Nay - Hà Nội ấn hành năm 1941. Từ năm 1951 trở đi những tác phẩm của ông có tính cách tuyên truyền nên không có giá trị về văn chương. Ngay tập truyện Năm Vạ của ông cũng bị phê phán “tẻ nhạt, trì trệ và ốm yếu trong cuộc sống của những người tiểu tư sản nơi tỉnh nhỏ” nên khi tái bản lần thứ hai trong năm 1957, trong tám truyện ngắn, bỏ ba truyện cũ để thêm vào bốn truyện mới. Xuất bản lần thứ ba vào năm 1984, thêm vào năm truyện mới để cho thấy quan điểm của ông về cuộc sống và xã hội trong thời tiền chiến. Nằm Vạ được lưu hành bây giờ không còn nguyên vẹn hình hài của Nằm Vạ xa xưa.
Con Chuột Mù xuất hiện vào thời tiền chiến. Với nhân vật được nhân cách hóa trong gia đình loài chuột như trong gia đình loài người. Câu chuyện rất cảm động. Ðôi vợ chồng nhà chuột sinh hạ được năm đứa con. “Hai vợ chồng làm ăn ky cóp, cốt nuôi năm đứa con thơ. Chúng lớn dần, rồi, quên hết công cha nghĩa mẹ, bỏ đi lập chốn ở riêng”.
Thằng Cả cưới vợ rồi nói với ông bà dọn đi, ông ngơ ngác, bà òa khóc, năn nỉ ở lại nhưng vì nghe lời vợ xúi nên phải đi. Rồi thằng Hai, thằng Ba cũng bắt chước thằng cả.
Thằng Tư từ nhỏ “đi lêu lổng với những tụi chuột con du thủ du thực hàng phố” nên mất tích. “Bà buồn phiền, đêm ngày thở dài thở ngắn, rồi lâm bệnh mà từ trần”. Ðể lại đứa con út hai tháng và cha chuột tận tình nuôi đứa con thơ cho đến khi trưởng thành lại đi tìm vợ cho con.
“Một đêm, khi kiếm ăn trong bếp, ông gạp một cô gái chuột. Cô trông cũng lanh lẹn, chạy nhảy lăng xăng. Gặp ông giữa đường, cô nếp về một bên nhường bước và chào: “Lạy cụ ạ”.
Ông lấy làm ưng ý, nhưng còn muốn xét kỹ hơn, ông lấy giọng phều pháo nói: “Không dám, chào cô. Ta vừa suýt bị người họ bắt được, ta nhanh chân chạy thoát nhưng bị đánh một đòn rất nặng, bây giờ không biết làm thế nào mà lê được về hang đây”.
Cô gái đáp: “Cháu xin sẵn lòng dắt cụ”. Cô chìa đuôi cho ông ngậm rồi thủng thỉnh bước”.
Ông lân la hỏi quê quán và gối thiệu thằng Út của ông vơi cô chuột. Ðám cưới được tổ chức linh đình vì ông táo bạo đánh cắp thức ăn để chiêu đãi. Vợ chồng thằng Út ở với ông với mái ấm gia đình trong hang.
“Chị chuột tỏ ra người dâu tốt. Siêng năng, cần mẫn, chị lại vốn thùy mị, nết na. chị biết kính cha, một điều thưa, hai điều bẩm... Chị thường bào ông chuột: “Cứ để chúng con làm nuôi, cha đã về già, gân mòn sức yếu, chạy nhong nhong cho thêm mệt””. Nhưng cha chuột còn sức nên không muốn nhờ vả con dâu lo cho mình và đêm đêm tung hoành khắp nhà.
Thằng ở rất ghét ông vì ông mưu trí chôm cá, thịt nên bị bà chủ cốp vào đầu, cúp lương nên quyết tâm bắt cho được. Sau một lần bị thẳng ở bắt được, tưới xăng rồi buộc vào cột nhưng chuột ông cắn được giây chạy thoát nhưng bị thương tích. Cô dâu khuyên ông ở nhà để con cái chăm sóc nhưng ông không muốn sống nhờ vả.
