Văn Học
Nghệ Thuật
Sinh Hoạt
Phiếm Luận
Trang Thân Hữu Thơ - Văn
Diễn Đàn
Giải Trí
Thư Tín
 
 
Nhà Văn B́nh Nguyên Lộc

 

                             Phan Bá Thụy Dương & Vương Trùng Dương
 
Bình Nguyên Lộc là bút hiệu của nhà văn miền Nam. Ông tên thật là Tô Văn Tuấn, sinh ngày 7-3-1914 tại làng Tân Uyên tỉnh Biên Ḥa - nay là thị trấn Tân Uyên tỉnh B́nh Dương và mất ngày 7 tháng 3 năm1987 tại Hoa Kỳ.
Ông lấy bút hiệu Bình Nguyên Lộc vốn thoát từ Đồng Nai, tác phẩm đầu tay là Hương Gió Đồng Nai.
Trong tác phẩm Sống & Viết của Nguyễn Ngu Í, ần hành trước năm 1975 tại Sài Gòn. BNL làm công chức kho bạn từ năm 1943 đến 1945. Viết báo và viết van7 năm 1943. Chủ trương tuần báo vui sống năm 1959 và nhà xuất bản Bến Nghé. Từ năm 1943 đến 1966, qua hai thập niên đã viết được 820 truyện ngắn, 52 tiểu thuyết, 3 tập thơ và tập khảo cứu về Y Học với trưởng nam là Bác sĩ Tô Dương Hiệp, 3 tập cổ văn, 2 truyện cổ tích bằng thơ và một số truyện nhi đồng…
B́nh Nguyên Lộc bắt đầu sáng tác từ thập niện 30 của thế kỷ XX. Theo nhà văn Hồ Nam tức thi sĩ Vương Tân viết trong tác phẩm 100 Khuôn Mặt Văn Nghệ Sĩ th́ trước năm 1945 BNL ông là nhà báo, kư bút hiệu Bầu Tèo chuyên viết hài văn và là trợ bút của tuần báo Thanh Niên do Huỳnh Tấn Phát làm Chủ Nhiệm, Chủ Bút; sau đó ông viết truyện ngắn rồi truyện dài và nghiên cứu. Tập truyện ngắn đầu tay mang tên Nhốt Gió của B́nh Nguyên Lộc đă thoát được cái không khí văn chương tiền chiến, đă gây chấn động sinh hoạt văn nghệ ở Saigon trong những năm cuối thập niên 40. Ông là cây viết có sức sáng tác dẻo dai bền bỉ phi thường có lúc ông viết ba truyện dài đăng báo hàng ngày liên tục cả năm. Nhà văn BNL c̣n một bút hiệu khác mà ít người biết đựợc là Phong Ngạn.
Sau ngày 30 tháng Tư năm 1975 ông bị kẹt lại trong nước và khi đụng thực tế th́ ông vỡ mộng, không sáng tác. V́ không chấp nhận làm "văn nô", không chấp nhận thứ văn chương "tôi đ̣i" nên ông đă di cư sang Mỹ. Những năm cuối đời B́nh Nguyên Lộc đi vào địa hạt nghiên cứu ngôn ngữ học, nghiên cứu dân tộc học. Cuốn Nguồn Gốc Mă Lai của dân tộc Việt Nam của ông đă gây nhiều dư luận trong giới học thuật.
 Bài viết của Hồ Nam trong 100 Khuôn Mặt Văn Nghệ Sĩ với những dòng kết:
“B́nh Nguyên Lộc là nhà văn Nam bộ tầm cỡ ngang ngửa với Hồ Biểu Chánh nhưng ông lại hơn Hồ Biểu Chánh ở chỗ c̣n viết nghiên cứu và ông là người đầu tiên đặt vấn đề nguồn gốc người Việt Nam không  phải hoàn toàn là nguồn gốc phương Bắc, nguồn gốc dân Bách Việt di cư từ Động đ́nh Hồ xuống đồng bằng châu thổ sông Hồng mà c̣n là dân bản địa mang nguồn gốc Mă Lai sống ở đồng bằng châu thổ sông Hồng từ trước khi có cuộc di cư của dân Bách Việt rất lâu.
Vấn đề B́nh Nguyên Lộc đặt ra đă gây tiếng vang trong giới học thuật đáng lẽ phải có người nghiên cứu tiếp; tiếc rằng đến nay giới học thuật quá "bảo thủ" chẳng ai đả động tới cả nhất là phạm vi ngôn ngữ học, phạm vi tiếng Việt của nguồn gốc Mă Lai.
Một người có văn tài, có thực học phải sống lưu vong như B́nh Nguyên Lộc rồi chết trong quên lăng thật là vô cùng đáng tiếc; nhất là trước khi chết B́nh Nguyên Lộc đă hoàn thành nhiều tập truyện và mấy bộ sách nghiên cứu nhưng thân nhân của B́nh Nguyên Lộc không có hoàn cảnh và cơ hội công bố; thật vô cùng thiệt tḥi cho nền văn chương Việt Nam cũng như nền học thuật Việt Nam thế kỷ hai mươi”.
    Gần đây, Nhà Xuất bản Văn học phát hành “Tuyển tập B́nh Nguyên Lộc” gồm 4 tập, 2.400 trang khổ 14,5x20,5 cm. Đây là một bộ sách quư, tuyển chọn từ hơn trăm tác phẩm (truyện dài và truyện ngắn) đă xuất bản của nhà văn B́nh Nguyên Lộc trong khoảng thời gian từ năm 1950 đến 1975.
 
Tác Phẩm tiêu biểu
Ái Ân Thâu Ngắn Cho Dài Tiếc Thương - Bóng Ai Qua Ngoài Cửa - Cần Giờ - Diễm Phương - Đ̣ Dọc (Giải thưởng Văn Chương Toàn Quốc năm 1959 - Ông cũng đă từng được giải thưởng Khôi Nguyên Văn Chương Quốc Gia  với cuốn Gái Chợ Về Quê.) - Đừng Hỏi Tại Sao  - Gieo Gío Gặt Băo- Hoa Hậu Bồ Đào - Khi Từ Thức Về Trần- Kư Thác - Lột Trần Việt Ngữ- Một Nàng Hai Chàng - Mưa Thu Nhớ Tằm - Nguồn Gốc Mă Lai cùa Dân Tộc Việt Nam - Nhện Chờ Mối Ai - Những Bước Lang Thang Trên Phố Của Gă BNL - Nửa Đêm Trăng Sụp- Quán Tai Heo - Sau Đêm Bố Ráp Cuống Rún Chưa Ĺa - Tâm Trạng Hồng - Thầm Lặng - T́nh Đất - Trăm Nhớ Ngàn Thương - Uống Lộn Thuốc Tiên
 
Cali Weekly xin giới thiệu với bạn đọc truyện ngắn tiêu biểu và được nhiều người ca tụng nhất của ông: Rừng Mắm và Ba Con Cáo.
 
 
                             RỪNG MẮM
                                                                     B́nh Nguyên Lộc
 
Chim đang bay lượn bỗng đứng khựng lại, khiến thằng Cộc thích chí hết sức. Nó theo dơi con chim thầy bói ấy từ năy đến giờ, chờ đợi cái phút nầy đây.
Thật là huyền diệu, sự đứng yên được một chỗ trên không trung, trông như là chim ai treo phơi khô ngoài sân nhà.
Chim thầy bói nghiêng đầu ḍm xuống mặt rạch giây lát rồi như bị đứt dây treo, nó rơi xuống nước mau lẹ như một ḥn đá nặng. Vừa đụng nước, nó lại bị bắn tung trở lên như một cục cao su bị tưng, mỏ ngậm một con cá nhỏ.
Cộc ngửa mặt lên trời để theo dơi ông câu kỳ dị và tài t́nh ấy nữa, nhưng mắt nó bị ngọn dừa nước bên kia bờ rạch níu lại.
Trên một tàu dừa nước, một con chim thằng chài xanh như da trời trưa tháng giêng, đang yên lặng và bền chí ŕnh cá.
Trong thế giới bùn lầy mà thằng Cộc đang sống, ai cũng là ông câu cả, từ ông nội nó cho đến những con sinh vật nhỏ mọn qui tụ quanh các ngọn nước.
Màu xanh của chim thằng chài đẹp không có màu xanh nào sánh kịp. Sự bền chí của nó cũng chỉ có sự bền chí của các lăo c̣ sầu năo là ngang vai thôi, cái bền chí nh́n rất dễ mê, nhưng mê nhứt là mũi tên xanh bắn xuống nước nhanh như chớp, mỗi khi thằng chài trông thấy con mồi.
 
