|
|
-
Nhà Văn B́nh Nguyên Lộc
-
- Phan Bá Thụy
Dương & Vương Trùng Dương
-
-
Bình Nguyên Lộc là bút hiệu của nhà văn miền
Nam. Ông tên thật là Tô Văn Tuấn, sinh ngày 7-3-1914 tại làng Tân Uyên tỉnh
Biên Ḥa - nay là thị trấn Tân Uyên tỉnh B́nh Dương và mất ngày 7 tháng 3
năm1987 tại Hoa Kỳ.
-
Ông lấy bút hiệu Bình Nguyên Lộc vốn thoát
từ Đồng Nai, tác phẩm đầu tay là Hương Gió Đồng Nai.
-
Trong tác phẩm Sống & Viết của Nguyễn Ngu
Í, ần hành trước năm 1975 tại Sài Gòn. BNL làm công chức kho bạn từ
năm 1943 đến 1945. Viết báo và viết van7 năm 1943. Chủ trương tuần báo
vui sống năm 1959 và nhà xuất bản Bến Nghé. Từ năm 1943 đến 1966, qua
hai thập niên đã viết được 820 truyện ngắn, 52 tiểu thuyết, 3 tập thơ
và tập khảo cứu về Y Học với trưởng nam là Bác sĩ Tô Dương Hiệp, 3
tập cổ văn, 2 truyện cổ tích bằng thơ và một số truyện nhi đồng…
-
B́nh Nguyên Lộc bắt đầu sáng tác từ thập niện 30
của thế kỷ XX. Theo nhà văn Hồ Nam tức thi sĩ Vương Tân viết trong tác phẩm
100 Khuôn Mặt Văn Nghệ Sĩ th́ trước năm 1945 BNL ông
là nhà báo, kư bút hiệu Bầu Tèo chuyên viết hài văn và là trợ bút của
tuần báo Thanh Niên do Huỳnh Tấn Phát làm Chủ Nhiệm, Chủ Bút;
sau đó ông viết truyện ngắn rồi truyện dài và nghiên cứu. Tập truyện ngắn đầu
tay mang tên Nhốt Gió của B́nh Nguyên Lộc đă thoát được cái không khí văn
chương tiền chiến, đă gây chấn động sinh hoạt văn nghệ ở Saigon trong những
năm cuối thập niên 40. Ông là cây viết có sức sáng tác dẻo dai bền bỉ phi
thường có lúc ông viết ba truyện dài đăng báo hàng ngày liên tục cả năm. Nhà
văn BNL c̣n một bút hiệu khác mà ít người biết đựợc là Phong Ngạn.
-
Sau ngày 30 tháng Tư năm 1975 ông bị kẹt lại
trong nước và khi đụng thực tế th́ ông vỡ mộng, không sáng tác. V́ không
chấp nhận làm "văn nô", không chấp nhận thứ văn chương "tôi đ̣i" nên ông đă di
cư sang Mỹ. Những năm cuối đời B́nh Nguyên Lộc đi vào địa hạt nghiên cứu ngôn
ngữ học, nghiên cứu dân tộc học. Cuốn Nguồn Gốc Mă Lai của dân tộc Việt Nam
của ông đă gây nhiều dư luận trong giới học thuật.
-
Bài viết của Hồ Nam trong 100 Khuôn Mặt Văn
Nghệ Sĩ với những dòng kết:
-
“B́nh Nguyên Lộc là nhà
văn Nam bộ tầm cỡ ngang ngửa với Hồ Biểu Chánh nhưng ông lại hơn Hồ Biểu Chánh
ở chỗ c̣n viết nghiên cứu và ông là người đầu tiên đặt vấn đề nguồn gốc người
Việt Nam không phải hoàn toàn là nguồn gốc phương Bắc, nguồn gốc dân Bách
Việt di cư từ Động đ́nh Hồ xuống đồng bằng châu thổ sông Hồng mà c̣n là dân
bản địa mang nguồn gốc Mă Lai sống ở đồng bằng châu thổ sông Hồng từ trước khi
có cuộc di cư của dân Bách Việt rất lâu.

-
Vấn đề B́nh Nguyên Lộc
đặt ra đă gây tiếng vang trong giới học thuật đáng lẽ phải có người nghiên cứu
tiếp; tiếc rằng đến nay giới học thuật quá "bảo thủ" chẳng ai đả động tới cả
nhất là phạm vi ngôn ngữ học, phạm vi tiếng Việt của nguồn gốc Mă Lai.
-
Một người có văn tài, có
thực học phải sống lưu vong như B́nh Nguyên Lộc rồi chết trong quên lăng thật
là vô cùng đáng tiếc; nhất là trước khi chết B́nh Nguyên Lộc đă hoàn thành
nhiều tập truyện và mấy bộ sách nghiên cứu nhưng thân nhân của B́nh Nguyên Lộc
không có hoàn cảnh và cơ hội công bố; thật vô cùng thiệt tḥi cho nền văn
chương Việt Nam cũng như nền học thuật Việt Nam thế kỷ hai mươi”.
-
Gần đây, Nhà Xuất bản Văn học phát hành “Tuyển
tập B́nh Nguyên Lộc” gồm 4 tập, 2.400 trang khổ 14,5x20,5 cm. Đây là một bộ
sách quư, tuyển chọn từ hơn trăm tác phẩm (truyện dài và truyện ngắn) đă xuất
bản của nhà văn B́nh Nguyên Lộc trong khoảng thời gian từ năm 1950 đến 1975.
-
-
Tác Phẩm tiêu biểu
-
Ái Ân Thâu Ngắn Cho Dài Tiếc Thương - Bóng Ai Qua
Ngoài Cửa - Cần Giờ - Diễm Phương - Đ̣ Dọc (Giải thưởng Văn Chương Toàn
Quốc năm 1959 - Ông cũng đă từng được giải thưởng Khôi Nguyên Văn Chương Quốc
Gia với cuốn Gái Chợ Về Quê.) - Đừng Hỏi Tại Sao - Gieo Gío Gặt Băo- Hoa Hậu
Bồ Đào - Khi Từ Thức Về Trần- Kư Thác - Lột Trần Việt Ngữ- Một Nàng Hai Chàng
- Mưa Thu Nhớ Tằm - Nguồn Gốc Mă Lai cùa Dân Tộc Việt Nam - Nhện Chờ Mối Ai -
Những Bước Lang Thang Trên Phố Của Gă BNL - Nửa Đêm Trăng Sụp- Quán Tai Heo -
Sau Đêm Bố Ráp Cuống Rún Chưa Ĺa - Tâm Trạng Hồng - Thầm Lặng - T́nh Đất -
Trăm Nhớ Ngàn Thương - Uống Lộn Thuốc Tiên
-
-
Cali Weekly xin giới thiệu với bạn đọc truyện ngắn
tiêu biểu và được nhiều người ca tụng nhất của ông: Rừng Mắm và Ba Con Cáo.
-
-
-
RỪNG
MẮM
-
B́nh Nguyên Lộc
-
-
Chim đang bay lượn bỗng
đứng khựng lại, khiến thằng Cộc thích chí hết sức. Nó theo dơi con chim thầy
bói ấy từ năy đến giờ, chờ đợi cái phút nầy đây.
-
Thật là huyền diệu, sự
đứng yên được một chỗ trên không trung, trông như là chim ai treo phơi khô
ngoài sân nhà.
-
Chim thầy bói nghiêng
đầu ḍm xuống mặt rạch giây lát rồi như bị đứt dây treo, nó rơi xuống nước mau
lẹ như một ḥn đá nặng. Vừa đụng nước, nó lại bị bắn tung trở lên như một cục
cao su bị tưng, mỏ ngậm một con cá nhỏ.
-
Cộc ngửa mặt lên trời để
theo dơi ông câu kỳ dị và tài t́nh ấy nữa, nhưng mắt nó bị ngọn dừa nước bên
kia bờ rạch níu lại.
-
Trên một tàu dừa nước,
một con chim thằng chài xanh như da trời trưa tháng giêng, đang yên lặng và
bền chí ŕnh cá.
-
Trong thế giới bùn lầy
mà thằng Cộc đang sống, ai cũng là ông câu cả, từ ông nội nó cho đến những con
sinh vật nhỏ mọn qui tụ quanh các ngọn nước.