Thằng ở mang về con mèo tam thể to béo nhưng ông chuột khôn ngoan, tinh quái còn dám đùa với mèo. Thằng ở làm cái bẫy nhưng chuột ông biết nên né tránh rồi vô tình méo bị sập bẫy, đau quá nên bỏ đi. Thằng ở giận quá nên tìm cách bắt cho được. Thế rồi cha con nhà chuột bị thằng ở dùng thạp gạo làm mồi nhử lừa ba cha con lọt bẫy, chuột ông liều mình để cứu hon và dâu chạy thoát, chuột ông bị bắt, sẵn dầu cường toan, đổ lên đầu cha chuột rồi ném vào thùng rác. Cha chuột chết đi sống lại nhưng mắt bị mù và tìm cách lần về hang.
“Rồi từ đó về sau, cha chuột tàn tật đã thành ra một kẻ bỏ. Ông không làm được gì nữa, ngoài sự gây nên gánh nặng cho hai con. Và chị chuột, từ khi nhận thấy rằng mình sẽ phải làm lụng thêm để nuôi một cái xác thừa, bỗng nhiên đổi thái độ. Suốt ngày chỉ nói bóng gió này khác, nhiếc cái “lão già” sao không chết đi cho rảnh còn báo hại người ta”.
Chị chuột đẻ được bốn đứa. Nói với ông: “Từ này, tôi giao cho ông trông nom chúng. Chúng tôi đi kiếm ăn vắng, ông phải canh giữ con tôi cho chu đáo”” Nhưng chuột ông bị mù mà lũ cháu càng ngày càng tinh nghịch, làm tình làm tội ông. Chị chuột còn bênh con và nặng lời với ông. Chuột ông cam phận số trong sự tủi nhục và đau khổ nhưng vẫn sống và chị chuột xem ông là kẻ báo hại. Thằng Út thương ông như sợ vợ nên không dám can thiệp nào. Lũ cháu bày ra nhiều trò tinh nghịch để hành hạ ông cho vui.
Thế rồi “Mới sáng, trong gia đình đã xảy ra cuộc đại biến. cả nhà đang quây quần, bỗng nghe một nùi cay, tỏa đầy làm khó thở và chảy nước mắt”. Người ta xông khói vào hang và chận ở hai đầu hang. Trong thời gian chuột ông bị mù, ở trong hang, có đào thêm cái ngách bị chị chuột nhiếc mắng đại nghịch, ở không nên đào xới thêm dơ bẩn, giờ nầy chuột ông sử dụng cái ngách nầy để con cháu ẩn náu vào đó.
Phần chuột ông, trước cơn nguy biến “Ðứng dựng thẳng nơi cửa ngách, lấy thân mình ngăn khói... Thấy hun khói không công hiệu, người ta do cửa hang rót dần xuống một nồi nước sôi. Con chuột mù bỗng nhiên nghe một luồng nóng bỏng trên lưng. Ông giật mình, cố nén tiếng kêu, ông vẫn giữ vững... Ông vẫn giữ vững, quyết tâm đem thân mình ngăn cái chết đang dọa dẫm tất cả gia đình, dù có hy sinh sự sống ông cũng không từ.
Nước đổ tràn hang, bỗng ùa vào trong ngách tàn nhẫn thúc đẩy mình ông. May sao không khí bị ép trong ngách ngăn nước lại. Nước chỉ lên được có nửa chừng, trào lên trút xuống lập bập, nhồi lắc con chuột mù, bây giờ chỉ còn là một cái xác chín bấy, nhăn nhở nhe hàm răng nhỏ trắng phau”.
Dùng hình ảnh con chuột để nói lên sự chịu đựng, hy sinh và nhẫn nhục, cam phận sự dày vò, bạc đãi của con, cháu khi bị tàn tật... lúc lâm nguy, tinh thần cao cả của bậc sinh thành, đem cả mạng sống để bảo vệ con cháu được sống còn.