Thằng Cộc là một đứa bé bạc t́nh. Một đàn c̣ lông bông bay qua đó, đủ làm cho nó quên thằng chài ngay. Là v́ đầu c̣ chởm chởm những cọng lông bông, nhắc nhở nó những kép vơ hát bội gắn lông trĩ trên măo kim khôi mà nó đă mê, cách đây mấy năm, hồi gia quyến nó c̣n ở trên làng.
Hồi ấy nó sướng lắm. Quanh nhà nó, có hàng trăm nhà khác, có vườn cây trái, có nước ngọt quanh năm, có trẻ con để nó làm bạn, để nó đùa giỡn với.
Nhưng không hiểu sao một hôm tía nó bán chiếc cḥi lá đi, rồi ông nội nó, tía nó, má nó và nó, một đứa bé mười tuổi, kéo nhau xuống một chiếc xuồng cui, một thứ xuồng to mà người ta gọi là xuồng mẹ, ghe con. Rồi họ đi lang thang từ rạch hoang vắng nầy đến kinh hiu quạnh nọ, và rốt cuộc dừng bước nơi cái xó không người nầy mà ông nội nó đặt tên là xóm Ô-Heo.
Nghĩ đến những năm cũ, thằng Cộc bỗng nghe thèm người vô cùng, thèm c̣n hơn là thèm một trái xoài ngọt, một trái khế chua mà từ năm năm nay nó không được nếm.
 
Những người di cư năm nọ trên chiếc xuồng cui vẫn c̣n sống đủ cả. Những chiều nghi ngút sương mù từ đất lầy bốc lên, và những đêm mưa gào gió hú, những người ấy kể chuyện cho Cộc nghe, những chuyện ma rởn óc như ăn phải trái bần chua. Nhưng dầu sao, Cộc cũng thích người khác hơn, cũng như nó thích vườn tược sầm uất hơn cảnh rừng tràm tối mịt hoặc cảnh đồng không bát ngát ở đây. Ở đây, cho đến tiếng chó sủa, tiếng gà gáy nó cũng không nghe từ lâu. Con chó săn và mấy con gà giống mang theo, đă ngă lăn đùng ra mà chết ngay trong tháng mới tới. Thằng Cộc ngạc nhiên mà thấy sao người vẫn không chết trong khí hậu tàn ác nầy: nóng, ẩm, c̣n muỗi ṃng th́ quơ tay một cái là nắm được cả một nắm đầy.
Chưa bao giờ mong mỏi của Cộc được thỏa măn mau lẹ như hôm nay. Nó vừa thèm người th́ tiếng ḥ của ai bỗng vẳng lên trong rừng tràm, rồi tiếp theo đó là tiếng chèo khua nước:
 
Ḥ ơ... tháng ba cơm gói ra ḥn,
Muốn ăn trứng nhạn phải ḷn hang mai.
 
Mũi xuồng cui ló ra khỏi khúc quanh của con rạch, và trên xuồng, chồng chèo lái, vợ ngồi không trước mũi mà ḥ. Cặp vợ chồng nầy, Cộc quen mặt mấy năm nay, nhưng không biết họ từ đâu đến. Nó chỉ biết họ ra biển để bắt cua và bắt ba khía, một năm mấy kỳ. Nghe tiếng người lạ nói, nhứt là tiếng hát, Cộc sướng như có lần tía nó cho nó ăn một cục đường từ nơi xa mang về.
Thà là không được ăn, chớ c̣n ăn một chút xíu th́ cái vị của món ăn c̣n chọc thèm hơn bao giờ cả. Nên chi Cộc nh́n xuồng chèo khuất dạng rồi th́ xây lưng tức khắc để chạy lên Ô-Heo.
Trọn vùng nầy, ông nội nó đặt tên là Ô-Heo. Nhưng riêng trong trong riêng gia quyến nó th́ Ô-Heo chánh hiệu là một cái g̣ xa ở trên kia, cách mé rạch đến hai dặm hú. Số là hồi trước, ngày đầu tới đây, ông nội nó với tía nó đi kiếm đồ ăn trong rừng, đă gặp nơi đó một ổ heo rừng. Cả ổ heo đều bị sát hại hôm đó và việc canh tác của gia quyến nó về sau nầy đă đuổi thú dữ đi xa.
Tuy nhiên, đề pḥng chúng trở lại, ông nội nó đă cấm nó lên Ô-Heo một ḿnh. Thằng Cộc lại thích lên đó, ban đầu chỉ v́ Ô-Heo có sức quyến rũ của một trái cấm, nhưng về sau, nó gặp người nơi đó.
 
Đó là vài người đàn ông và đàn bà, nói là ở xa lắm, cách đó một ngày đường sông. Đàn ông th́ đến để gác quốc, gác nhan sen, c̣n đàn bà th́ để nhổ bồn-bồn về làm dưa bán.
Đó là những người bạn bí mật của nó, nó giữ kín không cho nhà nó biết. Họ hay kể chuyện xóm làng, chuyện đám cưới, đám ma, đám hát, đám cúng đ́nh, tóm lại tất cả sanh hoạt của làng mạc mà từ lâu Cộc không thấy và ngậm ngùi tưởng đến như nhớ những kỷ niệm xa xôi.
Cộc chạy qua khỏi ruộng nhà và đứng lại nghỉ mệt. Nó mệt lắm v́ nó chạy dưới nước và dưới bùn, mặc dầu lúa đă đến mùa gặt.
 
Năm xưa, gia quyến nó đến đây vào cuối tháng giêng, sau khi cúng ông vải xong ở quê cũ. Ông nội nó với tía nó đốt rừng tràm từ ngoài bờ rạch. Gió thổi vô rừng, và lửa, như con vật khổng lồ, đă táp một cái vào khối thịt xanh um của biển rừng tràm nầy. Thành ra ruộng nhà nó mang một h́nh tṛn ḱ dị, không tṛn đều đặn v́ không ai chỉ huy được sự cháy rất là rắn mắt của ngọn lửa.
Cộc nh́n ruộng ḿnh một hồi rồi cười khan lên. Đám rừng bị khoét một lỗ để làm ruộng, trông như đầu tóc trẻ con được mẹ cạo, nhưng mới cạo có một mảng th́ có chuyện gấp, bỏ dở công việc; đứa bé bị chúng bạn chế nhạo là đầu chó táp.
 
Lúc ruộng chín, cây lúa cao quá, ngă rạp xuống, để ḷi trăm ngàn gốc tràm lên, trông như ai đóng cọc để cất nhà sàn; năm xưa đốt rừng nhưng không đủ sức đánh những gốc tràm tươi rói không cháy được nầy, tía thằng cộc đành cấy lúa giữa những gốc ấy, măi cho đến ngày nay mà gốc vẫn chưa mục. Tía nó nói mười năm nữa, tràm chết cũng vẫn c̣n đưa cẳng lên như vầy.
 