-
Màu xanh của chim thằng
chài đẹp không có màu xanh nào sánh kịp. Sự bền chí của nó cũng chỉ có sự bền
chí của các lăo c̣ sầu năo là ngang vai thôi, cái bền chí nh́n rất dễ mê,
nhưng mê nhứt là mũi tên xanh bắn xuống nước nhanh như chớp, mỗi khi thằng
chài trông thấy con mồi.
-
-
Thằng Cộc là một đứa bé
bạc t́nh. Một đàn c̣ lông bông bay qua đó, đủ làm cho nó quên thằng chài ngay.
Là v́ đầu c̣ chởm chởm những cọng lông bông, nhắc nhở nó những kép vơ hát bội
gắn lông trĩ trên măo kim khôi mà nó đă mê, cách đây mấy năm, hồi gia quyến nó
c̣n ở trên làng.
-
Hồi ấy nó sướng lắm.
Quanh nhà nó, có hàng trăm nhà khác, có vườn cây trái, có nước ngọt quanh năm,
có trẻ con để nó làm bạn, để nó đùa giỡn với.
-
Nhưng không hiểu sao một
hôm tía nó bán chiếc cḥi lá đi, rồi ông nội nó, tía nó, má nó và nó, một đứa
bé mười tuổi, kéo nhau xuống một chiếc xuồng cui, một thứ xuồng to mà người ta
gọi là xuồng mẹ, ghe con. Rồi họ đi lang thang từ rạch hoang vắng nầy đến kinh
hiu quạnh nọ, và rốt cuộc dừng bước nơi cái xó không người nầy mà ông nội nó
đặt tên là xóm Ô-Heo.
-
Nghĩ đến những năm cũ,
thằng Cộc bỗng nghe thèm người vô cùng, thèm c̣n hơn là thèm một trái xoài
ngọt, một trái khế chua mà từ năm năm nay nó không được nếm.
-
-
Những người di cư năm nọ
trên chiếc xuồng cui vẫn c̣n sống đủ cả. Những chiều nghi ngút sương mù từ đất
lầy bốc lên, và những đêm mưa gào gió hú, những người ấy kể chuyện cho Cộc
nghe, những chuyện ma rởn óc như ăn phải trái bần chua. Nhưng dầu sao, Cộc
cũng thích người khác hơn, cũng như nó thích vườn tược sầm uất hơn cảnh rừng
tràm tối mịt hoặc cảnh đồng không bát ngát ở đây. Ở đây, cho đến tiếng chó
sủa, tiếng gà gáy nó cũng không nghe từ lâu. Con chó săn và mấy con gà giống
mang theo, đă ngă lăn đùng ra mà chết ngay trong tháng mới tới. Thằng Cộc ngạc
nhiên mà thấy sao người vẫn không chết trong khí hậu tàn ác nầy: nóng, ẩm, c̣n
muỗi ṃng th́ quơ tay một cái là nắm được cả một nắm đầy.
-
Chưa bao giờ mong mỏi
của Cộc được thỏa măn mau lẹ như hôm nay. Nó vừa thèm người th́ tiếng ḥ của
ai bỗng vẳng lên trong rừng tràm, rồi tiếp theo đó là tiếng chèo khua nước:
-
-
Ḥ ơ... tháng ba cơm
gói ra ḥn,
-
Muốn ăn trứng nhạn
phải ḷn hang mai.
-
-
Mũi xuồng cui ló ra khỏi
khúc quanh của con rạch, và trên xuồng, chồng chèo lái, vợ ngồi không trước
mũi mà ḥ. Cặp vợ chồng nầy, Cộc quen mặt mấy năm nay, nhưng không biết họ từ
đâu đến. Nó chỉ biết họ ra biển để bắt cua và bắt ba khía, một năm mấy kỳ.
Nghe tiếng người lạ nói, nhứt là tiếng hát, Cộc sướng như có lần tía nó cho nó
ăn một cục đường từ nơi xa mang về.
-
Thà là không được ăn,
chớ c̣n ăn một chút xíu th́ cái vị của món ăn c̣n chọc thèm hơn bao giờ cả.
Nên chi Cộc nh́n xuồng chèo khuất dạng rồi th́ xây lưng tức khắc để chạy lên
Ô-Heo.
-
Trọn vùng nầy, ông nội
nó đặt tên là Ô-Heo. Nhưng riêng trong trong riêng gia quyến nó th́ Ô-Heo
chánh hiệu là một cái g̣ xa ở trên kia, cách mé rạch đến hai dặm hú. Số là hồi
trước, ngày đầu tới đây, ông nội nó với tía nó đi kiếm đồ ăn trong rừng, đă
gặp nơi đó một ổ heo rừng. Cả ổ heo đều bị sát hại hôm đó và việc canh tác của
gia quyến nó về sau nầy đă đuổi thú dữ đi xa.
-
Tuy nhiên, đề pḥng
chúng trở lại, ông nội nó đă cấm nó lên Ô-Heo một ḿnh. Thằng Cộc lại thích
lên đó, ban đầu chỉ v́ Ô-Heo có sức quyến rũ của một trái cấm, nhưng về sau,
nó gặp người nơi đó.
-
-
Đó là vài người đàn ông
và đàn bà, nói là ở xa lắm, cách đó một ngày đường sông. Đàn ông th́ đến để
gác quốc, gác nhan sen, c̣n đàn bà th́ để nhổ bồn-bồn về làm dưa bán.
-
Đó là những người bạn bí
mật của nó, nó giữ kín không cho nhà nó biết. Họ hay kể chuyện xóm làng,
chuyện đám cưới, đám ma, đám hát, đám cúng đ́nh, tóm lại tất cả sanh hoạt của
làng mạc mà từ lâu Cộc không thấy và ngậm ngùi tưởng đến như nhớ những kỷ niệm
xa xôi.
-
Cộc chạy qua khỏi ruộng
nhà và đứng lại nghỉ mệt. Nó mệt lắm v́ nó chạy dưới nước và dưới bùn, mặc dầu
lúa đă đến mùa gặt.
-
-
Năm xưa, gia quyến nó
đến đây vào cuối tháng giêng, sau khi cúng ông vải xong ở quê cũ. Ông nội nó
với tía nó đốt rừng tràm từ ngoài bờ rạch. Gió thổi vô rừng, và lửa, như con
vật khổng lồ, đă táp một cái vào khối thịt xanh um của biển rừng tràm nầy.
Thành ra ruộng nhà nó mang một h́nh tṛn ḱ dị, không tṛn đều đặn v́ không ai
chỉ huy được sự cháy rất là rắn mắt của ngọn lửa.
-
Cộc nh́n ruộng ḿnh một
hồi rồi cười khan lên. Đám rừng bị khoét một lỗ để làm ruộng, trông như đầu
tóc trẻ con được mẹ cạo, nhưng mới cạo có một mảng th́ có chuyện gấp, bỏ dở
công việc; đứa bé bị chúng bạn chế nhạo là đầu chó táp.
-
-
Lúc ruộng chín, cây lúa
cao quá, ngă rạp xuống, để ḷi trăm ngàn gốc tràm lên, trông như ai đóng cọc
để cất nhà sàn; năm xưa đốt rừng nhưng không đủ sức đánh những gốc tràm tươi
rói không cháy được nầy, tía thằng cộc đành cấy lúa giữa những gốc ấy, măi cho
đến ngày nay mà gốc vẫn chưa mục. Tía nó nói mười năm nữa, tràm chết cũng vẫn
c̣n đưa cẳng lên như vầy.
-
-
Sau lưng Cộc là những
rặng tràm bị cháy sém dưới trận lửa khai hoang, không chết ngay, nhưng "chết
nhát", cứ mỗi năm chết lần ṃn thêm vài mươi cây. Mấy hàng tràm đầu nám đen và
trụi nhánh như cột nhà cháy, câm hận nh́n chiếc cḥi lá xa tít mù dưới mé rạch
đang chứa chấp kẻ thù đă lấn đất của chúng, đă sát hại chúng.
-
Sau đó, rừng dày mịt,
chằn chịt những dây ḅng bong, dây choại, ḅ từ thân cây nầy qua thân cây
khác.