 
* Con Chuột của Linh Bảo. Nhà văn Linh Bảo năm nay ngoài tuổi bát tuần. Bà là chị ruột nhà văn Minh Ðức Hoài Trinh. Năm 1945 bà xuất dương và trong nhiều thập niên, bà sống ở Pháp, Anh, Nam Kinh, Thượng Hải, Quảng Châu... Nhân viên Lãnh Sự quán Việt Nam tại Hồng Kông. Dạy Việt ngữ trường Sinh Ngữ Quân Ðội, Monterey, California trong nhiều thập niên. Tác phẩm đã xuất bản: Gió Bấc (1953), Chiếc Áo Nhung Lam (1953), Tầu Ngựa Cũ (1961 - Giải thưởng Văn Chương Toàn Quốc 1962), Những Ðêm Mưa (1961), Con Chồn Tinh Quái, (1967), Những Cánh Diều (1971) và Mây Tần (1981)... Bà có sở trường khi viết về loài vật, tác phẩm Con Chồn Tinh Quái trước năm 1975, đăng tải nhiều kỳ trên tạp chí Văn Học đã một thời thu hút độc giả. Truyện ngắn Con Mèo Trắng của bà viết năm 1985 rất dễ thương nói lên tình cảm của cô Lan đối xử với con mèo trắng như cô Liễu với Bcah nương nương của Ngọc Giao. Truyện ngắn Con Chuột trong tác phẩm Những Cánh Diều, thể hiện tính nhân bản trong tâm hồn người viết.
“Bà Bình là một bá góa, làm nữ khán hộ cho một phòng bệnh tư. Mỗi ngày bà đi làm từ 8 giờ cho đến 5 giờ chiều”. Bà ở một mình trong căn nhà có vườn tược. Cửa lớn lúc náo cũng đóng kín, tường cứng như đá và cửa sổ có màng lưới bao kín. Một hôm trời nóng, bạn bè đến chơi, hút thuốc, khói đầy nhà, bà Bình mở toang cửa, trong lúc chú chuột Nhắt đi lang thang ngoài vườn tìm chỗ định cư, có dịp chui vào nhà”. Sau một tuần lễ, chuột nhắt biết rõ giờ giấc của bà Bình, được sa vào bao gạo, no nê phủ phê, ngay nấy qua ngáy khác. Nhưng rồi “Dù mắt bà Bình hơi kém bà cũng trông thấy những bết đen nho nhỏ trong bao gạo. Những chấm đen nầy chứng tỏ có một vật gì đã ăn vụng gạo và đề sự tiêu hóa lại”. Bà Bình cột chặt bao lại và bà phát hiện cái bao bị rách một lỗ nhỏ, bà nghĩ ngay đến thủ phạm là chuột. Bà xách bao gạo cho vào cái hộp lớn có nắp và đậy kín, lục tủ, thấy có giấy vụn nát mà Nhắt làm tổ ấm, bà cẩn thận đóng kín mọi tủ. Từ đó, bà Bình bận tâm vì nghĩ đến cách bắt chuột.
“Vốn tính tiết kiệm, bà Bình không muốn mua một cái bẫy để dùng chỉ có một lần” nên bà suy nghĩ mãi nhưng không ra nên thực hiện cách nhử chuột, và “lúc bà về đến nhà, việc trước nhất là lấy một nắm gạo để vào góc tủ”... Rồi suốt một tuần lễ “Con chuột bắt đầu ăn những hạt gạo của bà một cách đầy tín nhiệm”.
Bà Bình chợt nhớ đến câu chuyện ngoại quốc đã đọc từ lâu và nghĩ ra cách thức hiện cái bẫy theo sáng kiến vừa tiện lợi và không tốn kém gì cả.
“Bà Bình lấy một cái thau đổ nước vào độ nửa thau. Bà lấy giấy bao miệng thau lại, cột dây chằng thật chặt. Ngay chính giữa, bà cắt một lỗ tròn nhỏ, trên miếng để một miếng giấy bóng thứ nhẹ và mỏng, trên tấm giấy bà để vài hạt gạo”.