Sau lưng Cộc là những rặng tràm bị cháy sém dưới trận lửa khai hoang, không chết ngay, nhưng "chết nhát", cứ mỗi năm chết lần ṃn thêm vài mươi cây. Mấy hàng tràm đầu nám đen và trụi nhánh như cột nhà cháy, câm hận nh́n chiếc cḥi lá xa tít mù dưới mé rạch đang chứa chấp kẻ thù đă lấn đất của chúng, đă sát hại chúng.
Sau đó, rừng dày mịt, chằn chịt những dây ḅng bong, dây choại, ḅ từ thân cây nầy qua thân cây khác.
Thằng Cộc lắng tai nhưng không nghe tiếng động nào cả. Nó đánh bạo chen qua những cây b́nh-bát, cây ráng, mọc xen với tràm, để đi tới đích.
Một ổ chồn cộc bỗng chạy qua trước mặt nó, khua lên một cái roạch, làm nó giựt ḿnh, nhưng tiếng người trên Ô-Heo cách đó chững hai hàng cây, giúp cho nó vững dạ.
 
Tiếng đàn bà hỏi:
- Anh hổng sợ thằng Mùi hay sao ?
Tiếng đàn ông đáp:
- Thằng Mùi th́ qua cho một loi là nhào hớt.
Cộc vẹt cỏ lá, đi mau đến đó và khi nó chun ra khỏi khối xanh th́ hai người có mặt trên g̣ Ô-Heo sợ hăi ngồi dang ra. Người đàn ông gác quốc là người quen, người đàn bà nhổ bồn-bồn th́ lạ hoắc. Chị nầy trẻ đẹp hơn tất cả những chị mà nó quen biết từ lâu.
Người đàn ông tự trấn tỉnh lại ngay, ngoắt nó lại mà hỏi:
- Muốn về trển hay không Cộc ? Muốn th́ đi theo chị hai mầy đây, chỉ có một đứa em gái ngộ lắm.
Trong khi thằng Cộc mắc cở tía tai th́ chị đàn bà hỏi anh kia:
- Ở miệt nầy có người sao anh ?
- Chỉ có một nhà thôi. Mới tới đây chừng năm năm.
- Quen hay lạ ?
- Lạ. Họ ở trên Sa-Đéc lận.
Chị đàn bà an ḷng, vui lại được và nói với Cộc để mua ḷng kẻ đă bắt chợt việc thầm lén của chị:
- Em của chị không bao giờ chịu về làm dâu ở một chổ như vầy. Em có muốn th́ phải ở rể thôi.
 
Rồi hai người lớn cười ngặt nghẹo với nhau.
Thằng Cộc mới mười lăm, nhưng cao lớn gần bằng người đàn ông kia. Ḿnh trần của nó nổi u, nổi nần những bắp thịt rắn như nắn bằng đất sét gắn vào đó rồi nung cho đen và cứng.
 
Sự nẩy nở của thân thể nó đi song đôi với sự trưởng thành của đời sống sinh lư bên trong của nó. Năm nay nó đă bắt đầu bâng khuâng mỗi khi chiều xuống, mặt trời đốt cháy đỏ đầu rừng tràm trầm thủy trước nhà. Nhưng sống cô đơn ở đây, nó không biết chuyện trai gái như vầy là xấu đến mức nào và nó phải có thái độ làm sao nên bối rối lắm.
 
Chị đàn bà nắm tay nó, rị nó ngồi xuống bên cạnh chị, vỗ lên đầu nó rồi dỗ ngọt:
- Chị không ăn thịt em rể chị đâu mà sợ. Mầy mà về trển làm ruộng th́ ai cũng ưa. Làm rể có công, ba năm th́ má chị gả con Thôi cho mầy liền. Nói thiệt đó mà.
- Nó muốn trốn theo qua dữ lắm, người đàn ông nói, nhưng nó c̣n ngại.
- Ngại ǵ ?
- Th́ lo sợ cái việc xa xôi đất lạ đó mà.
- Em nè, chị đàn bà lại hỏi, nhà có mấy người ?
- Bốn người ?
- Ai với ai ?
- Ông nội tui, tía tui, má tui với tui.
- Làm mấy công đất ?
- Hồi đó bốn công, bây giờ mười công.
- Gặt được bao nhiêu giạ mỗi mùa ?
- Tám giạ.
Chị đàn bà cười ngất một hồi rồi day lại hỏi nhơn t́nh:
- Trời ơi, ruộng ǵ mà mười công đất, chỉ gặt được có tám giạ thôi ?
Người đàn ông không cười, đáp:
- Đất nước mặn nào mới khai hoang cũng như vậy hết.
- Rồi lấy ǵ mà ăn em nhỏ ?
- Tía tôi đi đổi lúa thêm, ở đâu không biết, xa lắm.
- Đổi bằng ǵ ?
- Bằng cá khô. Với lại cũng chẳng cần ăn cơm. Nhiều khi ăn rùa, ăn rắn trừ cơm. Ở đây, rùa nhiều như kiến. Đốt rừng rồi đón trên đầu gió một lát là chúng nó lạch cạch chạy trốn lửa, bắt không kịp lận.
 
Chị đàn bà tỏ vẻ ái ngại một hồi rồi nói:
- Năy giờ chị nói chơi đó. Nhưng biết được t́nh cảnh của em, chị thật bụng thấy là em cần đi theo chị hoặc là anh đây cũng được.
Chị ta vói tay sau lưng, lấy bầu nước ngọt, mở nút ra rồi ngước mặt lên trời, rót nước vào miệng. Chị uống ừng ực vài cái rồi lại nói:
- Em có được ăn chè lần nào không ?
- Không, từ năm năm nay rồi. Cách đây một ngày đường nước, không có nhà cửa ai cả, không có quán tiệm ǵ hết. Với lại cũng không có tiền.
- Ở Sa-Đéc sao lại không vô Tháp Mười mà nhè xuống U-Minh nầy ?
- Tui cũng không biết tại sao. Nhưng ở Tháp Mười dễ chịu hơn hả ?
- Chị cũng không biết. Chỉ biết đất hoang ở Tháp Mười gần quê cũ của em hơn. Quê em ở gần Cao Lănh phải không ?
- Gần.
- Em có nhớ xoài Cao Lănh hôn ?
- Tui lạy chị, đừng có nhắc chè, nhắc xoài nữa, tui thèm muốn chết đi. Năm năm nay, tui không có biết món ngọt là ǵ. Mấy cây chuối trồng sau nhà cũng chết queo v́ đất c̣n mặn quá. Năm nay một cây trổ buồng, chắc tôi được ăn ngọt đây. Úi chà ! Trưa rồi, chắc tới bữa cơm, thôi tui về nha, anh, chị ?
- Ừ về, mai mốt lại lên đây nữa nha ?
- Xuồng anh chị ở đâu ?
- Dưới kia. Nhổ bồn-bồn ở dưới ấy, nhưng lên đây cho khô ráo để ăn cơm trưa é mà. Em Cộc nè, em của chị ngộ lắm, trắng lắm nghe không ?
Chuỗi cười của hai người nhơn t́nh ấy đuổi theo sau lưng Cộc khiến cho nó, trong giây phút, không muốn về nhà nữa.
 
Ra khỏi rừng tràm râm mát, mắt Cộc bỗng dưng như đổ hào quang trước ánh nắng tháng mười. Không khí bị đốt cháy, đang rung rinh như nước xao, và nó tưởng chừng như mái lá nhà nó, đen thui dưới kia, sắp cháy đến nơi.
Thằng Cộc về tới nhà th́ cơm trưa đă dọn xong.
- Mầy đi đâu mà tới đứng bóng mới về ?
- Tui đi lượm lông chim Long ô.
- Lông đâu ?
- Mà kiếm hoài hổng có.
- Mồ tổ cha mầy, nhiều chuyện. Chim Long ô đời xưa mới có chớ đời nay đâu c̣n nữa. Mai gặt nghe không ? Ăn cơm khuya rồi xuống đồng cho sớm, đừng đi đâu hết.
 
