|
|
|
Nhất Linh (1905-1963)
Vương Trùng Dương
(Nhà văn Nhất
Linh gắn liền với Tự Lực Văn Đoàn, có lẽ tên tuổi của ông được đề cập nhiều
nhất trong nhiều thập niên qua. Nhất Linh đă dày công đóng góp cho nền văn học
Việt Nam, thêá nhưng, bởi bất đồng chính kiến, trước đây CSVN đă phủ nhận giá
trị đó! Trong Tự Điển Văn Học (NXB Khoa Học Xă Hội – Hà Nội 1984) đă nói đến
ông với câu kết: “Con đường nghệ thuật đó buổi đầu c̣n chút ư nghĩa, song đă
sớm đi vào phá sản như một tất yếu” (sđd trang 113). Chân lư trở về với chân
lư, xóa bỏ quan niệm bảo thủ, hẹp ḥi; hiện nay rất nhiều tác phẩm ở trong
nước đề cập đến giá trị sự nghiệp sáng tác nhà văn Nhất Linh và nhiều tác phẩm
của ông cùng Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thạch Lam... trong Tự Lực Văn Đoàn cũng
được ấn hành.
Tưởng Niệm 40
năm ngày mất của Nhất Linh, Tạp chí Thế Kỷ 21, số tháng 7-2002, có nhiều bài
viết mới nhất của người thân trong gia tộc và văn hữu.
Trong buổi gặp
gỡ nhà văn Duy Lam vào thứ Hai 3-12-2003, ông cho biết đang sưu tập tất cả tài
liệu để viết về chân dung người cậu ruột của ḿnh, tác phẩm sẽ được ấn hành
trong tương lai. Năm 2004, kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Nhất Linh.
Về tiểu sử của
Nhất Linh và thành viên trong Tự Lực Văn Đoàn qua sách vở ghi lại hơi khác
nhau nên xin trích dẫn những bài viết có giao t́nh với nhà văn đă vĩnh biệt
cơi trần – VTrD)
Nhất Linh tên
thật Nguyễn Tường Tam, sinh ngày 25 tháng 7 năm 1905 tại huyện Cẩm Giàng tỉnh
Hải Dương. Nguyên quán làng Cẩm Phô, Điện Bàn, Quảng Nam. Ông nội Nhất Linh
trước đó làm Tri Huyện Cẩm Giàng, gọi là Huyện Giám. Ông chỉ có người con trai
duy nhất là Nguyễn Tường Nhu làm Thông Phán, gọi là Thông Nhu. Lập gia đ́nh
với bà Nguyễn Thị Sâm, có được 7 người con.
Trong quyển Hồi
Kư Về Gia Đ́nh Nguyễn Tường của bà Nguyễn Thị Thế (thân mẫu nhà văn Duy Lam),
ấn hành năm 1974 ở Sài G̣n: “Thứ tự gia đ́nh tôi theo đúng tuổi là anh cả
Nguyễn Tường Thụy sau nầy làm Tổng giám đốc bưu điện, sinh năm Quư Măo (1903),
anh hai Nguyễn Tường Cẩm, Kỹ sư canh nông, Giám đốc báo Ngày Nay, sinh năm
Giáp Th́n (1904), anh ba Nguyễn Tường Tam, Nhất Linh, Nhị Linh chủ trương Tự
Lực Văn Đoàn, sinh năm Bính Ngọ (1905), anh tư Nguyễn Tường Long, Tứ Ly, Hoàng
Đạo trong nhóm Tự Lực Văn Đoàn, sinh năm Đinh Mùi (1907), tôi Nguyễn Thị Thế,
sinh năm Kỷ Dậu (1909), em sáu Nguyễn Tường Vinh (Lân), Thạch Lam trong nhóm
Tự Lực Văn Đoàn, sinh năm Canh Tuất (1910), em bẩy Nguyễn Tường Bách, Bác sĩ,
sinh năm Bính Th́n (1916)” (trang 39). Trong thập niên 30, 40 anh em trong gia
đ́nh ông đă dấn thân vào văn học nghệ thuật, và theo ḍng thời gian, thế hệ
con cháu trong đại gia đ́nh ông đă hiện diện nhiều khuôn mặt văn nghệ, trở
thành truyền thống trong ḍng họ.