Bà Bình đem cái thau để vào chỗ nằm gạo hằng ngày. “Hai ngày đầu, gạo mất nhưng miếng giấy bóng vẫn còn nằm yên, bất động. Ngày thứ ba, cả giấy lẫn gạo đều lọt qua cái lỗ con nhưng chuột thoát nạn”. Bà Binh không tin cái bẫy nầy thành công nhưng vẫn tiếp tục, và “Chiều hôm ấy, đi làm về bà Bình trông thấy cả giấy lẫn gạo và con chuột đều ở trong thau nước. Con chuột bé tí chỉ bằng ngón tay, mặt mũi trông ngây thơ lương thiện quá làm bà Bình đâm ra hối hận đã giết nó. Giá bà bắt sống nó được chắc bà thả ra một cánh đồng xa cho nó... Bà Bình bùi ngùi vớt con chuột ra chôn dưới gốc cây hồng, trên mả bà chọn những viên đá cuội sạch sẽ làm thành một nấm mồ xinh xinh”.
Không còn con chuột, cuộc sống tỉnh lặng trở về với nỗi cô đơn. “Bây giờ con chuột chết rồi, thí ra giữa bà và nó đã có cảm tình quấn quít nhau từ hồi náo bà không hay... Bà nhớ nó và đâm ra hồi tưởng lại những lúc nó còn sống, lúc bà đi làm thí nó giữ nhà làm cho gian nhà co sinh khí. Bà về, nó biết thân biết phận nhường lại giang sơn cho bà”.
Bà Bình suy nghĩ và cảm thấy sự thông minh của mình cũng là sự nhầm lẫn “Tính lại thì thắng lợi không đem một niềm vui gì hết”...
Và “Tuần lễ sau, người ta trông thấy trước nhà có một cái biển “nhà cho thuê”. Trong đời thế là một con chuột nữa lại rơi vào bẫy...
 
* Dịch Hạch của Albert Camus. Tuyển tập trích đăng phần đầu của tác phẩm nầy trong giai đoạn bệnh dịch chuột bộc phát. Nhà văn Pháp Albert Camus (1913-1960) được giải văn chương Nobel năm 1957, cách nay tròn 50 năm, với tác phẩm L' Étranger (Người Xa Lạ). Albert Camus sinh tại Mondovia, Algérie, Bắc Phi. Cha là người Pháp, mẹ người Tây Ban Nha. Ông học triết tại đại học Alger, Algérie. Năm 20 tuổi bị lao phổi nên dở dang việc học hành, làm nhiều nghề để kiếm sống. Sau thời gian lập đoàn ca kịch, năm 27 tuổi làm phóng viên tờ Paris Soir... Ông theo Ðảng CS Pháp được một năm rồi bỏ, tham gia phong trào hiện sinh và cùng với Jean Paul Sartre trở thành cột trụ phong trào nầy về văn chương và triết học. Nhiều tác phẩm của ông được dịch sang Việt ngữ ở Miền Nam Việt Nam vào thập niên 60, nhà thơ Bùi Giáng đã dịch nhiều nhất như Trăng Tỳ Hải (1966), Bạo Chúa Caligula (1967), Ngộ Nhận (1967), Con Người Phản Kháng (1968) và Mùa Hè Sa Mạc (1968)...
Tác các phẩm của ông lúc sinh tiền: L'envers et l'endroit (1937), Noces (1939), L'étranger (1942), Le mythe de Sisyphe (1942), Le malentendu (1944), Lettres à un ami allemand (1945), La peste (1947), L'état de siège (1948), Actuelles: chroniques 1944-1948 (1950), Les justes (1950), L'homme révolté (1951), Actuelles II: Chroniques 1948-1953 (1953), L'été (1954), La chute (1956), L'exil et le royaume (1957), Actuelles III: Chronique algérienne 1939-1958 (1958), Discours de Suède (1958), Les possédés: pièce en trois parties adaptée du roman de Dostoievski (1959)...
Sau khi qua đời, các tác phẩm còn tiếp tục ấn hành: Carnets, mai 1935 - février 1942 (1962), Carnets, janvier 1942 - mars 1951 (1964), Essais (1965), a mort heureuse (1971), Le Premier homme (1994)...
Tác phẩm Dịch Hạch (La Peste) của Albert Camus ra đời năm 1947, mô tả tai hại khủng khiếp của bệnh dịch do loài chuột gây ra... Hoàng Văn Ðức dịch và Thời Mới xuất bản năm 1966.
