Home Văn Học   Nghệ Thuật 

Sinh Hoạt

Phiếm Luận Diễn Đàn

Giải Trí

Thư Tín 
Văn Học
Nghệ Thuật
Sinh Hoạt
Phiếm Luận
Trang Thân Hữu Thơ - Văn
Diễn Đàn
Giải Trí
Thư Tín
 
 
 
                  Chiều Lê Mộng Nguyên
 
    Nhạc Sĩ Lê Mộng Nguyên, Viện Sĩ Viện Hàn Lâm Pháp Quốc Khoa Học Hải Ngoại, GS-TS Quốc Gia Khoa Học Chính Trị, nguyên Luật Sư Ṭa Thượng Thẩm Paris là khuôn mặt rất quen thuộc trong sinh hoat Văn Học Nghệ Thuật Việt Nam hơn nửa thế kỷ.
Vào ngày 18 tháng 11 năm 2006, từ 14g30 đến 18g30, tại Tao Đàn Thư Quán 41 rue Courbet 94800 Villejuif, Câu Lạc Bộ Văn Hóa Paris tŕnh bày Chiều Lê Mộng Nguyên nhân dịp ra mắt sách Nhà Văn Hải Ngoại Tập 1 của ông được tổ chức trong bầu không khí thân mật và trọng thể. (VTrD - Cali Weekly)
 
Chương Tŕnh sinh hoạt trong buổi sinh hoạt Văn Học Nghệ Thuật rất sinh động bởi qua nhiều tiết mục :
 
1.- Phần Văn Học:
Tiếp Tân:  Trà Đàm
Đọc chương tŕnh khai mạc:  GS Phạm Đ́nh Liên
Lời Chào của Ban Tổ Chức:  Họa Sĩ Nguyễn Đức Tăng
Giới thiệu thành phần Văn nghệ sĩ & Quan Khách: Nhà thơ Đỗ B́nh
Tâm t́nh Tác Giả: 
Nhạc sĩ, Viện sĩ Hàn Lâm TS Lê Mộng Nguyên
Cảm tưởng về tác phẩm:  Nhà văn Từ Tŕ
Cảm tưởng về tác phẩm:  Nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Thùy
Cảm tưởng về tác phẩm:  Nhà thơ, nhà biên khảo Phương Du Nguyễn Bá Hậu
Cảm tưởng về tác phẩm:  TS Lê Đ́nh Thông (Đại Học Paris-Nanterre)
Champagne uống chúc mừng sự hội ngộ:
Tác giả kư tặng sách
 