Thuở nhỏ, ông
theo học tiểu học tại Cẩm Giàng, học trung học tại trường Bưởi ở Hà Nội, năm
1923, ông đậu bằng Cao Tiểu, làm thư kư Sở Tài Chánh Hà Nội. Ông lập gia đ́nh
với bà Phạm Thị Nguyên, cũng lối xóm với nhau ở Hà Nội và tiếp tục theo học về
ngành Y và Mỹ Thuật, mỗi năm mỗi ngành rồi lại bỏ. Tuy là người theo Tây học
nhưng vấn đề hôn nhân, ông để cho thân mẫu quyết định, bà Nguyễn Thị Thế viết:
“Mẹ dục măi anh mới chịu đi coi. Mà có khó khăn ǵ đâu. Nhà cô ta ở ngay bên
nhà bác Ba bạn mẹ tôi... Đám cưới xong, mẹ tôi lại đi cân gạo với các bà bạn.
Anh Tam cũng thôi đi làm xin vào học trường Cao Đẳng Hội Họa. Chị Tam dọn hàng
bán cau ở ngay nhà...”.
Năm 1925, ông
bước chân vào làng văn với tác phẩm Nho Phong, và sau đó với tác phẩm Người
Quay Tơ.
Năm 1927, ông
du học tại Pháp. Theo nhà văn Duy Lam, chính phủ Pháp tài trợ một nửa cho con
cái các vị quan lại có mức sống trung lưu, một nửa do gia đ́nh. Năm 1930, ông
đậu bằng Cử Nhân Khoa Học Giáo Khoa (Lư Hóa) và trở về nước trong năm đó.
Trong tác phẩm
Văn Thi Sĩ Tiền Chiến của Nguyễn Vỹ, NXB Khai Trí – Sài G̣n 1969:
“Anh Phan
Thanh, cựu trợ giáo người Quảng Nam, nhân viên “Đại Hội Đồng Kinh Tế và Tài
Chánh Đông Dương”, và giáo sư Trung học Tư thục Nguyễn Văn Ṭng, giới thiệu
tôi dạy Pháp văn và Sử Kư ở trường ấy.
Đó là năm 1930.
Hầu hết những giáo sư cũ đều nghỉ hoặc đi dạy các trường khác. Ông Nguyễn
Tường Tam, tân Hiệu Trưởng, dùng những giáo sư mới của ông, trong số đó có
thầy giáo Trần Khánh Giư.
Trường cũng đổi
tên là “École Thăng Long”, ở góc đường Hàng Cột (rue de Takou), và đường Cửa
Bắc (Bd Carnot), ngó ngang bót Cảnh Sát Hàng Đậu (rue des Graines), tức là con
đường chạy ra Cầu Sông Cái (Bờ Sông).
Một năm sau,
người ta thấy rải rác trên các vách tường trong thành phố dán một tờ quảng cáo
lớn loan tin một tờ báo hài hước sắp ra đời, tên là “Phong Hóa tuần báo, Chủ
Nhiệm Nguyễn Tường Tam. Ṭa soạn và ban trị sự đặt tại trường Thăng Long, phố
Hàng Cót” (sđd trang126-127).
Theo Nhật Thịnh
trong quyển Chân Dung Nhất Linh th́: “Hồi Nhất Linh c̣n dạy trường Thăng Long,
ông để ư tới một bài khảo luận ngắn trên báo Văn Học, kư tên Bán Than. Chắc
anh chàng nầy có họ với ông Trần Khánh Dư đời Trần, tác giả bài:
Một gánh kiền
khôn ruồi xuống ngàn
Hỏi chi bán
đấy? gửi ông than
Đột nhiên ông
nhớ tới giáo sư Trần Khánh Giư, một người kín đáo, dễ thương, từ đó hai người
biết nhau. Nhất Linh thấy Khái Hưng có những khả năng hiếm có về văn chương.
Ông là con cụ tuần Trần Mỹ theo học trường Albert Sarraut, đỗ tú tài Triết
Học, có đủ điều kiện và thế lực ra làm quan, mà ông từ chối. Không chịu sống
đời lệ thuộc. Nhất Linh nhận thấy rơ điều đó”.
