Văn Học
Nghệ Thuật
Sinh Hoạt
Phiếm Luận
Trang Thân Hữu Thơ - Văn
Diễn Đàn
Giải Trí
Thư Tín
 
 
       Từ nhân Lư Thanh Chiếu đời Nam Tống
                                        Nguyễn Ngọc Tuyết
 
 
Lư Thanh Chiếu (1084 - 1151) là nữ sỹ đời Nam Tống. Bà hiệu là Dị An cư sĩ người đất Chương Khâu - Tề Châu (nay thuộc Sơn Đông). Bà là con gái của học giả nổi tiếng đương thời Lư Cách Phi và thân mẫu cũng xuất thân trong gia đình danh giá. Lư Thanh Chiếu từ nhỏ đă hấp thụ được một nền văn hóa tốt từ song thân. Từ lúc c̣n là thiếu nữ bà đă làm thơ, từ có tiếng, từ của bà phần lớn viết về cuộc sống rất b́nh dị, hoạt bát lư thú, điệu vần trong sáng, t́nh cảm tự nhiên trong phong cảnh xinh tươi, hữu tình
Một hôm Lư Thanh Chiếu cảm thấy đầu hơi nằng nặng, bà nhớ lại đêm qua mưa thưa gió lớn, một ḿnh độc ẩm vài ly, hơi ngà ngà say, nằm xuống là không c̣n biết ǵ nữa. Phải rồi, cây hải đường ngoài sân sau một đêm mưa gió, giờ đă ra sao rồi? “ Chẳng sao cả, như hôm qua” - Người thị nữ trả lời.  Bà đến bên cửa sổ nghiêng ḿnh ra xem và tự vấn: “Làm sao như hôm qua đựơc”. Bà hơi suy tư rồi lấy bút ra viết nên bài từ:
 
Như Mộng Lệnh – Lư Thanh Chiếu
 
“Tạc dạ vũ sơ phong tụ,
Nồng thụy bất tiêu tàn tửu.
Thí vấn quyển liêm nhân,
Khước đạo hải đường y cựu.
Tri phủ? Tri phủ?
Ưng thị lục ph́ hồng sấu.”
 
Như mộng lệnh
 
Tối qua mưa nhẹ gió to
Ngủ say chưa tiêu men rượu
Hỏi thử người treo rèm
Lại bảo  hải đường như cũ
Nào phải? Nào phải?
Chừng hẳn xanh mập đỏ gầy.
(Người dịch - Ngọc Tuyết)
 
Như Mộng Lệnh
 
Tối qua gió mạnh mưa thưa
Uống say ngủ giấc cũng vừa hết đêm
Ướm lời hỏi kẻ treo rèm
Hải đường như cũ bên thềm hôm qua
Biết chăng? Có biết chăng à!
Một màu xanh lá c̣n hoa đỏ gầy.
(Người dịch: Ngọc Tuyết)
 
Năm 18 tuổi, bà kết hôn với con trai Tể tướng Triệu Đĩnh Chi, tức Thái học sinh Triệu Minh Thành, có thể nói đây là mối nhân duyên tốt đẹp nhất thời Bắc Tống. Triệu Minh Thành là một nhà khảo chứng kim thạch học nổi tiếng. Lúc đầu, bà cùng chồng chuyên tâm vào nghiên cứu, sưu tập, chỉnh lư Thư hoạ, kim thạch, tâm đầu ư hợp yêu thương nhau. Triệu Minh Thành đi làm quan nơi xa và sống trong hoàn cảnh đó, Lư Thanh Chiếu cảm thấy cô đơn, buồn tẻ đă viết rất nhiều những bài từ miêu tả cảnh ly biệt, nhớ thương, ao ước có cuộc sống t́nh cảm yêu thương bất tận. Những bài ấy cũng làm cho chồng bà ghen v́ quá giàu t́nh cảm.
 
Tuư Hoa Âm – Lư Thanh Chiếu
 
Bạc vụ nùng vân sầu vĩnh trú,
Thuỵ năo tiêu kim thú
Giai tiết hựu trùng dương,
Ngọc chẩm sa trù,
Bán dạ lương sơ thấu.
 
Đông ly bả tửu hoàng hôn hậu,
Hữu ám hương doanh tụ.
Mạc đạo bất tiêu hồn,
Liêm quyển tây phong,
Nhân tỷ hoàng hoa sấu.
 