2.- Phần Nghệ Thuật
Vài nét về ḍng nhạc Lê Mộng Nguyên: Tác giả tŕnh bày
Cảm tưởng bài  Trăng Mờ Bên Suối:  Nhạc sĩ Trịnh Hưng
Trăng Mờ Bên Suối (nhạc Lê Mộng Nguyên) do Đan Thanh độc tấu Piano
Trăng Mờ Bên Suối:  GS Quỳnh Hạnh độc tấu đàn tranh
Trăng Mờ Bên Suối  Diễn ngâm Thúy Hằng, Sáo, Trần Tam Nguyên, đàn tranh: GS Quỳnh Hạnh
Trăng Mờ Bên Suối (nhạc và lời  Lê Mộng Nguyên) do Thu Hà tŕnh bày, Piano: Hồng Thư
Mơ Đà Lạt (nhạc và lời Lê Mộng Nguyên): Thu Hà tŕnh bày, Piano:  Hồng Thư
 Thu Trên Sông Seine (thơ Vương Thu Thủy, nhạc Lê Mộng Nguyên): Phạm Đăng tŕnh bày, Đan Thanh Piano
T́m Lại Ngày Xưa (nhạc và lời Lê Mộng Nguyên):
Phạm Đăng tŕnh bày, Đan Thanh Piano
Chiều Vàng Năm Xưa (nhạc và lời Lê Mộng Nguyên):  Tuyết Dung tŕnh bày, Đan Thanh Piano
Nhớ Huế (nhạc và lời Lê Mộng Nguyên): Minh Cầm tŕnh bày, Phạm Đ́nh Liên Guitare
Một Chiều Thương Nhớ (nhạc và lời Lê Mộng Nguyên): Minh Cầm tŕnh bày, Phạm Đ́nh Liên Guitare
Với Mùa Xuân Trở Lại  (Thơ Lê Mộng Nguyên): Diễn ngâm Nguyễn Đức Tăng, Sáo Trần Tam Nguyên, đàn tranh GS Quỳnh Hạnh
Em Có Về Làng Xưa (thơ Lê Mộng Nguyên):  Diễn ngâm Thúy Hằng, Sáo Trần Tam Nguyên, đàn tranh GS Quỳnh Hạnh
T́nh Vô Vọng (Thơ Bích Thuận, nhạc Lê Mộng Nguyên): Nghệ sĩ Bích Thuận tŕnh bày, Sáo Trần Tam NguyênNguyễn Đức Tăng, đàn tranh GS Quỳnh Hạnh, Đan Thanh Piano
Ly Hương (nhạc và lời Lê Mộng Nguyên):  Phạm Đăng tŕnh bày, Đan Thanh Piano
Giao Mùa (thơ Phạm Ngọc, nhạc Lê Mộng Nguyên):  Tuyết Dung tŕnh bày, Đan Thanh Piano
Xuân Tha Hương (nhạc và lời Lê Mộng Nguyên):  Thu Hà tŕnh bày, Piano Hồng Thư
Quê Tôi:  Thu Hà tŕnh bày, Piano Hồng Thư
Ḍng Nhạc Chiều (thơ Hồng Vũ Lan Nhi, nhạc Lê Mộng Nguyên):  Tuyết Dung tŕnh bày, Đan Thanh Piano.
 
      Nhân ngày ra mắt sách Nhà Văn Hải Ngoại Tập 1 trong «Chiều Lê Mộng Nguyên»
                  ngày 18 th.11-2006 tại Tao Đàn Thư Quán (Paris-Villejuif) 
 
                      Tác giả Lê Mộng Nguyên tâm t́nh với đồng bào văn nghệ sĩ
 
Kính thưa quí vị,
Đồng bào thân mến,
 
   Trước hết, tôi xin thành thật cảm ơn các thân hữu văn nghệ sĩ Paris, ngoại ô và tỉnh đă cố gắng, mặc dầu bận công chuyện, đến tham dự buổi «Chiều Lê Mộng Nguyên» để tôi có dịp tŕnh bày tác giả và tác phẩm vừa được xuất bản: Nhà Văn Hải Ngoại Tập 1. Theo một thể tài dùng quen, sự hiện diện của quí vị là một vinh hạnh lớn đối với Ban Tổ Chức là Câu Lạc Bộ Văn Hóa Việt Nam ở Paris. Tôi cũng không quên anh chị Nguyễn Quí Toàn – v́ t́nh nghĩa văn nghệ - đă mở rộng tư thất cho buổi họp mặt thân mật hôm nay được thực hiện, xin anh Kỹ sư Nguyễn Quí Toàn và phu nhân nhận nơi đây ḷng biết ơn nồng hậu của chúng tôi. Tôi cũng xin – nhân dịp này – bày tỏ ḷng tri ân đối với Nhạc sĩ Lê Dinh, Chủ trương nguyệt san Nghệ Thuật - Montréal , đă ưu tiên đón tiếp trên tạp chí lẫy lừng của anh, những bài biên khảo, tùy bút, hồi kư, văn thơ và nhạc của Lê Mộng Nguyên một cách thường xuyên (mỗi tháng ít nhất một bài), từ số 57 Tháng 12 năm 1998 đến nay là  Số 152 Tháng 11-2006, nghĩa là đă trọn hơn 100 bài… Cũng v́ thế mà sách ra mắt hôm nay chỉ là Tập 1 thôi, Tập 2 sẽ xuất bản có lẽ qua năm sau (2007) và Tập 3 sẽ tiếp tục, nếu có thể, trong cùng một năm… vân vân.
 