Theo Viễn Sơn
Nguyễn Tường Bách trong hồi kư Việt Nam, Một Thế Kỷ Qua: “Năm 1932, cùng một
số anh em, anh sáng lập tờ báo Phong Hóa có thể gọi là mở một thời kỳ mới
trong văn học. Cùng với số nhà văn tài hoa, anh thành lập Tự Lực Văn Đoàn,
đánh dấu sự phồn thịnh văn học. Năm 1935, tờ Ngày Nay được xuất bản. Năm 1936,
anh khởi xướng Phong Trào Ánh Sáng xây dựng nhà rẻ tiền cho người nghèo”.
Năm 1932, tờ
Phong Hóa phát hành hằng tuần vào ngày thứ Năm, không tạo được tiếng vang
trong làng báo. Hồi kư Trong Bếp Núc Của Tự Lực Văn Đoàn, nhà thơ Tú Mỡ viết:
“Bấy giờ, nhân dịp có tờ Phong Hóa của anh Phạm Hữu Ninh quản trị, anh Nguyễn
Xuân Mai, giám đốc chính trị, loại báo vô thưởng vô phạt, đang sống dở chết dở
v́ không ai buồn đọc, sắp sửa phải đ́nh bản. Anh Tam đề nghị với hai anh
nhượng lại tờ báo cho ḿnh làm chủ bút, hai anh vẫn đứng tên quản trị và giám
đốc chính trị làm v́, mỗi tháng lĩnh mấy chục bạc lương (tức là tiền cho thuê
báo). Tất cả đều hỉ hả: anh Ninh và anh Mai trút được gánh nặng mà khỏi đ́nh
bản; anh Tam sẵn có tờ báo thay cho tờ Tiếng Cười chắc là không được phép xuất
bản” (Tạp chí Văn Học số 5 tháng 6-1988).
Nhất Linh hiện
diện trên tờ Phong Hóa, số 14 ra mắt ngày 22-9-1932, dưới hàng chữ Phong Hóa
nơi trang đầu: Director politique: Nguyễn Xuân Mai, Administrateur: Phạm Hữu
Minh, Directeur: Nguyễn Tường Tam.
Trong hồi kư
của bà Nguyễn Thị Thế đă ghi rơ về giai đoạn nầy: “Sau khi đi Pháp về, anh Tam
dạy học ở trường Thăng Long Hà Nội được ít lâu, sau mở báo lấy tên “Tiếng
Cười” chủ tâm đem tiếng cười ra cho mọi người vui v́ thời bấy giờ nhiều người
khóc quá rồi. Nào văn bà Tương Phố khóc chồng, Đạm Thủy, Tố Tâm truyện cũng
lâm ly thảm thiết.
Tiếc thay chính
quyền lại không hiểu thiện chí ấy nên không cho phép, sau có người bạn nhường
lại tờ Phong Hóa (1932). Bao đêm anh Tam cặm cụi viết bài v́ lúc đầu chưa ai
cộng tác, họ lại lo ế không bán được, anh đề nghị nếu ế th́ cả nhà vừa đi vừa
rao bán cho kỳ hết mới chịu. Mẹ tôi bảo khó ǵ, nếu bán không hết, mang về
cho mợ gói cau càng tiện” (sđd Trang 116)... “Báo Phong Hóa ngày càng gia tăng
và số anh em cộng tác cũng nhiều , nhưng tiền vốn quá ít nên phải tiết kiệm”
(trang119)... “Báo bán chạy, các anh về nói với mẹ tôi gọi cổ phần hùn vốn mua
nhà in vừa in báo vừa in thuê sẽ lời nhiều. Thế là nhà in Ngày Nay ra đời”
(sđd trang 120).
Năm 1933, thành
lập Tự Lực Văn Đoàn gồm: Nhất Linh, Khái Hưng, Tú Mỡ, Thạch Lam, Hoàng Đạo, và
Thế Lữ.
Năm 1936 tờ báo
Phong Hóa bị đóng cửa, tờ Ngày Nay do anh ông là Nguyễn Tường Cẩm điều khiển.
Tờ báo có rất đông độc giả trung thành nhưng đến năm 1940, số phát hành chót
vào ngày 2-9-1940, thực dân Pháp ra lịnh cấm chỉ. Tháng 5-1945, tờ Ngày Nay
tục bản được vài tháng rồi đ́nh bản.