Vào thế kỷ 14 (1347-1352), bệnh dịch hạch đã giết hại một phần tư dân số Âu Châu vẫn còn ám ảnh nhân loại, nhất là ở Âu Châu. Tác phẩm của Albert Camus đề cập đến bối cảnh ở Phi Châu, bên cạnh Ðịa trung hải. Oran là thành phố biển nghèo nàn của Pháp nằm ở phía bắc Algérie. Pháp xâm chiếm từ năm 1830 và trở thành thuộc địa của Pháp. Vào tháng Tư ở thập niên 1940, xuất hiện xác chuột chết trên đường phố. Ban đầu, tưởng là trò nghịch ngợm của bọn trẻ, nhưng mỗi ngày số lượng chuột chết tăng dần, mọi người lo sợ. Rồi đột nhiên xuất hiện người chết. Căn bệnh lây lan rất nhanh và số tử vong mỗi ngày tăng vọt khiến cư dân thành phố hốt hoảng. Bác sĩ Bernard Rieux, dấn thân vào cuộc chiến đấu với bệnh dịch để cứu bệnh nhân nhưng vợ ông nhiễm bệnh và khi chết cũng không được gặp. Dịch hạch đã biến Oran trở nên thành phố chết, bị tê liệt, kinh hoàng và khủng khiếp.
“Chính vào giữa năm đó là gió thốc nổi lên và thổi liên miên mấy ngày trong thành phố bị nhiễm bệnh... Ngay bên trong thành phố, người ta có ý cô lập vài khu đặc biệt có nhiều người mắc bệnh và chỉ cho phép ra khỏi khu đó những người đàn ông mà công việc thực cần thiết thôi... Theo tin tức dò hỏi, đấy là những người khi bị cô lập trở về, đau đớn và khổ sở đến điên cuồng, đem đốt nhà mình trong ảo tưởng là giết chết được dịch hạch trong đó...”.
Lúc đầu, người chết còn chôn cất nhưng khi nghĩa trang không còn đất nên phải hỏa táng. “Dân cư trong thành phố bây giờ là những người ngủ mà vẫn tỉnh, chỉ thực ra thoát khỏi số phận của họ trong những lần thưa thớt họa hoằn trong đó, về ban đêm, vết thương bề ngoài đã khép miệng của họ bất thần lại bung ra lại. Rồi giật mình thức giấc dậy, họ mới sờ qua hai mép vết thương đang bị day dứt với một thứ đãng trí, và trong thoáng một giây tìm thấy sự đau khổ của họ... Sáng ngày ra, họ lại trở lại với dịch hạch, nghĩa là với những việc làm quen thuốc nhàm chán...”. Và, sự chia ly, ban đầu còn bịn rịn, lôi kéo nhưng rồi dịch hạch tung hoành, tác quái làm mọi người kinh hoàng, hốt hoảng và không còn tâm trí để nghĩ về người thân xa cách mà luôn luôn ám ảnh bệnh dịch với bản thân!
Tác phẩm xoay quanh bệnh dịch với năm chương và khép lại khi Bác sĩ Bernard Rieux nhận được điện tín người vợ qua đời trong tai họa nầy. Và, với nguyên bản tiếng Pháp, đã ấn hành năm triệu bản. Tác phẩm nầy được dịch ra nhiều thứ tiến trên thế giới.
 
* Sau Trận Dịch Hạch của Dương Nghiễm Mậu. Nhà văn Dương Nghiễm Mậu đã bước sang tuổi thất thập. Ông đã được Giải Thưởng Văn Chương Toàn Quốc năm 1966. Sau tháng 4 năm 1975, ông bị bắt trong đợt Văn Nghệ Sĩ, và từ đó, sống ẩn dật trong suốt những thập niên qua tại Sài Gòn.