-
Thằng Cộc lắng tai nhưng
không nghe tiếng động nào cả. Nó đánh bạo chen qua những cây b́nh-bát, cây
ráng, mọc xen với tràm, để đi tới đích.
-
Một ổ chồn cộc bỗng chạy
qua trước mặt nó, khua lên một cái roạch, làm nó giựt ḿnh, nhưng tiếng người
trên Ô-Heo cách đó chững hai hàng cây, giúp cho nó vững dạ.
-
-
Tiếng đàn bà hỏi:
-
- Anh hổng sợ thằng Mùi
hay sao ?
-
Tiếng đàn ông đáp:
-
- Thằng Mùi th́ qua cho
một loi là nhào hớt.
-
Cộc vẹt cỏ lá, đi mau
đến đó và khi nó chun ra khỏi khối xanh th́ hai người có mặt trên g̣ Ô-Heo sợ
hăi ngồi dang ra. Người đàn ông gác quốc là người quen, người đàn bà nhổ
bồn-bồn th́ lạ hoắc. Chị nầy trẻ đẹp hơn tất cả những chị mà nó quen biết từ
lâu.
-
Người đàn ông tự trấn
tỉnh lại ngay, ngoắt nó lại mà hỏi:
-
- Muốn về trển hay không
Cộc ? Muốn th́ đi theo chị hai mầy đây, chỉ có một đứa em gái ngộ lắm.
-
Trong khi thằng Cộc mắc
cở tía tai th́ chị đàn bà hỏi anh kia:
-
- Ở miệt nầy có người
sao anh ?
-
- Chỉ có một nhà thôi.
Mới tới đây chừng năm năm.
-
- Quen hay lạ ?
-
- Lạ. Họ ở trên Sa-Đéc
lận.
-
Chị đàn bà an ḷng, vui
lại được và nói với Cộc để mua ḷng kẻ đă bắt chợt việc thầm lén của chị:
-
- Em của chị không bao
giờ chịu về làm dâu ở một chổ như vầy. Em có muốn th́ phải ở rể thôi.
-
-
Rồi hai người lớn cười
ngặt nghẹo với nhau.
-
Thằng Cộc mới mười lăm,
nhưng cao lớn gần bằng người đàn ông kia. Ḿnh trần của nó nổi u, nổi nần
những bắp thịt rắn như nắn bằng đất sét gắn vào đó rồi nung cho đen và cứng.
-
-
Sự nẩy nở của thân thể
nó đi song đôi với sự trưởng thành của đời sống sinh lư bên trong của nó. Năm
nay nó đă bắt đầu bâng khuâng mỗi khi chiều xuống, mặt trời đốt cháy đỏ đầu
rừng tràm trầm thủy trước nhà. Nhưng sống cô đơn ở đây, nó không biết chuyện
trai gái như vầy là xấu đến mức nào và nó phải có thái độ làm sao nên bối rối
lắm.
-
-
Chị đàn bà nắm tay nó,
rị nó ngồi xuống bên cạnh chị, vỗ lên đầu nó rồi dỗ ngọt:
-
- Chị không ăn thịt em
rể chị đâu mà sợ. Mầy mà về trển làm ruộng th́ ai cũng ưa. Làm rể có công, ba
năm th́ má chị gả con Thôi cho mầy liền. Nói thiệt đó mà.
-
- Nó muốn trốn theo qua
dữ lắm, người đàn ông nói, nhưng nó c̣n ngại.
-
- Ngại ǵ ?
-
- Th́ lo sợ cái việc xa
xôi đất lạ đó mà.
-
- Em nè, chị đàn bà lại
hỏi, nhà có mấy người ?
-
- Bốn người ?
-
- Ai với ai ?
-
- Ông nội tui, tía tui,
má tui với tui.
-
- Làm mấy công đất ?
-
- Hồi đó bốn công, bây
giờ mười công.
-
- Gặt được bao nhiêu giạ
mỗi mùa ?
-
- Tám giạ.
-
Chị đàn bà cười ngất một
hồi rồi day lại hỏi nhơn t́nh:
-
- Trời ơi, ruộng ǵ mà
mười công đất, chỉ gặt được có tám giạ thôi ?
-
Người đàn ông không
cười, đáp:
-
- Đất nước mặn nào mới
khai hoang cũng như vậy hết.
-
- Rồi lấy ǵ mà ăn em
nhỏ ?
-
- Tía tôi đi đổi lúa
thêm, ở đâu không biết, xa lắm.
-
- Đổi bằng ǵ ?
-
- Bằng cá khô. Với lại
cũng chẳng cần ăn cơm. Nhiều khi ăn rùa, ăn rắn trừ cơm. Ở đây, rùa nhiều như
kiến. Đốt rừng rồi đón trên đầu gió một lát là chúng nó lạch cạch chạy trốn
lửa, bắt không kịp lận.
-
-
Chị đàn bà tỏ vẻ ái ngại
một hồi rồi nói:
-
- Năy giờ chị nói chơi
đó. Nhưng biết được t́nh cảnh của em, chị thật bụng thấy là em cần đi theo chị
hoặc là anh đây cũng được.
-
Chị ta vói tay sau lưng,
lấy bầu nước ngọt, mở nút ra rồi ngước mặt lên trời, rót nước vào miệng. Chị
uống ừng ực vài cái rồi lại nói:
-
- Em có được ăn chè lần
nào không ?
-
- Không, từ năm năm nay
rồi. Cách đây một ngày đường nước, không có nhà cửa ai cả, không có quán tiệm
ǵ hết. Với lại cũng không có tiền.
-
- Ở Sa-Đéc sao lại không
vô Tháp Mười mà nhè xuống U-Minh nầy ?
-
- Tui cũng không biết
tại sao. Nhưng ở Tháp Mười dễ chịu hơn hả ?
-
- Chị cũng không biết.
Chỉ biết đất hoang ở Tháp Mười gần quê cũ của em hơn. Quê em ở gần Cao Lănh
phải không ?
-
- Gần.
-
- Em có nhớ xoài Cao
Lănh hôn ?
-
- Tui lạy chị, đừng có
nhắc chè, nhắc xoài nữa, tui thèm muốn chết đi. Năm năm nay, tui không có biết
món ngọt là ǵ. Mấy cây chuối trồng sau nhà cũng chết queo v́ đất c̣n mặn quá.
Năm nay một cây trổ buồng, chắc tôi được ăn ngọt đây. Úi chà ! Trưa rồi, chắc
tới bữa cơm, thôi tui về nha, anh, chị ?
-
- Ừ về, mai mốt lại lên
đây nữa nha ?
-
- Xuồng anh chị ở đâu ?
-
- Dưới kia. Nhổ bồn-bồn
ở dưới ấy, nhưng lên đây cho khô ráo để ăn cơm trưa é mà. Em Cộc nè, em của
chị ngộ lắm, trắng lắm nghe không ?
-
Chuỗi cười của hai người
nhơn t́nh ấy đuổi theo sau lưng Cộc khiến cho nó, trong giây phút, không muốn
về nhà nữa.
-
-
Ra khỏi rừng tràm râm
mát, mắt Cộc bỗng dưng như đổ hào quang trước ánh nắng tháng mười. Không khí
bị đốt cháy, đang rung rinh như nước xao, và nó tưởng chừng như mái lá nhà nó,
đen thui dưới kia, sắp cháy đến nơi.
-
Thằng Cộc về tới nhà th́
cơm trưa đă dọn xong.
-
- Mầy đi đâu mà tới đứng
bóng mới về ?
-
- Tui đi lượm lông chim
Long ô.
-
- Lông đâu ?
-
- Mà kiếm hoài hổng có.
-
- Mồ tổ cha mầy, nhiều
chuyện. Chim Long ô đời xưa mới có chớ đời nay đâu c̣n nữa. Mai gặt nghe không
? Ăn cơm khuya rồi xuống đồng cho sớm, đừng đi đâu hết.
-
-
Cả nhà lặng lẽ ngồi
quanh mâm cơm, Không ai nói với ai lời nào. Những người nầy, sống biệt tịch ở
đây lâu ngày rồi, đă biến thành á khẩu v́ thói quen.
-
Riêng thằng Cộc, sự cần
nói của tuổi thơ đang lên mạnh lắm như cần chạy nhảy, cần ăn uống vậy. Câu
chuyện hồi năy trên g̣ Ô-Heo khiến nó càng bắt mùi nói thêm, nên nín không
được, nó hỏi ông nội nó:
-
- Nội nè, hồi mới tới,
giữa mùa nắng, ḿnh uống nước ǵ, tui quên rồi ?