Theo Tú Mỡ:
“Báo Phong Hóa làm ăn phát đạt, số báo in càng ngày càng tăng. Lúc đầu gặp hồi
kinh tế khó khăn, mấy anh em đem hết tài lực làm việc quên ḿnh, không vụ lợi.
Bốn anh em giường cột trong ṭa soạn (anh Tam, anh Long, anh Giư, anh Thế Lữ)
t́nh nguyện chỉ lĩnh mỗi tháng 50 đồng đủ sống, để dành tiền lăi làm vốn cho
báo phát triển...
Nhưng... đến
cuối năm đó, tính sổ mới ngă ngửa ra: lời lăi chia theo số vốn, phần lớn chui
vào két nhà tư sản. Anh bèn họp với anh em phải chấm dứt t́nh trạng “thằng
c̣ng làm thằng ngay ăn”. Không thể chơi với nhà tư sản được...
Thế là anh em
quyết định thành lập “Tự Lực Văn Đoàn” trên nguyên tắc là làm ăn dựa trên sức
ḿnh, theo tinh thần anh em một nhà: tổ chức không quá sôá 10 người nên không
phải xin phép Nhà nước, không cần có văn bản , điều lệ: lấy ḷng tin nhau làm
cốt, chỉ nêu ra trong nội bộ mục đích, tôn chỉ, anh em tự nguyện tự giác tuân
theo”...
“... Đoàn viên
ṇng cốt của Tự Lực Văn Đoàn là những nhà văn trong ṭa soạn báo Phong Hóa:
Anh Tam (đứng đầu giám đốc đoàn). Các anh Long, Lân, Giư, Tú Mỡ và Thế Lữ, tất
cả chỉ có 6 người. Anh Tam đề nghị kết nạp thêm một người nữa cho đủ số “thất
tinh”. Anh Giư giới thiệu anh Trần Tiêu, em ruột anh, một giáo viên trường
huyện, thích viết văn, đang viết truyện dài “Con Trâu”, cả đoàn đồng ư. Về sau
anh Giư có ngỏ ư mời anh Đoàn Phú Thứ vào đoàn nhưng anh nầy rất tán thành mục
đích, tôn chỉ của đoàn, song chỉ xin ở ngoài cộng tác cho được hoàn toàn tự
do, không muốn một tí ǵ ràng buộc.
Sau cùng, theo
đề nghị của anh Tam, đoàn chỉ kết nạp thêm anh Xuân Diệu, vị chi là “bát
tú”...”
“... Phong hóa
bị đóng cửa, Tự Lực Văn Đoàn không bị bó tay v́ đă có sẵn tờ Ngày Nay thay
thế... Có thể nói Ngày Nay là h́nh ảnh chân thực của tâm trí mọi tầng lớp b́nh
dân trong nước; là người bạn tri kỷ, vui vẻ khuyên nhủ mọi người mách bảo
những sáng kiến hay cần thiết cho cuộc đời mới. Việc biên soạn do những cây
bút cũ của Phong Hóa cùng nhiều nhà văn mới hợp thành đội ngũ hài ḥa”.
Tính t́nh điềm
đạm, ḥa nhă, Nhất Linh biết trân quư và chân t́nh từng cây bút, mỗi cây bút
đều có sự mến chuộng của một số độc giả v́ vậy phương cách xử sự của ông cũng
là kinh nghiệm cho giới làm báo.
Bên cạnh lănh
vực văn hóa, Nhất Linh dấn thân vào con đường chính trị để chống Pháp, giai
đoạn đó được Viễn Sơn Nguyễn Tường Bách ghi lại: “Nhưng dù đă đạt tới điểm cao
của danh vọng, anh cũng quyết tâm dấn ḿnh vào cuộc đời cách mạng gian nan và
đầy chông gai. Năm 1938, cùng với một số bạn hữu, anh thành lập đảng Đại Việt
Dân Chính. Năm 1941, do Pháp khủng bố, anh phải chạy sang Trung Quốc, kết hợp
với Việt Nam Quốc Dân Đảng, và hợp tác với cụ Nguyễn Hải Thần. Năm 1945, tháng
11, anh trở về Hà Nội, tổ chức hàng ngũ quốc gia chống lại Việt Minh Cộng Sản.