Cả nhà lặng lẽ ngồi quanh mâm cơm, Không ai nói với ai lời nào. Những người nầy, sống biệt tịch ở đây lâu ngày rồi, đă biến thành á khẩu v́ thói quen.
Riêng thằng Cộc, sự cần nói của tuổi thơ đang lên mạnh lắm như cần chạy nhảy, cần ăn uống vậy. Câu chuyện hồi năy trên g̣ Ô-Heo khiến nó càng bắt mùi nói thêm, nên nín không được, nó hỏi ông nội nó:
- Nội nè, hồi mới tới, giữa mùa nắng, ḿnh uống nước ǵ, tui quên rồi ?
Nó hỏi như vậy v́ nó vừa nh́n ra cái giếng bên hè và nhớ ra là giếng đă ngọt nước hôm mùa nắng trước, mặc dầu đă được đào từ năm năm rồi.
- Uống nước đọng trên lung, trên rừng, chớ uống nước ǵ.
- Sao ḿnh tới đây ông nội ?
- Đă nói cho mầy biết rồi. Trên xứ, ḿnh không có ruộng, làm công khổ cả đời.
- Ở đây, ḿnh có ruộng, nhưng cũng khổ cả đời.
Ông nội thằng Cộc lặng thinh. Nó nh́n ông nội nó rồi chợt nhận ra rằng năm nay ông cụ già quá. Tóc râu của ông cụ đă trắng bông. Nhớ ra ông cụ thường than ḿnh nhớ mồ, nhớ mả ông bà quá, nó bùi ngùi thương ông nên ḍm ra sân để quên.
 
Bấy giờ bóng của bốn cái nồi rau đă tṛn vành, chỉ rằng thật đúng ngọ. Bốn cái nồi bể ấy, hèn là thế mà rất là công dụng đối với nhà nó.
Để tránh nước mặn tràn bờ ngập sân, tía nó đă đóng mười hai cây cọc, làm thành bốn cái giá ba chơn tréo như giá trống của bọn đờn thổi đám ma. Trên mỗi giá, đặt một cái nồi lủng đít, và trong nồi để đầy đất mà tía nó mang từ xa về. Đất ở đây mặn chát dùng không được. Hành, ớt, rau răm, rau mồ om, được trồng trong mấy cái vườn cao cẳng đó. Đó là bốn thứ tối cần, đất mặn bao nhiêu cũng phải lập thế mà trồng cho được, không thôi không có món gia vị nào để ăn cá nữa.
 
Bốn miếng vườn cao cẳng và tí hon lại là chiếc đồng hồ của nhà nầy vào mùa khô. Cứ bằng vào bề dài của bóng giá là tính giờ được ngay, và khi bóng nồi tṛn vụm che mất bóng giá là đúng ngọ ngay bon.
Nh́n ra sân một hơi, nhai nuốt hết cơm, nó day vô và hỏi tía nó:
- Năm nay ḿnh gặt cỡ được bao nhiêu tía ?
- Nhờ ông bà, đất nước, ít lắm cũng được hăm lăm giạ.
- Cũng chưa đủ ăn.
- Đủ ǵ mà đủ, má nó nói, nhà ḿnh phải ăn trăm rưỡi là số chót.
- Với lại, tía thằng Cộc trở vào câu chuyện, tại lúa nàng Cụm thất gạo lắm. Năm tới ta gieo giống Tầm Vuột chắc được gạo hơn nhiều. Năm nay hễ chuối trổ buồng th́ năm tới tao trồng sả, trồng ổi được rồi đó.
 
Cả nhà đều hớn hở trước dự định tương lai tốt đẹp kia. Nhưng thằng Cộc chưa thấy ǵ là xán lạn cả. Trồng ổi th́ cũng phải khá lâu mới có trái, trong khi đó nó tiếp tục thèm chè, thèm xưng xa, nhớ đám cúng đ́nh, nhớ hát bội và bị một h́nh ảnh mới quyến rũ, h́nh ảnh của con Thôi, chắc là giống hệt chị nhổ bồn-bồn, tức là có duyên lắm.
Con trai làng thấy con gái rất thường, thế mà họ c̣n thầm lén rủ nhau đi một ngày đường nước để ra đây gặp nhau, huống hồ ǵ nó chưa được nói chuyện với con gái lớn lần nào hết. Những đứa con gái bạn của nó cách đây năm năm, nó nhớ lại th́ không có ǵ quyến rũ cả. Đứa nào cũng cạo trọc chừa bánh bèo phía sau và giữa chiếc bánh bèo, mọc ra một cḥm đuôi dài trông đến buồn cười.
Nhưng mà con gái lớn phải khác. Cộc chưa thấy con gái lớn, nhưng tin chắc như vậy. Có một linh cảm ǵ, ở đâu từ kiếp tiền thân của nó bay lại và giúp cho nó biết như vậy. Những cô con gái lớn chưa thấy h́nh ấy, mà đă có tiếng kêu được, chúng âm thầm gọi Cộc, tiếng gọi như văng vẳng đâu trong không trung.
 
Thẩn thờ, thằng Cộc nói lại câu hồi năy, và giận giỗi, thêm một đoạn khiến ông nội nó giựt ḿnh, chống đũa mà nh́n nó trừng trừng:
- Ở đây ḿnh có ruộng nhưng cũng khổ cả đời. Tui muốn đi quá, đi đâu cũng được, miễn ở đó có làng xóm, có người ta.
Thằng Cộc thích mấy cây nọc nạng lắm. Bó lúa nào gác lên đó cũng nằm yên cả chớ không chực rớt xuống nước ruộng như những bó lúa gác trên đầu nọc thường.
Đó là những gốc tràm mà cháng hai chẻ ra rất thấp. Khi đốn tràm cháy, tía thằng Cộc đă trù xa, đốn ở trên cháng hai ấy độ một gang rưỡi nên bây giờ họ mới có nọc nạng rất tiện mà dùng gác lúa.
Ông nội thằng Cộc chống xuồng trên ruộng, len lỏi qua mấy gốc tràm. Ông ghé từng gốc để cho lúa xuống xuồng.
 
Đủ thứ là c̣, c̣ ma, c̣ lông bông, c̣ quắm, c̣ hương, thân mật nh́n gia đ́nh bốn người gặt lúa nhà. Đây là bốn người độc nhứt mà chúng thấy mỗi ngày ở vùng hoang vắng nầy; ban đầu chúng sợ hăi họ, nhưng về sau, thấy họ hiền từ quá, chúng làm quen với họ đă được bốn thế hệ c̣ rồi.
Má thằng Cộc lội śnh tới đầu gối, và lội nước gần tới háng nhưng vui vẻ hơn ngày nào hết. Bà ta tằng hắng rồi cất tiếng ḥ:
 
Ḥ... ơ... tiếng anh ăn học làu thông,
Lại đây em hỏi khăn lông mấy đường ?
 