   Như trong Lời Phi Lộ, NVHN Tập 1 gom góp một số bài tôi cảm nghĩ về thơ, truyện, nhạc đă xuất bản mà tôi hằng ưa thích thành thử hầu hết không phê phán mà chỉ muốn làm nổi bật bằng những lời khích lệ: nhiều cái hay, cái đẹp qua tinh thần sáng tác của các văn nghệ sĩ đương thời sống kiếp lưu vong hải ngoại như tôi, xa thân bằng cố hữu và đất nước thương đau… Tôi đă viết với quả tim, hơn là theo lư trí, và với nhiều cảm xúc, rung động của tâm hồn, tôi muốn quí độc giả xa gần chia xẻ những giây phút hạnh phúc hay nhớ nhung mà thơ, văn, nhạc viễn xứ đă đem lại cho tôi. Cũng v́ vậy, tôi tri ân những tác giả tôi nói đến trong Quyển 1 này  và những tác giả (rất nhiều) tôi sẽ nói trong những Tập sau… đă đem lại cho tôi nhiều cảm hứng để viết những ḍng văn suy ngẫm, như cuộc tương phùng văn nghệ trong một thoáng hương xưa…
 
   Những nhà thơ, văn … trong Tập 1 , sau tháng tư đen, phải bỏ nhà, đất nước ra đi, hoặc ngay sau khi Sài G̣n thất thủ, hoặc sau khi đi học tập cải tạo nghĩa là ở trong lao tù ghê gớm của chế độ bạo tàn, đă kiếm đủ cách để trốn thoát gông cùm cộng sản… phần đông theo đường biển với quyết chí t́m đất tự do (dù có mất mạng cũng đành chịu, thà chết tự do hơn sống nô lệ dưới áp bức của quân thù). Đó là thân phận của Hà Kỳ Lam trong « Vùng Đá Ngầm », khi anh kể lại, qua một nhân vật của truyện ngắn cùng tên: Cái kỷ niệm hăi hùng của những ngày vượt biển có lẽ măi măi là một phần tâm thức của những nguời « cùng hội cùng thuyền » năm ấy…Thấy gió bắt đầu thổi ngược  hướng đá ngầm, chúng tôi giương buồm bằng bao bố để trôi xa đá. Nh́n đỉnh nhọn độc nhất c̣n lú khỏi mặt nước để làm điểm chuẩn tôi mới biết ghe trôi với một tốc độ đáng kể… Sau 46 ngày phiêu lưu trên biển cả mênh mông th́… người ngồi gác trên nóc la lên: Có tàu ! Có tàu ! Bà con ơi ! Như thế là tất cả mọi người đều được cứu vớt. Trong « Nỗi Buồn Thế Kỷ » : Một thanh niên mới vừa 30 tuổi năm 1992 th́ «  bị một chứng bệnh không truyền nhiễm nhưng ngặt nghèo mà y khoa thời bấy giờ đành bó tay » , được cha mẹ giàu có cho ướp xác ngưng sống cho đến ngày thức dậy năm 2085: Chàng thấy buồn mênh mông, buồn đến tê dại cả tâm hồn. Một ngôn ngữ, một văn hóa mà một lớp người khi ra đi bỏ lại quê hương ngh́n trùng xa cách và ngh́n lần thân thương đă đem để gieo trồng trên đất nước hợp chủng này, đóng góp một tiểu văn hóa trong vuờn văn hóa tạp chủng Hoa Kỳ, ngày nay ngôn ngữ đó, nền tiểu văn hóa đó đă bị quét sạch v́ không người tiếp tay vun trồng, chăm sóc và ǵn giữ… Hồ đi miên man giữa phố phường mà như đi trong sa mạc. Chàng chẳng thấy người, chẳng thấy nhà cửa. Với nỗi hoang vắng trong ḷng, chàng đi như một cái bóng không hồn... Tôi đọc xong mà trong người vẫn c̣n bàng hoàng như Từ Thức ngày xưa vừa giă từ nơi tiên cảnh để trở lại chốn trần ai… Theo tôi, Hà Kỳ Lam, cũng như Thạch Lam ngày xưa, đă thành công trong thể văn « truyện ngắn » mà theo định nghĩa của Từ Điển Petit Robert là một câu chuyện đại khái vắn tắt, viết theo thuật kịch trường và bối cảnh rất ít nhân vật.  
   Cũng như khi đọc « Chuyện Ngày Qua »  của Nguyễn Ngọc Diệp, chắc ai cũng nghĩ tới « Vang Bóng Một Thời ‘’ của Nguyễn Tuân, một nhà văn lừng danh đă đứng ra một phái riêng biệt về loại bút kư trong giai đoạn giữa hai thế giới chiến tranh: Cái tiếng vang của thời đă qua, cái bóng của thời đă qua, mà ngày nay người ta tưởng như c̣n văng vẳng và thấp thoáng, đó là tất cả cái thê lương nó khởi đầu những mẩu truyện cổ thời  (Vũ Ngọc Phan). Từ đất khách quê người, sau khi xem một cuốn phim tŕnh bày công cọng ngày 13/03/1997 tại Bỉ, NND thổ lộ tâm t́nh: Những âm thanh, sắc màu và kỷ niệm ngày cũ trên quê hương đang sống lại rơ rệt, một cảm giác êm đềm nhưng mơ hồ đang lan dần trong tôi. Càng lúc xúc cảm càng mạnh hơn. Chợt tôi nhớ lại ḿnh đang ở đây, xa quê hương ngàn vạn dặm. Tôi cảm thấy một nỗi nhớ thương lạ lùng, mănh liệt tràn ngập và bỗng chốc oà vỡ trong tôi. Một thoáng chơi vơi, tôi rưng rưng. Tôi cúi mặt xuống, môi bặm chặt lại và nín thở cho… qua cơn xúc động…’’ (Bút kư… Nhỏ).
 