-
Nó hỏi như vậy v́ nó vừa
nh́n ra cái giếng bên hè và nhớ ra là giếng đă ngọt nước hôm mùa nắng trước,
mặc dầu đă được đào từ năm năm rồi.
-
- Uống nước đọng trên
lung, trên rừng, chớ uống nước ǵ.
-
- Sao ḿnh tới đây ông
nội ?
-
- Đă nói cho mầy biết
rồi. Trên xứ, ḿnh không có ruộng, làm công khổ cả đời.
-
- Ở đây, ḿnh có ruộng,
nhưng cũng khổ cả đời.
-
Ông nội thằng Cộc lặng
thinh. Nó nh́n ông nội nó rồi chợt nhận ra rằng năm nay ông cụ già quá. Tóc
râu của ông cụ đă trắng bông. Nhớ ra ông cụ thường than ḿnh nhớ mồ, nhớ mả
ông bà quá, nó bùi ngùi thương ông nên ḍm ra sân để quên.
-
-
Bấy giờ bóng của bốn cái
nồi rau đă tṛn vành, chỉ rằng thật đúng ngọ. Bốn cái nồi bể ấy, hèn là thế mà
rất là công dụng đối với nhà nó.
-
Để tránh nước mặn tràn
bờ ngập sân, tía nó đă đóng mười hai cây cọc, làm thành bốn cái giá ba chơn
tréo như giá trống của bọn đờn thổi đám ma. Trên mỗi giá, đặt một cái nồi lủng
đít, và trong nồi để đầy đất mà tía nó mang từ xa về. Đất ở đây mặn chát dùng
không được. Hành, ớt, rau răm, rau mồ om, được trồng trong mấy cái vườn cao
cẳng đó. Đó là bốn thứ tối cần, đất mặn bao nhiêu cũng phải lập thế mà trồng
cho được, không thôi không có món gia vị nào để ăn cá nữa.
-
-
Bốn miếng vườn cao cẳng
và tí hon lại là chiếc đồng hồ của nhà nầy vào mùa khô. Cứ bằng vào bề dài của
bóng giá là tính giờ được ngay, và khi bóng nồi tṛn vụm che mất bóng giá là
đúng ngọ ngay bon.
-
Nh́n ra sân một hơi,
nhai nuốt hết cơm, nó day vô và hỏi tía nó:
-
- Năm nay ḿnh gặt cỡ
được bao nhiêu tía ?
-
- Nhờ ông bà, đất nước,
ít lắm cũng được hăm lăm giạ.
-
- Cũng chưa đủ ăn.
-
- Đủ ǵ mà đủ, má nó
nói, nhà ḿnh phải ăn trăm rưỡi là số chót.
-
- Với lại, tía thằng Cộc
trở vào câu chuyện, tại lúa nàng Cụm thất gạo lắm. Năm tới ta gieo giống Tầm
Vuột chắc được gạo hơn nhiều. Năm nay hễ chuối trổ buồng th́ năm tới tao trồng
sả, trồng ổi được rồi đó.
-
-
Cả nhà đều hớn hở trước
dự định tương lai tốt đẹp kia. Nhưng thằng Cộc chưa thấy ǵ là xán lạn cả.
Trồng ổi th́ cũng phải khá lâu mới có trái, trong khi đó nó tiếp tục thèm chè,
thèm xưng xa, nhớ đám cúng đ́nh, nhớ hát bội và bị một h́nh ảnh mới quyến rũ,
h́nh ảnh của con Thôi, chắc là giống hệt chị nhổ bồn-bồn, tức là có duyên lắm.
-
Con trai làng thấy con
gái rất thường, thế mà họ c̣n thầm lén rủ nhau đi một ngày đường nước để ra
đây gặp nhau, huống hồ ǵ nó chưa được nói chuyện với con gái lớn lần nào hết.
Những đứa con gái bạn của nó cách đây năm năm, nó nhớ lại th́ không có ǵ
quyến rũ cả. Đứa nào cũng cạo trọc chừa bánh bèo phía sau và giữa chiếc bánh
bèo, mọc ra một cḥm đuôi dài trông đến buồn cười.
-
Nhưng mà con gái lớn
phải khác. Cộc chưa thấy con gái lớn, nhưng tin chắc như vậy. Có một linh cảm
ǵ, ở đâu từ kiếp tiền thân của nó bay lại và giúp cho nó biết như vậy. Những
cô con gái lớn chưa thấy h́nh ấy, mà đă có tiếng kêu được, chúng âm thầm gọi
Cộc, tiếng gọi như văng vẳng đâu trong không trung.
-
-
Thẩn thờ, thằng Cộc nói
lại câu hồi năy, và giận giỗi, thêm một đoạn khiến ông nội nó giựt ḿnh, chống
đũa mà nh́n nó trừng trừng:
-
- Ở đây ḿnh có ruộng
nhưng cũng khổ cả đời. Tui muốn đi quá, đi đâu cũng được, miễn ở đó có làng
xóm, có người ta.
-
Thằng Cộc thích mấy cây
nọc nạng lắm. Bó lúa nào gác lên đó cũng nằm yên cả chớ không chực rớt xuống
nước ruộng như những bó lúa gác trên đầu nọc thường.
-
Đó là những gốc tràm mà
cháng hai chẻ ra rất thấp. Khi đốn tràm cháy, tía thằng Cộc đă trù xa, đốn ở
trên cháng hai ấy độ một gang rưỡi nên bây giờ họ mới có nọc nạng rất tiện mà
dùng gác lúa.
-
Ông nội thằng Cộc chống
xuồng trên ruộng, len lỏi qua mấy gốc tràm. Ông ghé từng gốc để cho lúa xuống
xuồng.
-
-
Đủ thứ là c̣, c̣ ma, c̣
lông bông, c̣ quắm, c̣ hương, thân mật nh́n gia đ́nh bốn người gặt lúa nhà.
Đây là bốn người độc nhứt mà chúng thấy mỗi ngày ở vùng hoang vắng nầy; ban
đầu chúng sợ hăi họ, nhưng về sau, thấy họ hiền từ quá, chúng làm quen với họ
đă được bốn thế hệ c̣ rồi.
-
Má thằng Cộc lội śnh
tới đầu gối, và lội nước gần tới háng nhưng vui vẻ hơn ngày nào hết. Bà ta
tằng hắng rồi cất tiếng ḥ:
-
-
Ḥ... ơ... tiếng anh
ăn học làu thông,
-
Lại đây em hỏi khăn
lông mấy đường ?
-
-
Ḥ xong câu đố ấy, bà
lắng đợi chồng bà ḥ đáp. Nhưng tía thằng Cộc cứ làm thinh mà gặt, khiến bà
đâm ngượng nên cười rồi cự chồng cho đỡ mắc cỡ:
-
- Tía nó sao câm cái
miệng lại, không bắt vậy ?
-
- Hứ, nhiều chuyện nà !
Già rồi mà c̣n ḥ với hát, bắt với ghẹo. Bộ c̣n trai gái ǵ đó sao ?
-
V́ vui kết quả của cần
cù nên má thằng Cộc quên rằng bà ta đă quá mùa ḥ rồi. Tía nó nhắc lại bà ta
mới chợt nhận ra. Tuy nhiên bà vẫn ngậm ngùi nhớ cái thú vui ấy thuở bà c̣n
con gái và ngay bây giờ đây, tóc đă nhuốm hoa râm rồi, bà cũng hưởng được nếu
c̣n ở làng, hưởng bằng cách khuyến khích bọn trai trẻ ḥ đối đáp với nhau.
-
Thằng Cộc th́ xôn xao
trong ḷng, nhớ lại lời chị nhổ bồn-bồn bảo rằng nó mà về làng làm ruộng th́
ai cũng ưa. Ừ, nó sẽ ḥ đối đáp với con Thôi. Chậc ! Mà nó phải nhờ má nó dạy
ḥ mới được. Nó có nghe ḥ lần nào đâu để mà thuộc giọng và biết câu.