Ḥ xong câu đố ấy, bà lắng đợi chồng bà ḥ đáp. Nhưng tía thằng Cộc cứ làm thinh mà gặt, khiến bà đâm ngượng nên cười rồi cự chồng cho đỡ mắc cỡ:
- Tía nó sao câm cái miệng lại, không bắt vậy ?
- Hứ, nhiều chuyện nà ! Già rồi mà c̣n ḥ với hát, bắt với ghẹo. Bộ c̣n trai gái ǵ đó sao ?
V́ vui kết quả của cần cù nên má thằng Cộc quên rằng bà ta đă quá mùa ḥ rồi. Tía nó nhắc lại bà ta mới chợt nhận ra. Tuy nhiên bà vẫn ngậm ngùi nhớ cái thú vui ấy thuở bà c̣n con gái và ngay bây giờ đây, tóc đă nhuốm hoa râm rồi, bà cũng hưởng được nếu c̣n ở làng, hưởng bằng cách khuyến khích bọn trai trẻ ḥ đối đáp với nhau.
Thằng Cộc th́ xôn xao trong ḷng, nhớ lại lời chị nhổ bồn-bồn bảo rằng nó mà về làng làm ruộng th́ ai cũng ưa. Ừ, nó sẽ ḥ đối đáp với con Thôi. Chậc ! Mà nó phải nhờ má nó dạy ḥ mới được. Nó có nghe ḥ lần nào đâu để mà thuộc giọng và biết câu.
Đến chiều th́ xong xuôi cả. Ông nội thằng Cộc chống xuồng lúa để ra bờ rạch, c̣n tía nó, má nó và nó th́ lội nước śnh mà về bộ.
Đập lúa và phơi phong mất hết mười ngày. Trong những ngày buồn tẻ, phẳng ĺ giữa cảnh bùn lầy nước đọng ấy, thằng Cộc càng nao nức muốn về làng.
“Lại đây em hỏi khăn lông mấy đường ?”
Câu ḥ của má nó ám ảnh nó từ hôm gặt đến nay. Nếu con Thôi mà hỏi đố nó câu ấy chắc nó phải ngậm câm, cho dẫu được phép trả lời bằng văn xuôi.
Khăn lông là vật dụng mà nó đă quên rồi th́ c̣n biết là mấy đường để c̣n đáp cho thông. Từ lâu, nó chỉ có một chiếc quần xà lỏn trên người, mùa nắng cháy như mùa mưa lạnh. Đêm nó nhờ nóp che thân cho đỡ bị muỗi đốt và gió cắt da.
Những món đồ cần dùng của thế giới văn minh ấy cũng thuộc vào những thứ gợi thèm như bánh trôi nước, bánh ít trần và mái tóc của con Thôi.
Hôm ấy, dùng bồ cho con cháu đổ lúa vào, ông nội thằng Cộc long trọng nói:
- Ngày mai ra biển.
Không ai hỏi ra biển để làm ǵ hết. Thằng Cộc cũng làm thinh, trái với mọi ngày mà nó hỏi không kịp đáp.
Con rạch Ô-Heo trước nhà, nếu có đi trên ấy th́ phải về ngọn, nó nghĩ như vậy, đi về ngọn để rẽ qua những kinh rạch khác mà t́m làng mạc sầm uất, chớ xuôi ḍng ra biển th́ c̣n nghĩa lư ǵ nữa chớ ?
Nó chưa được ra biển lần nào cả và mấy năm trước đây nó muốn theo ghe của bọn bắt cua để đi một chuyến lắm, mà không được phép đi.
Chuyến đi đầu đến một chơn trời xa lạ mà ông nội nó vừa cho biết, không làm cho nó phấn khởi chút nào cả.
Ông nội nó tiếp, dặn mẹ nó:
- Con mẹ Trùm, ngày mai phải dậy khuya nấu cơm. Tao đi với thằng Trùm và thằng Cộc, đi thật sớm để gặp con nước lớn ngay tại cửa mà về cho tiện.
 
Rạch Ô-Heo nhỏ xíu cho nên tràm mọc ở hai bên bờ giao nhành với nhau được và phủ kín cả mặt nước.
Rạch tối om, đi như đi trong hang. Bây giờ thằng Cộc mới thấu nghĩa hai tiếng "hang mai" trong câu hát của bọn đi bắt ba-khía.
Những nơi ánh nắng lọt vào được th́ hai bên bờ, ô-rô và cóc kèn mọc đầy.
Nước ṛng chảy xiết, xuồng trôi bon bon. Tuy vậy, ông nội và tía cũng chèo cẩn thận để mau tới nơi, hầu về kịp nội buổi chiều ngày đó.
Gần tới trưa, xuồng không đi mau nữa.
- Nước đứng rồi, ông nội nói, tức ta gần tới cửa rồi.
Họ thôi chèo, để cho xuồng trôi linh đinh, không tiến cũng không lùi, rồi lấy cơm dỡ trong mo nang ra mà ăn.
Không đi th́ thôi, đă trót đi, và lúc gần tới đích, thằng Cộc nghe thích thấy biển coi ra sao. Nó và cơm hối hả rồi hỏi:
- Ra đó làm ǵ ông nội ?
- Rồi mầy sẽ biết.
Họ ăn cơm xong th́ nước bắt đầu lớn. Họ chèo ngược nước cho đến quá đứng bóng th́ đến một nơi kia mà ông nội tuyên bố rằng đó là biển.
 
Thằng Cộc ngạc nhiên lắm mà chẳng thấy biển đâu cả. Con rạch tiếp tục đi xa ra ngoài kia, hai hàng rào cây như đứt khúc, đâm vào một vách tường xanh như da trời.
- Biển ở đâu, ông nội ? Cộc hỏi.
- Đàng xa kia, xanh xanh đó.
- Sao không ra ngoài, ông nội ?
- Không cần.
Tía thằng Cộc chèo mũi, rút sào cặm xuống bùn, theo lịnh của ông nội nó.
Ông nội gọi Cộc hỏi:
- Con có thấy ǵ khác lạ không ?
- Không, ông nội à.
- Không thấy ? Cây ở đây không khác cây sau lưng ḿnh à ?
- À... phải rồi.
Cộc nh́n lại th́ quả như lời ông nội nó nói. Nơi đây, đất đă hết, mà chỉ c̣n bùn. Tràm mọc tới mé đất cuối cùng th́ dừng lại, như là dân ở biên giới một nước kia dừng lại nơi b́a lảnh thổ ḿnh.
 
Hết tràm th́ có một khoảng trống, nửa bùn, nửa đất, trên ấy cỏ ống rậm ri và chim cao cẳng đủ loại đáp đầy trong cỏ.
Tràm đứng trước băi cỏ mà nh́n dân láng giềng mọc trên bùn đen. Đó là những cây ốm nhom chen nhau mà vượt cao lên, cây nầy cách cây kia không đầy bốn gang tay.
Bờ biển thoai thoải dốc xuống, trông rừng cây lạ ấy như một đạo binh xuống núi, tuôn hăm thành hầu lập công.
- Nh́n xuống gốc cây, ông nội bảo.
Nước chưa lớn hẳn, để lộ bùn đen dưới gốc cây ra. Bùn đen từng nơi lại trắng xóa những đóa hoa năm cánh, hai màu đen trắng đối chọi nhau trông rất đẹp.
- Cây ǵ mà lạ vậy ông nội ? Trổ bông ngay dưới gốc ?
- Bông trổ trên đầu những cái rễ ăn lên mà người ta gọi là rễ gió. Cây nầy là cây mắm. Đây là rừng mắm đây.
- Cây mắm ? Sao tui không nghe nói đến cây mắm bao giờ ?
- Con không nghe nói v́ cây mắm không dùng được để làm ǵ hết, cho đến làm củi chụm cũng không được.
- Vậy chớ trời sanh nó ra làm chi mà vô ích dữ vậy ông nội, lại sanh hằng hà sa số như là cỏ ấy ?
- Bờ biển nầy mỗi năm được phù sa bồi thêm cho rộng ra hàng mấy ngàn thước. Phù sa là đất bùn mềm lủn và không bao giờ thành đất thịt được để ta hưởng nếu không có rừng mắm mọc trên đó cho chắc đất. Một khi kia cây mắm sẽ ngă rạp. Giống tràm lại nối ngôi mắm. Rồi sau mấy đời tràm, đất sẽ thuần, cây ăn trái mới mọc được.
Thấy thằng cháu nội ngơ ngác chưa hiểu, ông cụ vịn vai nó mà tiếp:
- Ông với lại tía của con là cây mắm, chơn giẫm trong bùn. Đời con là tràm, chơn vẫn c̣n lấm bùn chút ít, nhưng đất đă gần thuần rồi. Con cháu của con sẽ là xoài, mít, dừa, cau.
Đời cây mắm tuy vô ích, nhưng không uổng, như là lính ngoài mặt trận vậy mà. Họ ngă gục cho kẻ khác là con cháu của họ hưởng.
 