   Nỗi buồn xa xứ, nhà thơ nữ Khánh Hà ở miền Bắc Âu giá băng,  cứ mỗi năm mùa Xuân đến lại nhớ năm 1975 với những h́nh ảnh loạn lạc kinh hoàng của miền Nam bị xâm chiếm: Tháng Tư vết thương xưa c̣n đau / Tóc tang phủ xuống buổi chiều nào / Thành phố ta trong giờ dẫy chết / Quê hương ta tan tác nghẹn ngào (Điệp Khúc Tháng Tư). Khánh Hà mặc dầu nhớ quê hương một cách nồng cháy, vẫn không chịu theo một số người đă quên ngày Quốc Hận, để trở về VN sau kế hoạch phỉnh phờ « cởi mở kinh tế »  của nhà cầm quyền kể từ năm 1986-1987:  Người chẳng đợi về trong vinh quang / Mà về như những kẻ qui hàng / Giặc thù c̣n đó trên quê mẹ / Ta thà sống trọn kiếp lang thang (Về Được Sao). Tương tự nhà thơ Đỗ B́nh là một người con có hiếu với gia đ́nh, nhưng cùng một lúc lại rất trung thành với tổ quốc: ông đă từng chiến đấu với tư cách sĩ quan QLVNCH và đă bị tù cải tạo như hầu hết những cựu chiến binh Cộng Ḥa. Bó buộc ĺa nhà ra đi v́ trạng huống, nay có thể trở về thăm mẹ, song không muốn v́ nước vẫn c̣n mất, dân ta vẫn c̣n nô lệ, Mẹ ở đây là mẹ hiền sinh thành mà cũng là « M ẹ Tổ Quốc »:  Viễn xứ mây chiều vương dáng mẹ / Mắt buồn u ẩn mấy hàng tre / Tuyết rơi tê tái hồn vong quốc / Mẹ xá cho con tội muộn về (Mẹ, tr. B́a). Cùng một ư niệm, Việt Dương Nhân, tác giả « Bốn Phương Ch́m Nổi »  qua những câu thơ đượm màu quê hương, diễn tả thân phận ḿnh nơi đất khách,  đă đi sâu hơn nữa vào t́nh yêu, t́nh đời. Để cụ thể hóa ḷng trung thành với nước Việt xa xôi, nàng thốt ra những lời tự đáy ḷng:  Xin thề với Mẹ, Mẹ ơi ! Việt Nam Mẫu Quốc, con đời nào quên / Ḷng con vẫn quyết vững bền / Đấu tranh Phục quốc xây nền Tự do…
 