Tác phẩm đã xuất bản: Cũng Ðành (1963), Gia Tài Người Mẹ (1964), Ðêm (1965), Ðôi Mắt Trên Trời (1965), Tuổi Nước Ðộc (1966), Ðêm Tóc Rối (1966), Sợi Tóc Tìm Thấy (1966), Phấn Ðấu (1967), Nhan Sắc (1967), Kinh Cầu Nguyện (1968), Ngày Lạ Mặt (1968), Gào Thét (1968), Ðịa Ngục Có Thật (1969), Quê Người (1970), Ngã Ðạn (1970), Con Sâu (1971), Tên Bất Lực (1972), Thời Chiến (1972)... Trong thời gian qua, Công ty văn hóa Phương Nam ấn hành bốn tác phẩm của ông nhưng sau đó bị vài bài viết trên báo trong nước đả kích, vừa phát hành được một tuần thì có lệnh thu hồi! Với bản tình trầm lặng, nhà văn không có ý kiến.
Dương Nghiễm Mậu tạo dựng cốt truyện rất lạ vì phần kết của truyện ngắn nầy tác giả viết “Tôi viết câu chuyện nầy theo một người điên vừa kể lại, chẳng hiểu có phải người điên nầy là lạo Chệt không, có khi tôi thấy hắn bắt chuột ăn nhưng dịch hạch vẫn còn đang lan tràn. Thật tối phi lý”.
“Lão Chệt ngồi trong bóng tối ngó ra, lão mở lớn đôi mắt tưởng như đã kèm nhèm nhưng thật còn tinh tường lắm. Từng đám cỏ động nhanh từng vệt rồi lại biệt tăm. Tiếng kêu của đàn chuột đang từ chỗ nầy sang chỗ khác rủ nhau đi kiếm mồi, mùi cua nướng lão Chệt còn ngửi thấy thơm phức chứ riêng gì đàn chuột; giá như một lúc khác, với những con cua nướng đó, thêm vài xị đế chắc đã làm lão say sưa quên hết sự đời”.
Lũ chuột thấy mồi ngon, gọi nhau để tụ về xơi trong lúc lão Chệt có dụng ý giăng chiếc lưới sập. “Lão mỉm cười như thương hại lũ chuột, và cũng đắc ý”.
Có hai con chuột chạy vào chân lão nhỡn nhơ nhưng lão đợi chờ cho đến khi “Lão thấy lũ chuột đã chạy về đủ mới kéo chiếc lưới ụp xuống vây kín lấy lũ chuột... bao nhiêu con nằm trong lưới cho lão kéo về”. Lũ chuột nằm trong lưới kêu rộn. Lão lên tiếng: “Thôi mà các con, yên một chút ta mang về cho ở dinh thự rộng lớn lắm, rồi mai sẽ được lên xe đi Chợ Lớn ở tiệm. Ðừng kêu la, cựa quậy làm gì cho phí sức đi”.
Mang lưới chuột về nhà, lão Chệt đã dùng chuột làm thức ăn và có món cho là vị thuốc ghê gớm. “Lão nắm lấy đầu chú chuột bóp mạnh một cái. một tiếng kêu chít rồi tắt, giữa hai ngón tay, đầu chú chuột dẹp dí tóe máu và óc, lão vứt bỏ vào góc nhà, lão đưa hai ngón tay lên miệng mút mút, lấy một chút lầy nhầy của máu và óc ra chiều khoan khoái rồi lão vào trong bàn kiếm rượu để hớp một hớp. Lão vấn một điếu châm lửa hút”.
Lão suy nghĩ, phê phán về ông cha mình kém thông minh đã không biết suy tính làm ăn và kỹ nghệ thịt chuột mà lão mơ tưởng đến tương lai hão huyền đó. Trong lúc đó, thằng Lai, con trai ông, tằng tịu với con Miên, con Hai Ếch. Lão Chệt bắt gặp, la rầy thì “Lai thu hết sức đẩy, Lão Chệt ngã vật xuống, đấu đập vào cột nhà, nằm không động đậy, Hôm sau, khi lão Chệt tỉnh dậy thì Lai đã mang Miên đi Sài Gòn, Chú Hai Ếch đi tìm con gái cả ngày không gặp, buồn rầu mở la de uống hết chai nầy sang chai khác say mềm”.