Con, con sắp được hưởng rồi, sao lại muốn bỏ mà đi ? Vả lại con không thích hi-sinh chút ít cho con cháu của con hưởng hay sao ?
Thằng Cộc nh́n lại ông nội nó và nghe thương không biết bao nhiêu ông già đă bỏ mồ bỏ mả ông cha để h́-hục năm năm trong đồng chua, nước mặn ở Ô-Heo.
Phải, cứ theo dự đoán của gia đ́nh th́ nó sắp được hưởng, tuy không nhiều, mà rồi sẽ nhiều. Nó nắm chặt tay ông nội nó và nó thấy ông nội nó giỏi quá. Ông có biết chữ nho kia mà.
- Ông ơi, nó than, nhưng tràm buồn quá.
- Tràm sẽ khỏi buồn nữa. Năm tới, đất thuần rồi th́ ta làm ba mươi công và sẽ gọi dân cấy gặt ở xa tới phụ lực. Rồi tía con sẽ cưới vợ cho con, rồi thiên hạ sẽ bắt chước ta, tràn tới đây mà phá rừng, vùng Ô-Heo sẽ sầm uất, vui biết bao nhiêu. Tràm hết buồn v́ sẽ đẻ ra cau, dừa, xoài, quít, đầy nhà, nước sẽ ngọt một khi đất thuần...
- Và sẽ có chè ăn ?
Ông nội cười ha hả mà rằng:
- Ǵ chứ chè th́ sẽ có lu bù.
- Mà ông nội nè, cưới vợ làm sao được, ai thèm tới Ô-Heo ?
- Hai năm nữa người ta sẽ đồn rằng đất Ô-Heo thuần. Những kẻ nghèo khó như ta chỉ mong được tới đây. Ông nói điều nầy, không biết con hiểu được hay không. Là tổ tiên ta ngày xưa từ Bắc, Trung tràn vào đây đều chịu số phận của cây mắm hết, từ xứ Đồng Nai nước ngọt cho tới đây, ở đâu cũng hoang vu cả.
Họ đă ngă rạp trong chốn ma thiêng nước độc nầy để lót đường cho con cháu họ đi tới, y như là đàn kiến xung phong, tốp đầu liều chết đuối, lội qua tô nước rọng hủ đường để làm cầu cho bọn đi sau vào đến nơi có chất ngọt. Nhiều lớp tiên phuông đă ngă gục như rừng mắm. Rồi th́ ông sơ, ông cố con, ông nội đây là tràm mới kiếm được miếng ăn...
- Tía.
Thằng Cộc lo lắng không biết tía nó sẽ làm tràm như nó được hay không nên kêu tía nó bằng một giọng thương yêu tŕu mến hết sức.
- Thôi, nhổ sào để đi về cho kịp con nước, ông nội ra lịnh.
Ông nội vui vẻ quá, v́ ông bỗng sực nhớ lại những câu ḥ của thế hệ người tiên phuông đi khai thác đất hoang ở miền Nam, mà ngày nay thế hệ tràm không hát nữa. Ông cất giọng khàn khàn lên:
 
Ḥ... ơ... Rồng chầu ngoài Huế,
Ngựa tế Đồng Nai.
Nước sông trong sao cứ chảy hoài,
Thương người xa xứ lạc loài đến đây. 
 
B́nh Nguyên Lộc
 
                             Ba Con Cáo
                                                                  B́nh Nguyên Lộc
 