   Về Hà Nguyên Du « hay là óc năo và xương thịt của một thi nhân », một nhà thơ triết lư song rất giàu tưởng tượng một khi đă yêu:  Bàn tay có một ngón dài / Đảo anh có một lâu đài riêng em / Riêng cho em, một con tim / Một kho báu quí chờ em trị v́ (Lối Khác, tr. 40-41)… HND không bao giờ quên được nỗi thống khổ của dân ḿnh cùng những người thân yêu lúc ông c̣n là tù nhân của một chế độ khinh miệt nhân quyền:  Ơi quê nhà rách tủa áo, trơ thây ! Em ngọc quí chợt nhiên là sỏi cuội ! Mẹ vẫn thân c̣ mệt nhoài, hai buổi ! Ta gông cùm,  tàn úa hết hoa niên !  (Một Bức Tranh, tr. 78). Giống hệt phần đông đồng bào chúng ta đă phải bỏ nhà xa nước, kéo lê cuộc sống nơi quê người, không một ngày nào thi nhân lại không hướng mắt về cố đô, thành phố hồi xưa biểu hiệu dân chủ tự do, hạnh phúc của mỗi một con người:
Sàig̣n trong mơ, Sàig̣n trong thơ
Ngày về xa không, ngày về có gần
Nước mắt em sa, nụ cười anh lịm
Dấu chấm than như cột cờ không chân
… Sàig̣n trong mơ, Sàig̣n trong thơ
Người về bao lâu, đời mẹ có c̣n
Tóc rối em rơi, bạc đầu anh rụng
Dấu chấm than như lệ hờn anh rơi  
(Sàig̣n trong mơ, Sàig̣n trong thơ, tr. 81-82). Là ‘’ Nước Mắt Mẹ Việt Nam ‘’, nhà thơ Nguyễn Huệ Nhật sau Tháng Tư Đen, đă bị bắt giam và cưỡng bách đi vùng kinh tế mới và khi được thả ra, ông than thở:  … Tôi trở về sau nhiều năm cải tạo / Đă thuộc bài  “cách mạng” máu tanh hôi  / Tôi quặn thắt thấy vợ con ḿnh đói /  Nh́n đồng bào gầy guộc ngán ngao đời / Tôi trở về trong cuộc đau buồn thống thiết / Thấy những ḍng sông nước mắt quê hương  (Tôi Trở Về, tr. 40). Nhưng từ đất lạ (Đức Quốc), ông … “tin chắc rằng dân tộc VN sẽ biến nước mắt thành niềm vui trong ngày đẩy lùi tội ác Cộng nô”  và giữ vững niềm hy vọng trong một ngày mai tươi sáng: (Vượt Biển) Thôi nhé từ đây giă biệt nhau / Một mai quê cũ có thay màu / Ta nuôi hồn nước dù đất lạ / Hẹn sẽ về thương với cỏ lau.    
 