Lão Chệt buồn tình sống với đàn chuột trên ba trăm con nhốt trong ba chuồng chuột lớn. Khi nào đói, lão bắt chuột ăn thịt. Ðàn chuột cũng đói, con nào sắp ngất ngư, lão thả ra và cũng quanh quẩn trong nhà.
Bỗng một hôm, có con chó hoang đến nhà lão Chệt, lão nướng thịt cho chó ăn rồi lão sợ đến ngày náo không còn thức ăn, con chó sẽ đè lão ra mà nhai nên lão giết con chó “...lão mổ bụng moi bộ gan nướng ăn, lão thấy tiết chó nóng và đặc sánh, lão thấy cổ khát nên vốc uống. Lão ưng ý về món ăn lạ kỳ. Lão vứt bỏ chó ra giữa nhà, lũ chuột kéo đến ngoạm”. Tách biệt lối xóm, lão Chệt cứ quanh quẩn trong nhà, không giao dịch với ai.
Trong xóm lại xảy ra vài cái chết mà người ta cho là bệnh dịch. Chuột càng ngày càng nhiều mà không thấy lão Chệt ra tay hành nghề nên chuột chạy cùng khắp các ngõ.
“Một hôm có một đoàn người mặc áo trắng về với một chiếc xe, họ căng một nhà bạt, họ mang ống thuốc đi xịt vào mọi nhà, từng đàn chuột lăn ra chết được nhặt vào một chỗ để đốt, mọi người bắt buộc phải chích thuốc và được tập trung vào một chỗ.
Thằng Lai dẫn vợ nó về vào lúc đó, Miên đã có mang được mấy tháng và bị dẫn đến chỗ tập trung”. Không thấy bố, Lai bèn quay về nhà cũ thì cảnh tượng “...trong nhà chuột ở lúc nhúc, lão Chệt nằm ở ổ rơm rên khì khì, tay lão còn cầm cả một con chuột như mới nhai dở, môi mép lão ra máu me, quần áo rách rưới, chuột bò hiền từ ở cổ tay, rúc cả trong quần áo”.
Lai mang lão Chệt ra khỏi ngôi nhà, bác sĩ thấy thất kinh và cũng không ngờ trong mấy tháng qua lão Chệt sống ở đó mà không chết. Thấy chuột cũng là món lợi nên thằng Lai tình nguyện đi bắt chuột nhưng nó không mang ra bờ mương đốt mà tìm cách lén đem đi xa, được vài chuyến thì Lai ngã bệnh chết. Rồi có nhiều người trong làng lăn ra chết, trong số y tá cũng có người chết nên bác sĩ bó tay.
Tin tức vùng dịch hạch được lan truyền, mọi người trong vùng không được phép ra ngoài, đường tiếp tế bị cắt đứt và người ta nghĩ đến sự thiêu hủy vùng bị dịch. Trong đoàn y tế họ cũng sợ nên nêu ra nhiều lý do để bỏ đi và “...trước khi đoàn y tế bỏ đi, vị bác sĩ đã yêu cầu mọi người ăn một bữa cơm chung với các bệnh nhân”. Sau đó bốn người y tá đi khỏi nhưng rồi họ quay lại. Ðến khi vùng nhuốm bệnh chỉ còn hai người là vị bác sĩ gần như mất trí và lão Chệt bò lê bắt chuột ăn. Và “Lão Chệt chờ đợi, khi vị bác sĩ nhắm mắt, lão cầm cục đá đập vào đầu, ông ta lăn ra chết... Lão chuột đã tìm cách bỏ vùng dịch thoát đi”.
 
Truyện mèo chuột khép lại ở đây. Ở trong nước thì mèo có khi bị thịt để làm món nhậu của bợm nhậu cùng quẫn và chuột đồng cũng là món ăn khá phổ biến. Tại Hoa Kỳ thì mèo được ưu ái nhất trong nhà như chó và ít khi thấy bóng dáng con chuột và ai “thịt” thì phạm luật nhưng với con người thì chuyện “mèo chuột” khá thịnh hành.
                                    Vương Trùng Dương
 
 
 
                                        Trở lại trang nhà >>>
 
 
Vương Trùng Dương  Email: caliweekly@yahoo.com - vuongtrungduong@yahoo.com