-
Đến chiều th́ xong xuôi
cả. Ông nội thằng Cộc chống xuồng lúa để ra bờ rạch, c̣n tía nó, má nó và nó
th́ lội nước śnh mà về bộ.
-
Đập lúa và phơi phong
mất hết mười ngày. Trong những ngày buồn tẻ, phẳng ĺ giữa cảnh bùn lầy nước
đọng ấy, thằng Cộc càng nao nức muốn về làng.
-
“Lại đây em hỏi khăn
lông mấy đường ?”
-
Câu ḥ của má nó ám ảnh
nó từ hôm gặt đến nay. Nếu con Thôi mà hỏi đố nó câu ấy chắc nó phải ngậm câm,
cho dẫu được phép trả lời bằng văn xuôi.
-
Khăn lông là vật dụng mà
nó đă quên rồi th́ c̣n biết là mấy đường để c̣n đáp cho thông. Từ lâu, nó chỉ
có một chiếc quần xà lỏn trên người, mùa nắng cháy như mùa mưa lạnh. Đêm nó
nhờ nóp che thân cho đỡ bị muỗi đốt và gió cắt da.
-
Những món đồ cần dùng
của thế giới văn minh ấy cũng thuộc vào những thứ gợi thèm như bánh trôi nước,
bánh ít trần và mái tóc của con Thôi.
-
Hôm ấy, dùng bồ cho con
cháu đổ lúa vào, ông nội thằng Cộc long trọng nói:
-
- Ngày mai ra biển.
-
Không ai hỏi ra biển để
làm ǵ hết. Thằng Cộc cũng làm thinh, trái với mọi ngày mà nó hỏi không kịp
đáp.
-
Con rạch Ô-Heo trước
nhà, nếu có đi trên ấy th́ phải về ngọn, nó nghĩ như vậy, đi về ngọn để rẽ qua
những kinh rạch khác mà t́m làng mạc sầm uất, chớ xuôi ḍng ra biển th́ c̣n
nghĩa lư ǵ nữa chớ ?
-
Nó chưa được ra biển lần
nào cả và mấy năm trước đây nó muốn theo ghe của bọn bắt cua để đi một chuyến
lắm, mà không được phép đi.
-
Chuyến đi đầu đến một
chơn trời xa lạ mà ông nội nó vừa cho biết, không làm cho nó phấn khởi chút
nào cả.
-
Ông nội nó tiếp, dặn mẹ
nó:
-
- Con mẹ Trùm, ngày mai
phải dậy khuya nấu cơm. Tao đi với thằng Trùm và thằng Cộc, đi thật sớm để gặp
con nước lớn ngay tại cửa mà về cho tiện.
-
-
Rạch Ô-Heo nhỏ xíu cho
nên tràm mọc ở hai bên bờ giao nhành với nhau được và phủ kín cả mặt nước.
-
Rạch tối om, đi như đi
trong hang. Bây giờ thằng Cộc mới thấu nghĩa hai tiếng "hang mai" trong câu
hát của bọn đi bắt ba-khía.
-
Những nơi ánh nắng lọt
vào được th́ hai bên bờ, ô-rô và cóc kèn mọc đầy.
-
Nước ṛng chảy xiết,
xuồng trôi bon bon. Tuy vậy, ông nội và tía cũng chèo cẩn thận để mau tới nơi,
hầu về kịp nội buổi chiều ngày đó.
-
Gần tới trưa, xuồng
không đi mau nữa.
-
- Nước đứng rồi, ông nội
nói, tức ta gần tới cửa rồi.
-
Họ thôi chèo, để cho
xuồng trôi linh đinh, không tiến cũng không lùi, rồi lấy cơm dỡ trong mo nang
ra mà ăn.
-
Không đi th́ thôi, đă
trót đi, và lúc gần tới đích, thằng Cộc nghe thích thấy biển coi ra sao. Nó và
cơm hối hả rồi hỏi:
-
- Ra đó làm ǵ ông nội ?
-
- Rồi mầy sẽ biết.
-
Họ ăn cơm xong th́ nước
bắt đầu lớn. Họ chèo ngược nước cho đến quá đứng bóng th́ đến một nơi kia mà
ông nội tuyên bố rằng đó là biển.
-
-
Thằng Cộc ngạc nhiên lắm
mà chẳng thấy biển đâu cả. Con rạch tiếp tục đi xa ra ngoài kia, hai hàng rào
cây như đứt khúc, đâm vào một vách tường xanh như da trời.
-
- Biển ở đâu, ông nội ?
Cộc hỏi.
-
- Đàng xa kia, xanh xanh
đó.
-
- Sao không ra ngoài,
ông nội ?
-
- Không cần.
-
Tía thằng Cộc chèo mũi,
rút sào cặm xuống bùn, theo lịnh của ông nội nó.
-
Ông nội gọi Cộc hỏi:
-
- Con có thấy ǵ khác lạ
không ?
-
- Không, ông nội à.
-
- Không thấy ? Cây ở đây
không khác cây sau lưng ḿnh à ?
-
- À... phải rồi.
-
Cộc nh́n lại th́ quả như
lời ông nội nó nói. Nơi đây, đất đă hết, mà chỉ c̣n bùn. Tràm mọc tới mé đất
cuối cùng th́ dừng lại, như là dân ở biên giới một nước kia dừng lại nơi b́a
lảnh thổ ḿnh.
-
-
Hết tràm th́ có một
khoảng trống, nửa bùn, nửa đất, trên ấy cỏ ống rậm ri và chim cao cẳng đủ loại
đáp đầy trong cỏ.
-
Tràm đứng trước băi cỏ
mà nh́n dân láng giềng mọc trên bùn đen. Đó là những cây ốm nhom chen nhau mà
vượt cao lên, cây nầy cách cây kia không đầy bốn gang tay.
-
Bờ biển thoai thoải dốc
xuống, trông rừng cây lạ ấy như một đạo binh xuống núi, tuôn hăm thành hầu lập
công.
-
- Nh́n xuống gốc cây,
ông nội bảo.
-
Nước chưa lớn hẳn, để lộ
bùn đen dưới gốc cây ra. Bùn đen từng nơi lại trắng xóa những đóa hoa năm
cánh, hai màu đen trắng đối chọi nhau trông rất đẹp.
-
- Cây ǵ mà lạ vậy ông
nội ? Trổ bông ngay dưới gốc ?
-
- Bông trổ trên đầu
những cái rễ ăn lên mà người ta gọi là rễ gió. Cây nầy là cây mắm. Đây là rừng
mắm đây.
-
- Cây mắm ? Sao tui
không nghe nói đến cây mắm bao giờ ?
-
- Con không nghe nói v́
cây mắm không dùng được để làm ǵ hết, cho đến làm củi chụm cũng không được.
-
- Vậy chớ trời sanh nó
ra làm chi mà vô ích dữ vậy ông nội, lại sanh hằng hà sa số như là cỏ ấy ?
-
- Bờ biển nầy mỗi năm
được phù sa bồi thêm cho rộng ra hàng mấy ngàn thước. Phù sa là đất bùn mềm
lủn và không bao giờ thành đất thịt được để ta hưởng nếu không có rừng mắm mọc
trên đó cho chắc đất. Một khi kia cây mắm sẽ ngă rạp. Giống tràm lại nối ngôi
mắm. Rồi sau mấy đời tràm, đất sẽ thuần, cây ăn trái mới mọc được.
-
Thấy thằng cháu nội ngơ
ngác chưa hiểu, ông cụ vịn vai nó mà tiếp:
-
- Ông với lại tía của
con là cây mắm, chơn giẫm trong bùn. Đời con là tràm, chơn vẫn c̣n lấm bùn
chút ít, nhưng đất đă gần thuần rồi. Con cháu của con sẽ là xoài, mít, dừa,
cau.
-
Đời cây mắm tuy vô ích,
nhưng không uổng, như là lính ngoài mặt trận vậy mà. Họ ngă gục cho kẻ khác là
con cháu của họ hưởng.
-
-
Con, con sắp được hưởng
rồi, sao lại muốn bỏ mà đi ? Vả lại con không thích hi-sinh chút ít cho con
cháu của con hưởng hay sao ?
-
Thằng Cộc nh́n lại ông
nội nó và nghe thương không biết bao nhiêu ông già đă bỏ mồ bỏ mả ông cha để
h́-hục năm năm trong đồng chua, nước mặn ở Ô-Heo.