   Tương tự Khánh Hà, nhà thơ nữ Dư Thị Diễm Buồn (Nỗi Ḷng Người Đi), sau khi nhận được thư một người bạn khuyên nàng nên về thăm cố xứ, thăm lại người thân, viếng di tích, mồ mả ông bà… nàng đă trả lời, không đắn đo:
Đọc thư bạn ḷng tôi buồn vô hạn
Khi xứ người tôi vẫn trắng đôi tay
Khi quê hương ngoắc ngoải từng ngày
Về có trả được ngọn rau tấc đất ?
Tôi sẽ về khi nước tan bóng giặc
Góp bàn tay cùng gầy dựng non sông
Tôi sẽ về khi không thẹn với ḷng
Được hoan hỉ không phụ ḷng cha mẹ
    
   Rất sùng bái Thiên Chúa, Phương Du Nguyễn Bá Hậu mời chúng ta theo dơi cuộc hành tŕnh khá xúc động của ông trong ‘’ Đau Khổ và T́nh Thương’’, đi tự nguồn gốc hai câu thơ của Alfred de Musset: L’homme est un apprenti, la douleur est son maître / Et nul ne se connaît tant qu ‘on n’a pas souffert  mà ông đă dịch ra tiếng Việt: Sự đau khổ nếu ta không có / Biết thân ta thật khó muôn bề /  Ta là người thợ học nghề / Có đau mới biết rơ về thân ta. Ông cho ta một ch́a khóa  - với tâm linh làm khuôn mẫu - mở đường đi tới một giải pháp  nằm trong tin tưởng và hy vọng: Gặp đau khổ ta cần chịu đựng / Theo Thánh hiền nên vững ḷng tin / Ta hèn nên phải cầu xin / Trời cao ban phúc giữ ǵn hồn ta…
 
    Họa lại một bài của Song Hường, nhà thơ nữ Lê Bạch Lựu, tác giả ‘’Hoa Nở Vườn Lê ‘’ cho ta biết về THƠ:
Là bướm lượn bay dưới nắng trời / Là muôn hoa nở thắm màu tươi / Là hồn dân tộc bay theo gió / Là bóng quê hương đẹp tuyệt vời / Là gió heo may ḷng xúc cảm / Là mùa thu đến lá vàng rơi / Là trăng dơi bóng hồ than thở / Là khúc trường ca cuộc đổi đời (Họa: Thơ Là Ǵ ?)… Trong lúc bà DE STAËL (1766-1817) định nghĩa: Thơ phải là phản ảnh, bằng cách ứng dụng những màu sắc, âm thanh và tiết diệu, của tất cả những vẻ đẹp trên thế gian. Sự đau khổ tận cùng phải chăng là một trong những tuyệt diệu của thế gian ? Đúng hơn nữa trong trường hợp nhà thơ nữ Hoàng Xuyên Anh (hiện giờ Chủ tịch Hội Văn Bút Việt Nam Miền Tây Bắc Hoa Kỳ), Alfred de Musset (1810-1857) đă thốt lời bất hủ: ‘’ Les plus désespérés sont les chants les plus beaux. Et j’en sais d’immortels qui sont de purs sanglots ‘’: Những lời tuyệt vọng nhất phải chăng  là những lời ca tuyệt tác ? Tôi biết có nhiều vần thơ bất hủ mà chỉ là những tiếng khóc nức nở của linh hồn. Đối với HXA, tác giả Nỗi Ḷng Cô Phụ : Nỗi  buồn u uất thành thơ / Nỗi đau xoáy óc kén tơ nhả sầu… Người thiếu phụ trong khi mất con và nhan sắc trong tai nạn 1985, nay lại mất chồng ba năm sau (1988), nhớ lại ngày đám tang thật là lâm li, thiểu năo… Khung trời lất phất mưa bay / Anh đi có nhớ chuỗi ngày bên nhau ? Mưa Ngâu tê tái ḷng đau / Tim em nức nở nghẹn ngào nhớ anh!  (Tiễn Anh, NLCP tr. 28-29).
 