V́ t́nh thế thúc đẩy, tháng 2 năm 46, anh giữ chức Bộ Trưởng Ngoại Giao trong
chính phủ Liên Hiệp Kháng Chiến. Nhưng từ tháng 4-46, hai bên phá liệt, anh
lại sang Trung Quốc, lưu vong một lần nữa.
Năm 1947, v́
phản đối việc thoả hiệp với Pháp, anh ở lại HongKong cho tới 1951, v́ sức khoẻ
yếu, anh về nước, với dự tính chỉ hoạt động về văn học”.
Năm 1951, mở
nhà xuất bản Phượng Giang, hậu thân NXB xuất bản Đời Nay, tái bản sách của Tự
Lực Văn Đoàn.
Năm 1953, Nhất
Linh lên Đà Lạt, sống ẩn dật với cây cảnh.
Năm 1954, đất
nước bị chia cắt hai miền Nam-Bắc, Nhất Linh sống tiếp ở Đà Lạt 4 năm rồi mới
về Sài G̣n để tiếp tục dấn bước trên con đường văn học và trở lại con đường
chính trị vào năm 1960 khi thành lập Mặt Trận Quốc Dân Đoàn Kết.
Giai đoạn nầy
được ghi rơ qua hồi kư của người em: “Anh cả đổi vào Saigon làm việc (Giám Đốc
Bưu Điện) hai năm trước hiệp định Genève. Mẹ tôi cũng vào để kịp gặp anh Tam
trước khi anh sang Pháp thăm người con trai lớn du học bên đó. Ở được ít tháng
anh lại về, lên ở luôn Đà Lạt vào rừng kiếm lan.
Anh rủ mấy
người bạn mua đất ở Phiên Nôm bên ḍng suối Đa Mê cách Đa øLạt hai mươi lam
cây số, hạ cây rừng xẻ gỗ làm nhà.
Nhà mới dựng
lên v́ thợ sơ ư không chống kỹ nên đổ sập xuống, kèo cột găy hết. Mẹ tôi cho
là điềm không hay nên không cho dựng lại nữa. Thế là hai lần định tạo dựng đều
không thành cả. Chỉ c̣n lại nhà bếp, mẹ tôi ở được ít lâu th́ đau. Anh Tam
phải đưa về ở căn nhà nhỏ của chị Tam mua từ hối 1954 ở đường Lư Thái Tổ” (NTT
– sđd trang 147).
Bà Nhất Linh
vẫn tiếp tục công việc buôn bán cau trầu nuôi con cái ở An Đông, Chợ Lớn. Trở
về sum họp với gia đ́nh, Nhất Linh bắt tay vào sinh hoạt văn hóa, ông là vị
Chủ Tịch đầu tiên của Văn Bút Việt Nam được h́nh thành vào năm 1958.
Giai đoạn cuối
đời được ghi nhận trong Thành Ngữ Điển Tích Danh Nhân Tự Điển của GS Trần Văn
Thanh, ấn hành tại Sài G̣n 1967:
“Đến năm 1958,
Nhất Linh rời bỏ rừng núi Đà Lạt về Sài G̣n để cho ra mắt độc giả giai phẩm
Văn Hóa Ngày Nay (số 1 Văn Hóa Ngày Nay xuất bản ngày 17-6-58). Giai phẩm này
được chiếm đa số độc giả và đă thành công rực rỡ. Những người cộng tác thường
xuyên trong Văn Hóa Ngày Nay gồm có: Đỗ Đức Thu, Nguyễn Thị Vịnh, Linh Bảo,
Duy Lam, Trương Bảo Sơn, B́nh Nguyên Lộc, Tường Hùng.
Văn Hóa Ngày
Nay của Nhất Linh bắt đầu cho đăng tập trường giang tiểu thuyết. Xóm Cầu Mới
gồm có những cuốn khác như: Cô Mùi, Người Chiến Sĩ, Nhà Mẹ Lê, Người Sát Nhân,
Cậu Ấm, Ông Năm Bụng. Theo Nhất Linh, ông định viết độ hai chục cuốn nữa để
thành một bộ tiểu thuyết gồm chừng một vạn trang mô tả đầy đủ sự phức tạp và
muôn mặt của cuộc đời. Mọi người đang mong thưởng thức công tŕnh to tát ấy
th́ Văn Hóa Ngày Nay đến số 11 tháng 5 năm 1958 lại đ́nh bản, và hơn một lần
nữa truyện Cô Mùi và mối t́nh của cô cũng v́ đó mà thành ra dang dở.