-
Phải, cứ theo dự đoán
của gia đ́nh th́ nó sắp được hưởng, tuy không nhiều, mà rồi sẽ nhiều. Nó nắm
chặt tay ông nội nó và nó thấy ông nội nó giỏi quá. Ông có biết chữ nho kia
mà.
-
- Ông ơi, nó than, nhưng
tràm buồn quá.
-
- Tràm sẽ khỏi buồn nữa.
Năm tới, đất thuần rồi th́ ta làm ba mươi công và sẽ gọi dân cấy gặt ở xa tới
phụ lực. Rồi tía con sẽ cưới vợ cho con, rồi thiên hạ sẽ bắt chước ta, tràn
tới đây mà phá rừng, vùng Ô-Heo sẽ sầm uất, vui biết bao nhiêu. Tràm hết buồn
v́ sẽ đẻ ra cau, dừa, xoài, quít, đầy nhà, nước sẽ ngọt một khi đất thuần...
-
- Và sẽ có chè ăn ?
-
Ông nội cười ha hả mà
rằng:
-
- Ǵ chứ chè th́ sẽ có
lu bù.
-
- Mà ông nội nè, cưới vợ
làm sao được, ai thèm tới Ô-Heo ?
-
- Hai năm nữa người ta
sẽ đồn rằng đất Ô-Heo thuần. Những kẻ nghèo khó như ta chỉ mong được tới đây.
Ông nói điều nầy, không biết con hiểu được hay không. Là tổ tiên ta ngày xưa
từ Bắc, Trung tràn vào đây đều chịu số phận của cây mắm hết, từ xứ Đồng Nai
nước ngọt cho tới đây, ở đâu cũng hoang vu cả.
-
Họ đă ngă rạp trong chốn
ma thiêng nước độc nầy để lót đường cho con cháu họ đi tới, y như là đàn kiến
xung phong, tốp đầu liều chết đuối, lội qua tô nước rọng hủ đường để làm cầu
cho bọn đi sau vào đến nơi có chất ngọt. Nhiều lớp tiên phuông đă ngă gục như
rừng mắm. Rồi th́ ông sơ, ông cố con, ông nội đây là tràm mới kiếm được miếng
ăn...
-
- Tía.
-
Thằng Cộc lo lắng không
biết tía nó sẽ làm tràm như nó được hay không nên kêu tía nó bằng một giọng
thương yêu tŕu mến hết sức.
-
- Thôi, nhổ sào để đi về
cho kịp con nước, ông nội ra lịnh.
-
Ông nội vui vẻ quá, v́
ông bỗng sực nhớ lại những câu ḥ của thế hệ người tiên phuông đi khai thác
đất hoang ở miền Nam, mà ngày nay thế hệ tràm không hát nữa. Ông cất giọng
khàn khàn lên:
-
-
Ḥ... ơ... Rồng chầu
ngoài Huế,
-
Ngựa tế Đồng Nai.
-
Nước sông trong sao
cứ chảy hoài,
-
Thương người xa xứ
lạc loài đến đây.
-
-
B́nh Nguyên Lộc
-
-
Ba Con Cáo
-
B́nh Nguyên Lộc
-
-
Mặc dầu là tay “bán trời không mời thiên lôi”, Sáu
Sửu vẫn nghe rờn rợn khi nh́n ra ngoài.
-
Thánh giá trắng đứng mơ hồ trong ánh sáng lờ mờ
của nghĩa địa, sắp thành hàng ngũ đông đúc, nhánh ngang của thánh giá trông
mường tượng như những cánh tay người giăng ra để đón bắt ai.
-
Xa xa, một trụ vôi có dáng một người đàn bà đội
khăn tang trắng, đứng nh́n đám mồ trước mặt bà ta.
-
Gió đêm, cùng với dế, trùn, họp nhau mà than văn
bên hàng ngh́n mồ hoang mả lạnh, và thỉnh thoảng, anh Sáu vẳng nghe như có
tiếng người rên rỉ đâu đây.
-
Từ một ngôi mả cũ đằng xa, một ánh lửa lóe lên,
nhỏ bằng ngón tay, từ từ bay lên cao rồi đi bơ vơ qua các hàng thánh giá. Lửa
ma trơi hay là đèn của một người đi soi ếch nào đó?
-
Mưa dầm tháng tám rơi trên nước ao tù khiến anh
Sáu có cảm giác rằng ḿnh đang ngủ trên một chiếc thuyền, giữa ḍng nước.
-
Lạnh quá, lạnh ngoài da, mà lạnh cả đến trong
ḷng.
-
Người sống, một khi xâm nhập vào địa hạt của người
chết, mới nhận được rằng cuộc đời bên ngoài dầu đau khổ bao nhiêu cũng c̣n ấm
chán.
-
Tại phố Phát Diệm, khúc phía trên này, họ Cầu Kho
có một đất thánh mà từ vài năm nay nhà thờ không cho chôn trong đó nữa.
-
Dân số nghĩa địa cứ mỗi ngày một tăng lên, mà
không có một ai chết lần thứ nh́ cả để cho số sanh và số tử bù trừ nhau hầu
đất đai trống bớt chỗ.
-
Ngoài thành phố, người ta đẻ con, nhưng người ta
lại chôn ông, nhà cửa thành thử không chật thêm được. Ở đây mồ mả sanh ra rồi
già cỗi dưới rêu xanh của sương gió, nhưng vẫn nằm ĺ đó đến muôn thu.
-
V́ vậy nghĩa địa phải chịu nạn nhơn măn. Nhà thờ
không cho chôn xác thêm vào đó, rồi cũng chểnh mảng việc trông nom đất thánh
nên người sống đang thiếu đất, bèn ùa đến mà lấn người chết.
-
Nghĩa địa không có vách thành. Ban đầu vài người
mạo hiểm cất nhà ngay trên ranh đất thánh. Thấy không ai nói ǵ, một số người
khác lách qua khỏi mấy cái nhà vừa cất lên, để vô trong mà xây cất.
-
Họ cất vây tứ phía ngôi đất thánh và ṿng vây cứ
càng ngày càng siết chặt lại, người chết không c̣n lối nào để thoát ra được
nữa cả.
-
Khi ṿng vây siết đến lằn mức chót, nghĩa là những
ngôi mộ ở b́a, th́ cuộc xô lấn bắt đầu diễn ra một cách đau thương.
-
Người sống cũng biết đau ḷng khi phải dẫm lên
những g̣ mả c̣n mới rành rành (nhiều mô. bia, thánh giá, đề năm chôn là 1951)
nhưng họ, ác thay, lại cũng biết lạnh. Cho nên họ cứ cất nhà trên những nấm
đất ấy, xin người chết thứ lỗi, miễn là có chỗ núp mưa th́ thôi.
-
Không bao giờ kẻ sống và người chết lại sát cánh
nhau đến thế. Ông đă chết rồi, ông choán đất làm chi cho nhiều, trong khi tôi
không có lấy một vuông nhỏ để mà cắm cây cột gỗ; vậy ông thứ lỗi nhé! Rồi ngày
sau tôi cũng hoàn lại đất như ông vậy mà; trần gian nầy chỉ là cơi tạm thôi,
tranh nhau làm ǵ!
-
Cuộc xâm lăng lặng lẽ để tranh sống với người
chết, gây ra một tai hại lạ kỳ.
-
Vùng đất ấy ngày xưa tuy cũng thấp mà vẫn khô ráo,
nhờ con rạch Bần tháo nước ra sông Ông Lănh. Nhưng từ khi đô thành cho đắp đại
lộ Trần Hưng Đạo, cách đây mấy mươi năm, th́ ngọn rạch Bần bị lấp, và nước mưa
trên nầy bị bỏ tù lại đến chung thân khổ sai, v́ khu ấy đất trũng mà!
-
Đất thánh không phải ở giữa rún đất nên không đọng
nước. Nhưng ṿng vây tai hại kia lại biến thành con đê ngăn nước đất thánh đô?
xuống chỗ trũng hơn.
-
Thành thử phần nhiều ngôi mộ đă biến thành cù lao,
có cù lao rời rạc, có mớ họp thành quần đảo, không c̣n làm sao ra đó được nữa.