Mặc dầu là tay “bán trời không mời thiên lôi”, Sáu Sửu vẫn nghe rờn rợn khi nh́n ra ngoài.
Thánh giá trắng đứng mơ hồ trong ánh sáng lờ mờ của nghĩa địa, sắp thành hàng ngũ đông đúc, nhánh ngang của thánh giá trông mường tượng như những cánh tay người giăng ra để đón bắt ai.
Xa xa, một trụ vôi có dáng một người đàn bà đội khăn tang trắng, đứng nh́n đám mồ trước mặt bà ta.
Gió đêm, cùng với dế, trùn, họp nhau mà than văn bên hàng ngh́n mồ hoang mả lạnh, và thỉnh thoảng, anh Sáu vẳng nghe như có tiếng người rên rỉ đâu đây.
Từ một ngôi mả cũ đằng xa, một ánh lửa lóe lên, nhỏ bằng ngón tay, từ từ bay lên cao rồi đi bơ vơ qua các hàng thánh giá. Lửa ma trơi hay là đèn của một người đi soi ếch nào đó?
Mưa dầm tháng tám rơi trên nước ao tù khiến anh Sáu có cảm giác rằng ḿnh đang ngủ trên một chiếc thuyền, giữa ḍng nước.
Lạnh quá, lạnh ngoài da, mà lạnh cả đến trong ḷng.
Người sống, một khi xâm nhập vào địa hạt của người chết, mới nhận được rằng cuộc đời bên ngoài dầu đau khổ bao nhiêu cũng c̣n ấm chán.
Tại phố Phát Diệm, khúc phía trên này, họ Cầu Kho có một đất thánh mà từ vài năm nay nhà thờ không cho chôn trong đó nữa.
Dân số nghĩa địa cứ mỗi ngày một tăng lên, mà không có một ai chết lần thứ nh́ cả để cho số sanh và số tử bù trừ nhau hầu đất đai trống bớt chỗ.
Ngoài thành phố, người ta đẻ con, nhưng người ta lại chôn ông, nhà cửa thành thử không chật thêm được. Ở đây mồ mả sanh ra rồi già cỗi dưới rêu xanh của sương gió, nhưng vẫn nằm ĺ đó đến muôn thu.
V́ vậy nghĩa địa phải chịu nạn nhơn măn. Nhà thờ không cho chôn xác thêm vào đó, rồi cũng chểnh mảng việc trông nom đất thánh nên người sống đang thiếu đất, bèn ùa đến mà lấn người chết.
Nghĩa địa không có vách thành. Ban đầu vài người mạo hiểm cất nhà ngay trên ranh đất thánh. Thấy không ai nói ǵ, một số người khác lách qua khỏi mấy cái nhà vừa cất lên, để vô trong mà xây cất.
Họ cất vây tứ phía ngôi đất thánh và ṿng vây cứ càng ngày càng siết chặt lại, người chết không c̣n lối nào để thoát ra được nữa cả.
Khi ṿng vây siết đến lằn mức chót, nghĩa là những ngôi mộ ở b́a, th́ cuộc xô lấn bắt đầu diễn ra một cách đau thương.
Người sống cũng biết đau ḷng khi phải dẫm lên những g̣ mả c̣n mới rành rành (nhiều mô. bia, thánh giá, đề năm chôn là 1951) nhưng họ, ác thay, lại cũng biết lạnh. Cho nên họ cứ cất nhà trên những nấm đất ấy, xin người chết thứ lỗi, miễn là có chỗ núp mưa th́ thôi.
Không bao giờ kẻ sống và người chết lại sát cánh nhau đến thế. Ông đă chết rồi, ông choán đất làm chi cho nhiều, trong khi tôi không có lấy một vuông nhỏ để mà cắm cây cột gỗ; vậy ông thứ lỗi nhé! Rồi ngày sau tôi cũng hoàn lại đất như ông vậy mà; trần gian nầy chỉ là cơi tạm thôi, tranh nhau làm ǵ!
Cuộc xâm lăng lặng lẽ để tranh sống với người chết, gây ra một tai hại lạ kỳ.
Vùng đất ấy ngày xưa tuy cũng thấp mà vẫn khô ráo, nhờ con rạch Bần tháo nước ra sông Ông Lănh. Nhưng từ khi đô thành cho đắp đại lộ Trần Hưng Đạo, cách đây mấy mươi năm, th́ ngọn rạch Bần bị lấp, và nước mưa trên nầy bị bỏ tù lại đến chung thân khổ sai, v́ khu ấy đất trũng mà!
Đất thánh không phải ở giữa rún đất nên không đọng nước. Nhưng ṿng vây tai hại kia lại biến thành con đê ngăn nước đất thánh đô? xuống chỗ trũng hơn.
Thành thử phần nhiều ngôi mộ đă biến thành cù lao, có cù lao rời rạc, có mớ họp thành quần đảo, không c̣n làm sao ra đó được nữa. Nước tù mang một màu khó tả và một mùi cũng khôn tả. Đáy ao biến thành bùn non, đi th́ lún đến ống quyển.
Lau, sậy, đế tha hồ mà mọc như ở bưng miền xa.
Giữa đất thánh c̣n sót lại một ngôi mộ cổ kiến trúc theo bên lương mà có lẽ nhà thờ không nỡ phá đi lúc lập ra đất thánh cho giáo dân nầy.
Ngôi mộ ấy đồ sộ nhứt nghĩa địa, xây bằng vôi và ô đước, xanh đặc những rêu phủ. Lối kiến trúc rất rắc rối như một lâu đài, đầy rẫy ngăn nắp với nào là đường vào lối ra quanh co và hóc hiểm.
Hôm ấy những người của ṿng vây đều ngạc nhiên mà thấy một mái nhà lá dựng ngay trên ngôi mộ cổ ấy.
Nhà dựng đâu từ sớm mai đến trưa là xong cả. Họ cứ tự hỏi, và hỏi nhau làm thế nào mà chủ nếp nhà ấy lội śnh để ra ngoài đó được. Đi tay không đă không được rồi, mà làm sao hắn ta lại mang cả gỗ, tre và lá ra đó để cất nhà?
Hỏi nhau không ai đáp được, mà cũng chẳng mong phỏng vấn thằng cha dị hợm kia, họ đành thôi. Thét rồi mắt họ quen đi, nếp nhà ăn vào chân trời quen thuộc của họ, họ nhận cho nó ơ? đó mà không bàn tới bàn lui ǵ nữa cả.
Sáu Sửu ngày trước có ở xóm Phát Diệm. Năm ấy có người treo cổ trong nhà mồ ở b́a đất thánh. Anh đă vào đó với nhiều kẻ hiếu kỳ khác để xem kẻ chết treo, nên được dịp biết rơ nghĩa địa.
Hôm tháng rồi anh bị truy nă ráo riết nên cố t́m một chỗ ẩn nấp thật kín. Nhớ lại xóm cũ với cái nghĩa địa kia, anh về qua đó và rất hài ḷng mà gặp ḥn đảo nầy.
Không một viên cảnh sát nào đủ can đảm lội śnh nhứt là dầm chơn trong một thứ nước nhơn nhớt để ra ngoài đảo Lỗ B́nh Sơn của anh.
Nếu có cuộc bố ráp đại qui mô như hồi c̣n Tây th́ bất quá họ cũng đứng ngoài mà nh́n vào, hú bậy vài tiếng như hú đ̣ bên kia sông, rồi đ̣ không qua th́ thôi. Họ nghĩ sót một con cá cũng chưa chết ai, mà biết đâu cá đó lại không phải cá hiền, một tên ăn mày nào đó chớ ǵ.
Từ ṿng vây ở ngoài, leo lét vài ngọn đèn dầu của những kẻ lấn đất người chết. Xa thật xa ngoài kia, ánh sáng đô thành làm nổi bật lên, đen thui, những ngôi nhà lầu, những ngọn cây cao. Các thứ nầy giống hệt những h́nh bằng giấy đen, người ta cắt rồi dán lên nền trời.
Bỗng anh Sáu nghe rục rịch dưới sàn ván. Hôm cất nhà xong, anh lót ván lên mộ, vừa để làm nền nhà, vừa để làm giường ngủ. Dưới ván rầm ấy, lau sậy bị đè đầu xuống,và sẽ chết lần ṃn v́ thiếu ánh sáng.
Anh Sáu quên, một thứ khác, cũng giống như lau sậy, mà biết cục cựa nữa kia. V́ thế đêm nay trời có trăng, anh ngồi ngó một ra đám rừng thánh giá trắng th́ anh phải một phen hết hồn trước sự hiện ra của một chú chồn to bằng con chó ta.
Chồn khua lau sậy sột soạt, rồi chui ra khỏi mộ, ngoái cổ lại ḍm cái nhà mà đêm hôm qua đây chưa có. Suốt ngày hôm ấy nó nằm trong hang, không dám ló ra nên không biết ngoài này loài người làm ǵ mà lục đục măi.
Đôi mắt nó lóng lánh dưới ánh trăng, ngạc nhiên giây lát rồi bỏ đi. Nó đă quen với con người rồi nên không có vẻ ǵ sợ sệt cả.
Nhưng anh Sáu lại sợ. Anh có đọc truyện Phong Thần nói chuyện mả Huỳnh Đế có một bầy hồ ly mà một con đă nổi danh trong lịch sử, là cái con đă biến thành nàng Tô Đắc Kỷ; đến nay thấy chồn trong mộ chui ra, anh liên tưởng ngay đến tích cũ rồi rợn người lên.
Nhưng anh trấn tĩnh lại được. Trong dân chúng người ta tin chắc như đinh đóng cột rằng tóc người chết hóa thành con lươn, rồi con lươn hóa thành con chồn. Con chồn mà anh thấy, có lẽ chỉ là thối thân của tóc người nằm dưới nhà mồ, chớ không phải yêu quái ǵ đâu.
Độ nửa tiếng đồng hồ sau, anh Sáu thấy chồn về, mơm ngậm một con vịt.
- A ha, đồng đạo đây mà! Anh Sáu cười mà nói thầm như vậy rồi cảm t́nh ngày với con thú nầy.
Cái đạo mà anh nói đó là đạo... chích; trước kia, trước khi lường gạt và cướp giựt, anh cũng đă đi ăn cắp gà như chú chồn nầy vậy.