Trong giai phẩm
văn nghệ Tân Phong ra vào tháng 8 năm 1959, ta chỉ thấy thỉnh thoảng Nhất Linh
có một vài truyện ngắn, c̣n truyện dài trong Văn Hóa Ngày Nay không thấy ông
đăng tiếp.
Năm 1961, ông
cho xuất bản một tập khảo luận về tiểu thuyết nhan đề là Viết Và Đọc Tiểu
Thuyết.
Dù sau này Nhất
Linh khó ḷng lấy lại được phong độ ngày nào của nhóm Tự Lực Văn Đoàn trên tờ
Phong Hóa, Ngày Nay và ngọn đuốc văn hóa mà ông đă từng cầm trong bao nhiêu
năm phải trao về cho những người trong thế hệ mới, nhưng mọi người không thể
phủ nhận được giá trị những công cuộc tranh đấu của ông và nhóm Tự Lực Văn
Đoàn cách đây hơn ba mươi năm, nhằm mục đích chống phong kiến, chống thực dân,
phổ biến những quan niệm nhân quyền và dân quyền, tŕnh bày những quan niệm
tiến bộ về cá nhân, về gia đ́nh và xă hội.
Để phản đối
chính quyền độc tài của Ngô gia. Nhất Linh đă dùng độc dược quyên sinh vào đêm
7 tháng 7 năm 1963 tại nhà riêng để lại h́nh ảnh cao quư trong ḷng mọi người
thân mến và giới văn nghệ một niềm luyến tiếc chân thành. Ông thọ 58 tuổi”.
Ông để lại lời
tuyên bố:
“Đời tôi để cho
lịch sử xử, tôi không chịu để ai xử cả. Sự bắt bớ và xử tội tất cả các phần tử
Đối Lập Quốc Gia là một tội nặng sẽ làm cho nước mất về tay Cộng Sản. Tôi
chống đối sự đó và tự hủy ḿnh cũng như Ḥa Thượng Thích Quảng Đức tự thiêu để
cảnh cáo những người chà đạp mọi thứ tự do” - Nhất Linh Nguyễn Tường Tam
7-7-1963.
Trước linh cữa
của người quá cố, Linh Mục Thanh Lăng, Chủ Tịch Văn Bút Việt Nam (Nhất Linh
trở thành cố vấn) đă ngỏ lời tiễn biệt:
“Anh Nhất Linh,
trong lúc nước mắt tràn lên các khuôn mặt này, trong lúc tiếng nấc trong các
cổ họng này, trong lúc những bàn tay đang run run tung lên anh những vốc đất
mà tôi gọi là những Cánh Hoa Hồng này, th́ lại chính là lúc anh đi vào lịch sử
giữa huy hoàng, chúng tôi đến đây để nghiêng ḿnh trước ngai vàng lịch sử đă
dọn cho anh”.
Sau ba chục
năm, con cháu trong gia tộc đă đưa di cốt nhà văn Nhất Linh ở Sài G̣n và vợ
ông ở Pháp trở về nguyên quán. Trong bài Nắm Cỏ ĐưaVề Tấc Đấc Xưa của nhà văn
Phạm Phú Minh trong Tạp Chí Thế Kỷ 21 (tháng 7-2002) đă ghi:
“... Theo anh
Nguyễn Tường Thiết, con trai út của nhà văn cho biết th́ năm 1975, chính quyền
cộng sản giải tỏa nghĩa trang chùa Giác Minh ở Thông Tây Hội (Gia Định), anh
Nguyễn Tường Thạch là là con trai Nhất Linh đă hỏa thiêu di cốt của cha và gửi
b́nh tro tại chùa Kim Cương đường Trần Quang Diệu tại quận Ba Sài G̣n. Trong
khi đó, năm 1982 bà Nguyễn tường Tam sang Pháp đoàn tụ với con, nhưng cũng
trong năm nầy bà qua đời, được an táng tại nghĩa trang ở Pháp.