Nước tù mang một màu khó tả và một mùi cũng khôn tả. Đáy ao biến thành bùn
non, đi th́ lún đến ống quyển.
-
Lau, sậy, đế tha hồ mà mọc như ở bưng miền xa.
-
Giữa đất thánh c̣n sót lại một ngôi mộ cổ kiến
trúc theo bên lương mà có lẽ nhà thờ không nỡ phá đi lúc lập ra đất thánh cho
giáo dân nầy.
-
Ngôi mộ ấy đồ sộ nhứt nghĩa địa, xây bằng vôi và ô
đước, xanh đặc những rêu phủ. Lối kiến trúc rất rắc rối như một lâu đài, đầy
rẫy ngăn nắp với nào là đường vào lối ra quanh co và hóc hiểm.
-
Hôm ấy những người của ṿng vây đều ngạc nhiên mà
thấy một mái nhà lá dựng ngay trên ngôi mộ cổ ấy.
-
Nhà dựng đâu từ sớm mai đến trưa là xong cả. Họ cứ
tự hỏi, và hỏi nhau làm thế nào mà chủ nếp nhà ấy lội śnh để ra ngoài đó
được. Đi tay không đă không được rồi, mà làm sao hắn ta lại mang cả gỗ, tre và
lá ra đó để cất nhà?
-
Hỏi nhau không ai đáp được, mà cũng chẳng mong
phỏng vấn thằng cha dị hợm kia, họ đành thôi. Thét rồi mắt họ quen đi, nếp nhà
ăn vào chân trời quen thuộc của họ, họ nhận cho nó ơ? đó mà không bàn tới bàn
lui ǵ nữa cả.
-
Sáu Sửu ngày trước có ở xóm Phát Diệm. Năm ấy có
người treo cổ trong nhà mồ ở b́a đất thánh. Anh đă vào đó với nhiều kẻ hiếu kỳ
khác để xem kẻ chết treo, nên được dịp biết rơ nghĩa địa.
-
Hôm tháng rồi anh bị truy nă ráo riết nên cố t́m
một chỗ ẩn nấp thật kín. Nhớ lại xóm cũ với cái nghĩa địa kia, anh về qua đó
và rất hài ḷng mà gặp ḥn đảo nầy.
-
Không một viên cảnh sát nào đủ can đảm lội śnh
nhứt là dầm chơn trong một thứ nước nhơn nhớt để ra ngoài đảo Lỗ B́nh Sơn của
anh.
-
Nếu có cuộc bố ráp đại qui mô như hồi c̣n Tây th́
bất quá họ cũng đứng ngoài mà nh́n vào, hú bậy vài tiếng như hú đ̣ bên kia
sông, rồi đ̣ không qua th́ thôi. Họ nghĩ sót một con cá cũng chưa chết ai, mà
biết đâu cá đó lại không phải cá hiền, một tên ăn mày nào đó chớ ǵ.
-
Từ ṿng vây ở ngoài, leo lét vài ngọn đèn dầu của
những kẻ lấn đất người chết. Xa thật xa ngoài kia, ánh sáng đô thành làm nổi
bật lên, đen thui, những ngôi nhà lầu, những ngọn cây cao. Các thứ nầy giống
hệt những h́nh bằng giấy đen, người ta cắt rồi dán lên nền trời.
-
Bỗng anh Sáu nghe rục rịch dưới sàn ván. Hôm cất
nhà xong, anh lót ván lên mộ, vừa để làm nền nhà, vừa để làm giường ngủ. Dưới
ván rầm ấy, lau sậy bị đè đầu xuống,và sẽ chết lần ṃn v́ thiếu ánh sáng.
-
Anh Sáu quên, một thứ khác, cũng giống như lau
sậy, mà biết cục cựa nữa kia. V́ thế đêm nay trời có trăng, anh ngồi ngó một
ra đám rừng thánh giá trắng th́ anh phải một phen hết hồn trước sự hiện ra của
một chú chồn to bằng con chó ta.
-
Chồn khua lau sậy sột soạt, rồi chui ra khỏi mộ,
ngoái cổ lại ḍm cái nhà mà đêm hôm qua đây chưa có. Suốt ngày hôm ấy nó nằm
trong hang, không dám ló ra nên không biết ngoài này loài người làm ǵ mà lục
đục măi.
-
Đôi mắt nó lóng lánh dưới ánh trăng, ngạc nhiên
giây lát rồi bỏ đi. Nó đă quen với con người rồi nên không có vẻ ǵ sợ sệt cả.
-
Nhưng anh Sáu lại sợ. Anh có đọc truyện Phong Thần
nói chuyện mả Huỳnh Đế có một bầy hồ ly mà một con đă nổi danh trong lịch sử,
là cái con đă biến thành nàng Tô Đắc Kỷ; đến nay thấy chồn trong mộ chui ra,
anh liên tưởng ngay đến tích cũ rồi rợn người lên.
-
Nhưng anh trấn tĩnh lại được. Trong dân chúng
người ta tin chắc như đinh đóng cột rằng tóc người chết hóa thành con lươn,
rồi con lươn hóa thành con chồn. Con chồn mà anh thấy, có lẽ chỉ là thối thân
của tóc người nằm dưới nhà mồ, chớ không phải yêu quái ǵ đâu.
-
Độ nửa tiếng đồng hồ sau, anh Sáu thấy chồn về,
mơm ngậm một con vịt.
-
- A ha, đồng đạo đây mà! Anh Sáu cười mà nói thầm
như vậy rồi cảm t́nh ngày với con thú nầy.
-
Cái đạo mà anh nói đó là đạo... chích; trước kia,
trước khi lường gạt và cướp giựt, anh cũng đă đi ăn cắp gà như chú chồn nầy
vậy.
-
Ngày nay anh thôi ăn cắp, nhưng lại biến thành con
cáo già chuyên môn gạt gẫm thiên hạ.
-
- Mầy cáo th́ tao đây cũng cáo, vậy th́ là bồ rồi.
-
Từ đó, hai con cáo chung đụng với nhau mà không
xích mích bao giờ cả.
-
Nghe động dưới sàn, anh Sáu mỉm cười lẩm bẩm:
-
- Đồng nghiệp xuất quân đó đa!
-
Anh Sáu nhờ cậy con chồn nầy lắm. Có nó ở dưới ấy
th́ không c̣n lo rắn rít nữa. Anh mong có dịp trả ơn nó, nhưng nó có đói bao
giờ đâu để anh ra tay hào phóng mua cho nó một con gà. Xóm lao động vây quanh
nghĩa địa, người ta nuôi gà vịt cả bầy, nó ăn đến già cũng chưa hết.
-
Bỗng anh Sáu nghe có tiếng chó sủa vang dậy lên.
Tiếng sủa to lắm và oai vệ lắm, có lẽ đó là tiếng chó bẹc-giê.
-
Rồi lại nghe nước khua lũm chũm, với tiếng chó
càng lúc càng đến gần anh. Anh Sáu bước ra ḍm th́ thấy bạn của anh đang chạy
bán sống bán chết trước một con chó to thấy mà bắt ớn.
-
Anh Sáu tḥ tay vào trong rút cây chĩa ba ra, cây
chĩa anh sắm để chĩa ếch dưới nước, rồi lẹ như chớp, anh ch́a mũi chĩa đón đầu
chó cho chồn đủ ngày giờ chui vào mả.
-
Chó bẹc-giê chạy quá đà, bị mũi chĩa đâm vào mơm
đau điếng, rống lên vài tiếng rồi trở bước, vừa đi vừa day lại, sủa om như
chửi thề.
-
Anh Sáu cười ha hả rồi cúi xuống sàn mà nói:
-
- Đêm nay tổ trác rồi đó phải không em! Anh đây
cũng bị rượt thường lắm, nhưng đều thoát khỏi cả. Bây giờ th́ đố ai mà dám
theo anh vào chốn nầy. Chỗ ở tụi ḿnh kín số dách.
-
Sáng hôm ấy, anh Sáu đi uống cà-phê, về tới nhà
th́ ngạc nhiên hết sức. Trên một ngôi mô. cận mộ anh, một cḥi lá đă dựng lên
rồi.
-
Ngộ quá, nhà cửa sao mà mọc mau lẹ như nấm mối.