Ngày nay anh thôi ăn cắp, nhưng lại biến thành con cáo già chuyên môn gạt gẫm thiên hạ.
- Mầy cáo th́ tao đây cũng cáo, vậy th́ là bồ rồi.
Từ đó, hai con cáo chung đụng với nhau mà không xích mích bao giờ cả.
Nghe động dưới sàn, anh Sáu mỉm cười lẩm bẩm:
- Đồng nghiệp xuất quân đó đa!
Anh Sáu nhờ cậy con chồn nầy lắm. Có nó ở dưới ấy th́ không c̣n lo rắn rít nữa. Anh mong có dịp trả ơn nó, nhưng nó có đói bao giờ đâu để anh ra tay hào phóng mua cho nó một con gà. Xóm lao động vây quanh nghĩa địa, người ta nuôi gà vịt cả bầy, nó ăn đến già cũng chưa hết.
Bỗng anh Sáu nghe có tiếng chó sủa vang dậy lên. Tiếng sủa to lắm và oai vệ lắm, có lẽ đó là tiếng chó bẹc-giê.
Rồi lại nghe nước khua lũm chũm, với tiếng chó càng lúc càng đến gần anh. Anh Sáu bước ra ḍm th́ thấy bạn của anh đang chạy bán sống bán chết trước một con chó to thấy mà bắt ớn.
Anh Sáu tḥ tay vào trong rút cây chĩa ba ra, cây chĩa anh sắm để chĩa ếch dưới nước, rồi lẹ như chớp, anh ch́a mũi chĩa đón đầu chó cho chồn đủ ngày giờ chui vào mả.
Chó bẹc-giê chạy quá đà, bị mũi chĩa đâm vào mơm đau điếng, rống lên vài tiếng rồi trở bước, vừa đi vừa day lại, sủa om như chửi thề.
Anh Sáu cười ha hả rồi cúi xuống sàn mà nói:
- Đêm nay tổ trác rồi đó phải không em! Anh đây cũng bị rượt thường lắm, nhưng đều thoát khỏi cả. Bây giờ th́ đố ai mà dám theo anh vào chốn nầy. Chỗ ở tụi ḿnh kín số dách.
Sáng hôm ấy, anh Sáu đi uống cà-phê, về tới nhà th́ ngạc nhiên hết sức. Trên một ngôi mô. cận mộ anh, một cḥi lá đă dựng lên rồi.
Ngộ quá, nhà cửa sao mà mọc mau lẹ như nấm mối. Uống xong tách cà-phê, đọc xong trang nhứt một tờ nhựt báo là một túp lều cũng vừa dựng xong. Phải mà, chỉ có bốn cây cột thôi th́ chậm sao được!
Anh Sáu ngạc nhiên mà thấy có một người thứ nh́ lại biết con đường bí mật đưa vào đó! Anh lại tức v́ túp lều ấy chặn ngay đầu đường bí mật của anh.
Số là anh Sáu biết lợi dụng mấy ngôi mộ chung quanh nên mới vào đây được. Anh phải đi quanh co nhiều nơi, nhảy từ ngôi mộ nầy qua ngôi mộ khác, ra cửa nhà th́ đi hướng đông, nhưng ra khỏi nghĩa địa lại ra hướng tây, nghĩa là anh phải đánh một cái ṿng rất lớn và rất cong quẹo.
Túp lều tranh ấy cất ngay trên ngôi mộ anh dùng làm đầu cầu cuối cùng để nhảy vào nhà anh, th́ anh c̣n làm sao mà về nhà được, nếu hắn không cho anh nhảy ngang qua nhà hắn?
Anh tức giận lắm toan vào lều mần thằng cha nầy một mách cho nó phải giải tỏa hiểm đạo của anh, anh mới nghe cho.
Anh Sáu vỗ đùi nhảy một cái như bay đi và rơi xuống phiến mộ bia đặt nằm theo lối Châu Âu, trên có khắc mấy gịng chữ như sau:
Ci-git:
Alphonse Thomas Nguyễn-Văn-Nở décédé en sa 78è année Priez pour lui (1)
Phiến đá lớn bằng bộ ván hai, và thằng cha chủ nhà nầy dùng phiến đá ấy để làm bộ ván luôn, nên không thấy nó lót ǵ trên ấy cả mà lại để lên đó nào là va-ly, dép... à... mà sao lại dép đàn bà?
Túp lều che có phân nửa tấm bia thôi; cửa lều là một bức màn bằng vải bông cũ. Anh Sáu bước tới vén màn lên th́ ô nầy lạ,chủ nhơn bà (chớ không phải chủ nhơn ông) là một thiếu phụ tóc quăn.
Chủ nhơn bà b́nh tĩnh chào anh Sáu bằng một mỉm cười yên lặng.
Có lẽ chồng chị ta đi làm rồi chăng? Nhưng vẫn lạ là chị không có vẻ lao động chút xíu nào hết. Móng tay chị đỏ choét và nhọn hoắt, nước da mặt của chị bị phấn ăn, chỗ th́ mét chằng, chỗ th́ thâm đen ś, mắt chị mệt đừ và sâu hóm như mắt cô đào hát bội.
Y phục của chị cũng không phải y phục của những kẻ đầu tắt mặt tối: lai quần gắn ren, áo cổ bà lai thêu rằn rịt xanh đỏ, tóc th́ kẹp thành đuôi ngựa, cột bằng ruy-băng màu.
Chị ngồi trên chiếc rương thiếc nhỏ, món đồ từ khí độc nhứt trong cḥi, mỉm cười rồi giây lát hất hàm hỏi anh:
-        Có tiền măi lộ không? Nếu không, mỗ không cho đi ngang qua đây. Mỗ đóng đồn ở đây rồi, ai bước qua phải đóng thuế.
Anh Sáu thọc tay vào túi quần tây cũ của anh đứng thẳng lên coi oai vệ như một tướng cướp trong xi-nê-ma, cười gằn rồi ngạo nghễ đáp:
- Hỡi cô nữ tướng mă thượng giang hồ, nữ tướng không có lâu la th́ đ̣i tiền mă lộ ai được. Nữ tướng có giỏi th́ bước ra ngoài đánh với ta vài mươi hiệp cho rơ tài cao thấp.
Nữ tướng cười x̣a v́ nghe giọng điệu th́ biết đă gặp tay đồng điệu. Tuy bắt nạt hắn không được nhưng bắt bồ với hắn có thể có lợi.
Anh Sáu xem qua th́ biết nữ tướng thuộc vào hạng người nào trong xă hội rồi. Đây cũng là một kẻ trốn chui như anh, như con cáo dưới giường anh. Cả ba đều là chồn, nhưng con chồn cái này đă tu luyện nhiều năm nên mang được h́nh người. Đây là một thứ hồ ly không hớp hồn nho sĩ mà chỉ hốt bạc cắc của mấy anh lao động thôi.
Đầu anh Sáu đụng nóc cḥi, anh khó chịu quá nên ngồi xuống:
-        Ở đây không sợ mang tội à? Anh hỏi đùa.
-        Chớ c̣n anh?
-        Tôi th́ khác. Ngôi mả của tôi cũ lắm rồi.
Đó là một cái nhà của một người chết đă đi đầu thai kiếp khác rồi.
Con chồn cái bỗng bỏ cái cười, buồn nét mặt lại rồi chỉ ra ngôi giáo đường trước nghĩa địa.
Tiểu giáo đường tuy chỉ để làm lễ mỗi khi đám xác nào tới đây thôi, nhưng cũng đồ sộ
ábằng một nhà thờ ở thôn quê. Tuy ngói đă bị tốc nhiều nơi, gạch, đá trên tường nhiều viên đă ră và rớt xuống, cửa sổ gỗ đă bung hết, cửa kính màu đă bể nát, nhưng toàn thể công tŕnh kiến trúc gô-tích ấy vẫn c̣n mang cái phong độ vĩ đại của thời Trung Cổ Châu Âu.
- Anh thấy không? Chị ta nói. Nếu ḿnh dám vào trong đó mà ở th́ đâu có phạm tội như vầy.
Anh Sáu thở dài rồi không thèm chào hỏi ǵ cả vỗ đùi nhảy bay qua nhà anh.
Từ đó bộ ba chịu đựng nhau để sống chung nhau.
Họ khác nhau ư tứ, phong tục, thói quen, lối sống, nhưng cả ba con cáo đều có một nỗi băn khoăn chung là cả ba đều sợ: Con cáo chánh hiệu con... cáo th́ sợ chó bẹc-giê, con cáo già sợ Công An, c̣n con hồ ly cáo cái th́ sợ lính kiểm tục.
Trong cảnh khổ giống nhau, tuy họ không tương đắc với nhau được và vẫn phải tương thân để bảo vệ nhau, khi cần. Mà nhứt là để an ủi lẫn nhau.
Anh Sáu không thích đờn bà lắm. Hay nói cho đúng ra, anh đă chán chê đờn bà, nhứt là chán những hạng đờn bà như con hồ ly không bao giờ chịu xưng tên nầy.
Nhưng mà những đêm mưa dầm buồn quá, nằm giữa cánh đồng ma mà được có người để tṛ chuyện với nó th́ ấm biết bao!
Những đêm mưa như vậy, con hồ ly không đi kiếm ăn được, mà cũng không đủ sức mạnh để nhảy qua nhà anh Sáu v́ ḥn đảo của anh ở xa măi ngoài giữa ḍng nước, nên hồ ly ta thắp lên một ngọn nến rồi ngồi bó gối mà ca trật lất bản nhạc “Đêm đông”.
”Đêm đông, ca nhi đối gương ôm sầu riêng bóng”.
Gió đâm sầm vào tiểu giáo đường đằng trước kia, tung hoàng giữa gian pḥng trống mênh mông rồi vừa hú vừa chui ra khỏi các cửa sổ nghe bắt lạnh ḿnh.
Mấy cây thùy liễu hiếm hoi đă kháng cự được với lau sậy để sống sót, đứng cúi đầu khóc sướt mướt dưới trận mưa dầm, trong ánh trăng mờ.
Mộ hàng hàng như bầy cừu nằm nghỉ, gặm cỏ héo hon và vô vị, hút đắng cay trên miếng đất mồ côi (2).
Đây là chốn mà mộng đời bị cắt đứt nửa chừng, kẻ chết yên nghỉ thiên thu, mà người sống cũng khó mong trở về với xă hội loài người.