Năm ngoái,
2001, các người con của ông bà Nhất Linh đă quyết định dời mộ ông bà và của
người con gái lớn là chị Thư về Quảng Nam, nguyên quán của gia tộc Nguyễn
Tường. Hài cốt của bà đă được hỏa thiêu tại Orsay (Pháp), sau đó được hai
ngụi con là anh Việt và chị Thoa đưa về Sài G̣n vào tháng Tư 2001. Anh Nguyễn
Tường Thiết từ Mỹ đă về Sài G̣n trước, đón di cốt bà đưa về chùa Kim Cương,
nơi nầy di cốt của ông đă được gửi thờ từ khoảng hai chục năm nay. Ngày
27-4-2001 nhà chùa đă làm lễ cầu siêu trọng thể với sự có mặt của tất cả thân
thích trong họ có mặt ở Sài G̣n. Ngay sau khi lễ, di cốt của ông bà Nguyễn
Tường Tam và của chị Thư được đưa lên tàu hỏa đi Quảng Nam, miền Trung Việt
Nam.
Ngày 28-4-01
cử hành lễ chôn cất các di cốt tại nghĩa trang riêng của họ Nguyễn Tường ở
Hội An. Mộ của ông bà Nguyễn Tường Tam nằm gần mộ cụ tổ Nguyễn Tường Phổ,
người đầu tiên của họ Nguyễn Tường ra làm quan và lập ngiệp ngoài Bắc, nhưng
khi mất đă được mang về an táng tại quê nhà”.
Nhất Linh là
nhà văn nhà báo đă có công đóng góp cho nền văn học và báo chí Việt Nam trong
thế kỷ XX. Ông học Lư Hóa nhưng có năng khiếu trên nhiều lănh vực về Văn Học
Nghệ Thuật và đă thành công rực rỡ. Ông cũng am tường về âm nhạc và hội họa.
“Cũng có lần nhờ tài vẽ để kiếm ăn khi lưu lạc ở Cao Miên và Sài G̣n ông đi vẽ
phông các rạp hát” (Một Vài Nét Về Chân Dung Nhất Linh - Tường Hùng, Tạp chí
Văn, số 61, 1-7-1966).
Với nhân cách
của con người hoạt động chính trị, văn học và báo chí, Nhất Linh giữ được nhân
cách của ḿnh kể từ khi bước chân vào đời. H́nh ảnh đó được thể hiện qua ng̣i
bút của người cháu: “Trí nhớ và sự khiêm tốn không cho tôi nói nhiều về một
người chú mà tôi kính mến. Đáng lẽ tôi phải nói vài tật xấu để cho rơ chân
dung Nhất Linh hơn, nhưng tôi xin thú thực sau bao năm ở gần Nhất Linh, tôi
chưa được biết một tính xấu nào của Nhất Linh” (Một Vài Nét Về Chân Dung Nhất
Linh – Tường Hùng, Tạp chí Văn số 61, 1-7-1966.
Theo nhận định
của nhà thơ Đông Hồ trên tờ Bách Khoa số 180 (1-7-1964) cũng là ư nghĩa của
mọi người về nhà văn Nhất Linh:
“Sự nghiệp của
Nhất Linh ở đây thật là một sự nghiệp đáng kể mà tôi tưởng đương thời và hậu
thế cũng đều công nhận”.
Tác phẩm của
Nhất Linh: Nho Phong (1924), Người Quay Tơ (1926), Anh Phải Sống (cùng Khái
Hưng, 1932 - 1933), Gánh Hàng Hoa (cùng Khái Hưng,1934), Đời Mưa Gío (cùng
Khái Hưng, 1934), Nắng Thu (1934), Đoạn Tuyệt (1934-1935), Đi Tây (1935), Lạnh
Lùng (1935-1936), Hai Buổi Chiều Vàng (1934-1937), Thế Rồi Một Buổi Chiều
(1934-1937), Đôi Bạn (1936-1937), Bướm Trắng (1938-1939), Xóm Cầu Mới
(1949-1957), Viết Và Đọc Tiểu Thuyết (1952-1961), Gịng Sông Thanh Thủy
(1960-1961)...
Vương Trùng Dương |
|
|