Tuư Hoa Âm
 
Khói nhạt mây dày ngày ủ rũ
Hương  ở ḷ kim thú
Tiết trời dịp trùng dương
Màn the gối ngọc
Đêm khuya lạnh len vào
 
Bờ đông nâng chén sau hoàng hôn
Tay áo ủ đầy hương
Đừng nói cảnh chẳng tiêu hồn
Rèm cuốn gió tây
Người so hoa vàng vơ.
(Người dịch: Ngọc Tuyết)
 
Tuư Hoa Âm
 
Sầu cao đùn khói như mây
Ḷ vàng đă nguội hương bay thoảng hồn
Trùng dương cảnh đẹp núi non
Nửa đêm chăn gối chỉ c̣n lạnh len
 
Phía đông bờ giậu buồn chen
Hoàng hôn sau buổi muộn phiền uống say
Giấu hương trầm ở khăn tay
Lẽ nào thương nhớ chẳng đầy hồn ai
Gió tây thổi nhẹ rèm lay
Chợt nh́n thấy dáng người gầy hơn hoa.
(Người dịch: Ngọc tuyết)
 
Thế rồi, cuộc sống b́nh yên tốt đẹp đă bị chiến tranh tàn phá. Năm Tĩnh Khang (1127) thời Bắc Tống, quân Kim đánh Tống, bà theo chồng chạy xuống phương Nam. Trong chiến loạn Lư Thanh Chiếu không những mất đi 15 xe “kim thạch thư họa” mà bà đă cùng chồng chắt chiu bao năm nhịn ăn nhịn mặc để thu thập được và bà đă mất cả người chồng yêu quư. Từ đó cuộc sống bắt đầu khốn khổ, thân gái dặm trường, phiêu bạt, tinh thần càng lúc càng suy sụp cùng những trăn trở, nên viết khá nhiều bài từ bày tỏ sầu bi trong bối cảnh  ảm đạm này. 
Một ḿnh đối diện với màu tranh tối sáng của bầu trời, một cơn gió đêm thổi đến làm lạnh cả người, Lư Thanh Chiếu bên cửa sổ mới quay đầu nh́n ly rượu ḷng buồn man mác, không thể nào uống nổi. Trên không, hàng nhạn từ phương Bắc bay về Nam tiếng nhạn kêu vang vọng cả không trung. Bắc nhạn bay về Nam ḷng bà đau như xé: Quê hương của ta, Tề Nam ta ơi! Một cơn gió thổi thốc đến làm những đoá cúc vàng trong vườn rơi đầy mặt đất, xót xa thay cho những cánh hoa.
Bà chẳng buồn quét dọn dẫu rằng mặt đất đầy những xác hoa, vẫn lặng thinh đứng bên song cửa sổ để nghe trái tim ḿnh nặng trĩu. Trời càng lúc càng tối mưa đang lất phất, tiếng tí tách của mưa phát ra từ trên cây ngô đồng như đang nhỏ từng giọt vào ḷng bà khiến nỗi ray rứt, buồn đau như con nước thuỷ triều, ngọn đèn dầu được thắp sáng những bản thảo đầy bàn.
Nước mất nhà tan, Lư Thanh Chiếu chạy đến miền Nam, tinh thần hoàn toàn bị suy sụp, đả kích, tính t́nh càng âm trầm và cô đơn hơn, quả thật bà không biết những ngày như thế này phải làm sao? Bà viết rất nhiều thi, từ v́ chỉ có sáng tác mới giải bày được tâm tư t́nh cảm. Nhưng những bài thi, từ vào thời gian này đă mất đi sự xinh tươi, thánh thót cùng sảng khoái của ngày c̣n ở quê nhà, thay vào đó là những bi thương, nặng nề, sầu thảm… Vậy là, bà trút tất cả vào trang giấy những nỗi niềm, những sầu bi…
 
 Thanh Thanh Mạn – Lư Thanh Chiếu
 
Tầm tầm mịch mịch,
Lănh lănh thanh thanh,
Thê thê thảm thảm thích thích.
Sạ noăn hoàn hàn thời hậu,
Tối tan tương tức.
Tam bôi lưỡng trản đạm tửu,
Chẩm địch tha văn lai phong cấp!
Nhạn quá dă,
Chính thương tâm,
Khước thị cựu thời tương thức.
Măn địa hoàng hoa đôi tích,
Tiều tuỵ tổn,
Như kim hữu thuỳ kham trích?
Thủ trước song nhi
Độc tự chẩm sinh đắc hắc!
Ngô đồng cánh kiêm tế vũ,
Đáo hoàng hôn, điểm điểm tích tích.
Giá thứ đệ,
Chẩm nhất cá sầu tự liễu đắc!
 
Thanh Thanh Mạn
 
Lần lần, giở giở
Lạnh lạnh lùng lùng
Cảm cảm thương thương nhớ nhớ
Thời tiết ấm lên lại rét
Càng thêm khó ở
Rượu nhạt uống đôi ba chén
Không chống nổi chiều về gió dữ
Nhạn bay qua
Đang đau ḷng
Lại đúng bạn quen biết cũ.
 