   Để diễn tả t́nh yêu, t́nh đời, t́nh người, xin quí vị t́m đọc những tác phẩm của Bảo Trâm- Trang Thanh Trúc (Từ Mây Khúc đến hẹn anh 15 Năm, đă để lại cho tôi nhiều kỷ niệm êm dịu xa xưa), Phạm Ngọc (Nỗi Đam Mê Muộn Màng: … Chim trời vỗ cánh tung bay / Hoàng hôn thăm thẳm chiều mây tím ngàn / lạc bầy gơ nhịp hoang mang / cuối đường đón ánh trăng tàn chợt rơi ), Thảo Chi Bùi Mỹ Hoa (t́nh yêu tinh khiết trong  Nhẹ Bước Vào Thơ  và Hoa Ô Môi: Anh ơi ! Em nói lời tha thiết / Từ trái tim vừa trổ lá xanh / Cúi xuống anh hôn màu lá biếc / Lá run v́ gió nhẹ rung cành…),  Dư Thị Diễm Buồn Trong Lâu Đài Kỷ Niệm hay là kư ức về gia đ́nh, bạn hữu và miền Nam yêu dấu của một nhà thơ tự do: Quê hương ơi chứa chan niềm nhung nhớ / ỗi địa danh là một nỗi yêu thương / Ở mỗi nơi có mỗi nỗi vui buồn, ‘’M ây Ngàn’’,  của B́nh Thanh Vân (với mấy vần thơ vừa nhẹ, vừa buồn như một áng mây lướt thướt trong đêm vắng, dưới ánh trăng mờ: Yêu đắm say rồi nhớ măi thôi / Tim co giá buốt nỡ chia đôi / Nửa tim em gửi anh quên mất / Nửa để cho em khóc muộn rồi / Gió đưa qua cửa lạnh từ đây / Lạnh thấu hồn em, hỏi đám mây /  Trôi măi đến đâu mây hợp lại / Phương trời nhung nhớ của hôm nay…),  “Ngàn Mây Trắng” của Yên B́nh - Ngọc An hay là “T́nh trong giây phút mà thành thiên thu(Sonnet d’Arvers – Khái Hưng):  Từ người ĺa bỏ ra đi / Trắng đêm không ngủ sá ǵ dung nhan / Nhiều lần dỗ giấc muộn màng / Chiêm bao ác mộng bàng hoàng thêm thôi / Tỉnh ra thêm nỗi ngậm ngùi / Người yêu nay đă về nơi muôn trùng… Thu Minh, tác giả “ Sợi Nắng Mong Manh” hay là bức tranh quê của một nhà thơ c̣n chứa đựng tâm t́nh đất nước: Từ nơi xa con gửi về đất mẹ / Nỗi nhớ nhung cháy bỏng khát khao người / Nhớ cánh diều thả bay tít chân trời / Con đê trẻ dong trâu về ṃn lối / Con vẫn nhớ búp hoa bèo tím nổi / Ven bờ ao hái một chiều nào / Ḷng thơ ngây trong trắng tuổi chiêm bao / Niềm hạnh phúc b́nh yên trên đất mẹ (Gửi Về Đất Mẹ), Trước Khi Mùa Xuân Đến “hay là nỗi buồn thế kỷ của một người thiếu phụ cô đơn “: Chúng ta có nên lên án thiêu đốt Bích Xuân đă viết hai bài có tính cách luyến ái trong một cuốn sách gồm 22 bài truyện ngắn, như một bà phù thủy dưới thời Trung Cổ ? – Hoàng Minh Tâm (Nắng Chiều 2): Xa xa thoáng bóng chân mây / Đèn mờ cô quạnh lất lây cội t́nh / Chạnh ḷng thương xót thân ḿnh / Khuya rồi c̣n lại bóng h́nh thế thôi (Phiêu Du), “Thu Man Mác” của Vương Thu Thủy (Tôi muốn yêu nhưng yêu rồi lại sợ / Sợ thời gian xóa bỏ bóng h́nh ai / Sợ lá thu vùi lấp dấu chân người / Sợ Thu buồn làm người yêu mơ mộng…), “Giọt Sữa Đất của Phương Triều “ hay là tinh lực quê nhà trong nguồn cảm hứng của thi nhân” (Con chạy v́ chân không thể đứng / Chỗ ngồi chông bẫy chéo đan nhau ! Bỗng dưng thành kiếp vô thừa nhận / Cha ngục tù xương gởi chốn nào), Giữa Ḍng của Lê Nguyễn, nhà thơ nhân trí trong một thời đại đảo điên (… Việt Nam ơi ! Tên Mẹ cao thiêng / Tuổi ngót năm ngh́n măi hằng xinh đẹp / Mẹ d́u tôi qua từng đoạn trần đời / Từ bước chập chừng - giờ quá sáu mươi ! …), “ Chuyện Ngày  Xưa “ của Như Hoa Lê Quang Sinh và cuộc hành tŕnh trong dĩ văng của nhà thơ với tác giả TMBS:  Đêm đêm hướng mắt về phương xa / Nghe Thái B́nh Dương sóng vỗ bờ / Có phải tiếng gầm bom lửa đạn / Cho ḥa b́nh nhân ái bao la / Rồi một sớm thu trời ảm đạm / Mẹ bàng hoàng tin dữ: con về / Từ bên kia đại dương bom đạn / Trong chiếc quan tài lạnh tái tê (Mẹ Monterey)…
 