Uống xong tách cà-phê, đọc xong trang nhứt một tờ nhựt báo là một túp lều cũng
vừa dựng xong. Phải mà, chỉ có bốn cây cột thôi th́ chậm sao được!
-
Anh Sáu ngạc nhiên mà thấy có một người thứ nh́
lại biết con đường bí mật đưa vào đó! Anh lại tức v́ túp lều ấy chặn ngay đầu
đường bí mật của anh.
-
Số là anh Sáu biết lợi dụng mấy ngôi mộ chung
quanh nên mới vào đây được. Anh phải đi quanh co nhiều nơi, nhảy từ ngôi mộ
nầy qua ngôi mộ khác, ra cửa nhà th́ đi hướng đông, nhưng ra khỏi nghĩa địa
lại ra hướng tây, nghĩa là anh phải đánh một cái ṿng rất lớn và rất cong
quẹo.
-
Túp lều tranh ấy cất ngay trên ngôi mộ anh dùng
làm đầu cầu cuối cùng để nhảy vào nhà anh, th́ anh c̣n làm sao mà về nhà được,
nếu hắn không cho anh nhảy ngang qua nhà hắn?
-
Anh tức giận lắm toan vào lều mần thằng cha nầy
một mách cho nó phải giải tỏa hiểm đạo của anh, anh mới nghe cho.
-
Anh Sáu vỗ đùi nhảy một cái như bay đi và rơi
xuống phiến mộ bia đặt nằm theo lối Châu Âu, trên có khắc mấy gịng chữ như
sau:
-
Ci-git:
-
Alphonse Thomas Nguyễn-Văn-Nở décédé en sa 78è
année Priez pour lui (1)
-
Phiến đá lớn bằng bộ ván hai, và thằng cha chủ nhà
nầy dùng phiến đá ấy để làm bộ ván luôn, nên không thấy nó lót ǵ trên ấy cả
mà lại để lên đó nào là va-ly, dép... à... mà sao lại dép đàn bà?
-
Túp lều che có phân nửa tấm bia thôi; cửa lều là
một bức màn bằng vải bông cũ. Anh Sáu bước tới vén màn lên th́ ô nầy lạ,chủ
nhơn bà (chớ không phải chủ nhơn ông) là một thiếu phụ tóc quăn.
-
Chủ nhơn bà b́nh tĩnh chào anh Sáu bằng một mỉm
cười yên lặng.
-
Có lẽ chồng chị ta đi làm rồi chăng? Nhưng vẫn lạ
là chị không có vẻ lao động chút xíu nào hết. Móng tay chị đỏ choét và nhọn
hoắt, nước da mặt của chị bị phấn ăn, chỗ th́ mét chằng, chỗ th́ thâm đen ś,
mắt chị mệt đừ và sâu hóm như mắt cô đào hát bội.
-
Y phục của chị cũng không phải y phục của những kẻ
đầu tắt mặt tối: lai quần gắn ren, áo cổ bà lai thêu rằn rịt xanh đỏ, tóc th́
kẹp thành đuôi ngựa, cột bằng ruy-băng màu.
-
Chị ngồi trên chiếc rương thiếc nhỏ, món đồ từ khí
độc nhứt trong cḥi, mỉm cười rồi giây lát hất hàm hỏi anh:
-
- Có tiền măi lộ không? Nếu không, mỗ không
cho đi ngang qua đây. Mỗ đóng đồn ở đây rồi, ai bước qua phải đóng thuế.
-
Anh Sáu thọc tay vào túi quần tây cũ của anh đứng
thẳng lên coi oai vệ như một tướng cướp trong xi-nê-ma, cười gằn rồi ngạo nghễ
đáp:
-
- Hỡi cô nữ tướng mă thượng giang hồ, nữ tướng
không có lâu la th́ đ̣i tiền mă lộ ai được. Nữ tướng có giỏi th́ bước ra ngoài
đánh với ta vài mươi hiệp cho rơ tài cao thấp.
-
Nữ tướng cười x̣a v́ nghe giọng điệu th́ biết đă
gặp tay đồng điệu. Tuy bắt nạt hắn không được nhưng bắt bồ với hắn có thể có
lợi.
-
Anh Sáu xem qua th́ biết nữ tướng thuộc vào hạng
người nào trong xă hội rồi. Đây cũng là một kẻ trốn chui như anh, như con cáo
dưới giường anh. Cả ba đều là chồn, nhưng con chồn cái này đă tu luyện nhiều
năm nên mang được h́nh người. Đây là một thứ hồ ly không hớp hồn nho sĩ mà chỉ
hốt bạc cắc của mấy anh lao động thôi.
-
Đầu anh Sáu đụng nóc cḥi, anh khó chịu quá nên
ngồi xuống:
-
- Ở đây không sợ mang tội à? Anh hỏi đùa.
-
- Chớ c̣n anh?
-
- Tôi th́ khác. Ngôi mả của tôi cũ lắm rồi.
-
Đó là một cái nhà của một người chết đă đi đầu
thai kiếp khác rồi.
-
Con chồn cái bỗng bỏ cái cười, buồn nét mặt lại
rồi chỉ ra ngôi giáo đường trước nghĩa địa.
-
Tiểu giáo đường tuy chỉ để làm lễ mỗi khi đám xác
nào tới đây thôi, nhưng cũng đồ sộ
-
ábằng một nhà thờ ở thôn quê. Tuy ngói đă bị tốc
nhiều nơi, gạch, đá trên tường nhiều viên đă ră và rớt xuống, cửa sổ gỗ đă
bung hết, cửa kính màu đă bể nát, nhưng toàn thể công tŕnh kiến trúc gô-tích
ấy vẫn c̣n mang cái phong độ vĩ đại của thời Trung Cổ Châu Âu.
-
- Anh thấy không? Chị ta nói. Nếu ḿnh dám vào
trong đó mà ở th́ đâu có phạm tội như vầy.
-
Anh Sáu thở dài rồi không thèm chào hỏi ǵ cả vỗ
đùi nhảy bay qua nhà anh.
-
Từ đó bộ ba chịu đựng nhau để sống chung nhau.
-
Họ khác nhau ư tứ, phong tục, thói quen, lối sống,
nhưng cả ba con cáo đều có một nỗi băn khoăn chung là cả ba đều sợ: Con cáo
chánh hiệu con... cáo th́ sợ chó bẹc-giê, con cáo già sợ Công An, c̣n con hồ
ly cáo cái th́ sợ lính kiểm tục.
-
Trong cảnh khổ giống nhau, tuy họ không tương đắc
với nhau được và vẫn phải tương thân để bảo vệ nhau, khi cần. Mà nhứt là để an
ủi lẫn nhau.
-
Anh Sáu không thích đờn bà lắm. Hay nói cho đúng
ra, anh đă chán chê đờn bà, nhứt là chán những hạng đờn bà như con hồ ly không
bao giờ chịu xưng tên nầy.
-
Nhưng mà những đêm mưa dầm buồn quá, nằm giữa cánh
đồng ma mà được có người để tṛ chuyện với nó th́ ấm biết bao!
-
Những đêm mưa như vậy, con hồ ly không đi kiếm ăn
được, mà cũng không đủ sức mạnh để nhảy qua nhà anh Sáu v́ ḥn đảo của anh ở
xa măi ngoài giữa ḍng nước, nên hồ ly ta thắp lên một ngọn nến rồi ngồi bó
gối mà ca trật lất bản nhạc “Đêm đông”.
-
”Đêm đông, ca nhi đối gương ôm sầu riêng bóng”.
-
Gió đâm sầm vào tiểu giáo đường đằng trước kia,
tung hoàng giữa gian pḥng trống mênh mông rồi vừa hú vừa chui ra khỏi các cửa
sổ nghe bắt lạnh ḿnh.
-
Mấy cây thùy liễu hiếm hoi đă kháng cự được với
lau sậy để sống sót, đứng cúi đầu khóc sướt mướt dưới trận mưa dầm, trong ánh
trăng mờ.
-
Mộ hàng hàng như bầy cừu nằm nghỉ, gặm cỏ héo hon
và vô vị, hút đắng cay trên miếng đất mồ côi (2).
-
Đây là chốn mà mộng đời bị cắt đứt nửa chừng, kẻ
chết yên nghỉ thiên thu, mà người sống cũng khó mong trở về với xă hội loài
người.
| |