Chồng chất hoa vàng khắp chỗ
Buồn bực nỗi
Giờ đây c̣n ai bẻ nữa
Đen kịt nhường kia
Một ḿnh giữ bên cửa sổ
Cây ngô đồng gặp mưa bay
Buổi hoàng hôn thánh thót giọt nhỏ
Nối tiếp vậy
Ghê gớm sao, sầu kia một chữ.
(Người dịch: Nguyễn xuân Tảo)
 
Đây là bài từ “Thanh Thanh Mạn” nỗi tiếng của Lư Thanh Chiếu sau những ngày chạy xuống Giang Nam, nỗi nhớ thương cố quốc, t́nh cảm cô liêu u tịch, phong cách kín đáo thâm trầm, xót xa cho kiếp hồng nhan bạc mệnh. Mở đầu với 14 điệp tự đă nói lên được nỗi ḷng lúc âu sầu, uyển chuyển, lúc búc xúc, dồn dập nhảy múa khiến cho người đọc cũng như những nhà b́nh luận thi ca luôn khen tặng.
Sáng tác từ của bà gồm 2 giai đoạn: giai đoạn đầu thư nhàn, thoát tục; giai đoạn thứ hai ngậm ngùi, than thở cho thân thế của ḿnh, mang nhiều tính hoài niệm. Xét về h́nh thức, bà thường dùng thủ pháp miêu tả trực tiếp, ngôn ngữ thanh tú, mỹ lệ. Luận về từ bà thường nhấn mạnh vào vận luật, chú trọng sự điển nhă, t́nh cảm, đề xướng. Từ trở thành một loại h́nh văn học riêng biệt, phản đối việc dùng thi pháp để làm Từ. Bà quan niệm từ khúc cần hợp luật, ư tứ thanh nhă, coi thơ và từ là hai thể loại hoàn toàn độc lập (biệt thị nhất gia). Bà cũng đồng thời là một nhà thơ nhưng sáng tác về thể loại này không nhiều, chủ yếu hướng vào đề tài vịnh sử, lời lẽ khẳng khái, không giống phong cách trong Từ của bà. Thi phẩm của bà cũng có những bài hào phóng như Tân Khí Tật, phong cách khẳng khái sôi sục, bày tỏ khí phách như bài:
 
Hạ Nhật Tuyệt Cú – Lư Thanh Chiếu
 
Sinh đương tác nhân kiệt,
Tử điệt vi quỷ hùng.
Chí kim tư Hạng Vũ,
Bất  khẳng quá Đông Giang.
 
Hạ Nhật Tuyệt Cú
 
Khi sống làm hào kiệt
Lúc chết làm ma hùng
Ngày nay nhớ Hạng Vũ
Giang Đông chẳng chịu qua.
(Người dịch: Ngọc Tuyết)
 
Hạ Nhật Tuyệt Cú
 
Làm người hào kiệt sinh thời,
Anh hùng khi chết ngàn đời thơm danh
Nhớ hoài Hạng Vũ nghĩa t́nh
Quá Giang không chịu thà ḿnh làm ma.
(Người dịch: Ngọc Tuyết)
 
Thi ca hùng tráng khí phách hào hùng, mà được một phụ nữ của xă hội thời phong kiến mượn lịch sử và sử dụng ngôn ngử thi ca để thể hiện nỗi buồn đau về việc Tống triều chạy về phương Nam không kháng chiến chống giặc, quả là hiếm có và đáng quư biết bao.
Lý Thanh Chếu trải qua hai giai đoạn thăng trầm của triều đại nhà Tống: Bắc Tống (960 - 1127) và Nam Tống (1127- 1279). Lư Thanh Chiếu đă trở thành một từ nhân quan trọng trong phái uyển ước của thời Nam Tống bấy giờ, được mọi người cho là từ nhân phái uyển ước chính tông.
Từ của Lư Thanh Chiếu đựoc khen tặng là “Dị An Thể” một ngọn cờ riêng độc nhất của thời lưỡng Tống. Từ của bà chỉ c̣n sót lại hơn 20 bài, song đều là những châu ngọc.  Các sáng tác của bà như: "Dị An cư sĩ văn tập ", "Dị An từ " đă thất truyền, người đời sau thu thập lại soạn thành cuốn "Sấu Ngọc từ". Tới nay có cuốn "Lư Thanh Chiếu tập hiệu chú”. Tác phẩm của bà tuy không nhiều nhưng trong nền văn học sử Trung quốc, Lư Thanh Chiếu chẳng những là một tác giả vĩ đại trong nữ thi nhân mà c̣n là tác giả vĩ đại trong Tống từ.
 
                          Nguyễn Ngọc Tuyết – 12/04/08
 
 
 
                                        Trở lại trang nhà >>>
 
 
Vương Trùng Dương  Email: caliweekly@yahoo.com - vuongtrungduong@yahoo.com