   Thi Họa Tập  Hoàng Vinh (Thu về chạnh nhớ cảnh chia phôi / Mây trắng lang thang khắp đỉnh đồi / Viễn xứ bao năm c̣n cách trở / Quê nhà ngàn dặm vẫn xa xôi…), Nỗi buồn Da Diết của Thương Hà hay là một t́nh yêu phi lư và ảo vọng dệt bằng thơ ( V́ thương anh em trở thành thi sĩ / Dệt vào thơ những sợi nhớ bâng khuâng / Định gửi anh, nhưng sao thấy ngại ngùng / Sợ anh biết… em mê anh rồi đó!) , giọng hát tuyệt vời của Huyền Châu, nữ danh ca số 1 ở Montréal trong lúc phu quân Lăng Tử (Ngồi Quán Cóc Tán Dóc Chuyện Đời) với ng̣i bút sắc bén, với giọng nói rất “mặn” nhưng không bao giờ thô tục và không oán hận ai, mà tôi đă so sánh với nhà kiến văn lục (mémorialiste) Sainh Simon, nhà biên khảo Bs Nguyễn Xuân Quang với sách “Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt”, đưa ra nghị đề là dân tộc ta đă thuộc vào những dân tộc rất văn minh ngay từ Thượng Cổ sử, nghĩa là các nước nằm trong Đế Quốc Mặt Trời (Empire du Soleil) với Vũ Trụ giáo làm phương châm, bút kư của nữ nghệ sĩ quốc tế Bích Thuận ‘’T ừ Làng Vân Hồ đến UNESCO ‘’, tác giả bài thơ “T́nh Vô Vọng”  được Lê Mộng Nguyên phổ nhạc…  và nhất là Hoa Nở Vườn Yêu mà trong đó đôi uyên ương thi sĩ Minh Hồ - Minh Hồ Đào  đề cao t́nh nghĩa vợ chồng: tôi  đă nói nhiều trên Đài Phát Thanh VNTD nhân Mùa  Lễ T́nh Yêu - Thánh Valentin: hai nhà thơ thề nguyện yêu nhau cho đến ngày tận thế: Khi nào trời lặn hướng đông / Th́ đây mới dứt chỉ hồng nợ duyên!
                                                                      Lê Mộng Nguyên (Paris)
 

 




 


 

 

Thư từ liên lạc:  vuongtrungduongonline@yahoo.com
Copyright © 2006 vuongtrungduong
Last modified: 01/02/07