Home Văn Học   Nghệ Thuật 

Sinh Hoạt

Phiếm Luận Diễn Đàn

Giải Trí

Thư Tín 
Văn Học
Nghệ Thuật
Sinh Hoạt
Phiếm Luận
Trang Thân Hữu Thơ - Văn
Diễn Đàn
Giải Trí
Thư Tín
 
 
                           Hồ Dzếnh (1916-1991),
                         và thân phận nàng Kiều
                                                         Nguyễn Thiên Thụ
 
Hồ Dzếnh cha Trung Hoa mẹ Việt, học trung học, năm 1931 dạy tư, viết văn tại Hà Nội. Sau 1945 hoạt động văn hóa tại Thanh Hóa. Năm 1950 vợ chết con bệnh , năm 1952 về thành. Năm 1953 vào Sài g̣n viết văn, làm báo. Năm 1954, trong khi dân chúng bỏ vào Nam, ông trở về Hà Nội. Năm 1956, ông viết bài tưởng niệm tướng Nguyễn Sơn trong khi nhóm nhóm Nhân Văn cũng ra dặc san tưởng niệm tướng Nguyễn Sơn cho nên ông bị nghi là có liên hệ với nhóm này. Ông bị khủng bố và trừng phạt, không được dạy học, phải đi làm công nhân để sống, và coi như chấm dứt nghiệp văn chương. Ông là người có ư chí và cũng như Chế Lan Viên, ông ư thức được thực tại xă hội, và thân phận nàng Kiều trong cuộc rượu :
Bánh vẽ
Chưa cần cầm lên nếm, anh đă biết là bánh vẽ
Thế nhưng anh vẫn ngồi vào bàn cùng bè bạn,
Cầm lên nhấm nháp,
Chả là nếu anh từ chối
Chúng sẽ bảo anh phá rối
Đêm vui.
 
Bảo anh không c̣n có khả năng nhai
Và đưa anh từ nay ra khỏi tiệc.. .
Thế th́ c̣n dịp đâu nhai thứ thiệt?
Rốt cuộc anh lại ngồi vào bàn
Như không có ǵ xảy ra hết
Và những người khác thấy anh ngồi
Họ cũng ngồi thôi
Nhai ngồm ngoàm. . .
 
Sau một thời gian buông xuôi, ông trở lại lối van thơ tuyên truyền của chế độ.Trong khi đoa, ông âm thầm viết cho riêng ông.Ông mất năm 1991 trong cảnh cùng khổ. Năm 1993, di cảo của ông được gửi qua Mỹ, Thanh Vân xuất bản tập thơ Quê Ngoại II, tức Tiếng Hát Thiên Nga và tập hồi kư Quyển Truyện Không Tên.
Tác phẩm của Hồ Dzếnh có nhiều loại.  Trước 1945, ông là một nhà tho nhà văn lăng mạn, sau 1945, ông vẫn tiếp tục dù chỉ làm một số ít ở trong một bối cảnh khắc khổ, và đen tối. 
Và sống dưới chế độ cộng sản, ông phải làm những bài văn, bài thơ theo chiều hướng ‘’hiện thực xă hội chủ nghĩa’’. Nhưng ông là con người có khí tiết. Ông đă phản đối dù là phản đối một cách âm thầm. Do đó, văn thơ ông có ba loại là tuyên truyền, lăng mạn và tranh đău.
 
 I.THƠ LÃNG MẠN
Trước 1945, ông đă nổi danh với những bài thơ lăng mạn, một thứ lăng mạn nhẹ nhàng. Thơ ông sâu sắc, nhằm phân tích tâm lư con người, chứ không phải kể lể, van xin và than khóc như ở một số thi nhân khác..
 
 QUÊ NGOẠI I
 
Quê Ngoại là một ác phẩm rất đặc sắc đă  làm ông rạng danh chốn văn đàn. Cho đến ngày nay,  độc giả vẫn yêu thích thơ ông.
 
NGÂP NGỪNG
 
Em cứ hẹn nhưng em dừng đến nhé!
Để ḷng buồn tôi dạo khắp trong sân,
Ngó trên tay, thuốc lá cháy lụi dần...
Tôi nói khẽ: Gớm, làm sao nhớ thế?
 
Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé!
Em tôi ơi! T́nh có nghĩa ǵ đâu?
Nếu là không lưu luyến buổi sơ đầu?
Thuở ân ái mong manh như nắng lụa.
Hoa bướm ngập ngừng, cỏ cây lần lữa,
Hẹn ngày mai mùa đến sẽ vui tươi,
Chỉ ngày mai mới đẹp , ngày mai thôi!
 
Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé!
Tôi sẽ trách -- cố nhiên -- nhưng rất nhẹ!
Nếu trót đi, em hăy gắng quay về,
T́nh mất vui khi  đă vẹn câu thề,
Đời chỉ  đẹp những khi c̣n dang dở.
Thư viét  đừng xong, thuyền trôi chớ đỗ,
Cho ngh́n sau... lơ lửng... với ngh́n xưa...
 
T́nh yêu của Hồ Dzếnh là một thứ t́nh yêu nhẹ nhàng và xa cách.Và đó là bi  quan hay nhút nhát? Hoặc tác giả muốn tận hưởng cái mùi vị khổ đau của yêu đương? Tại sao đă yêu nhau, hẹn ḥ nhau mà lại muốn người yêu không đến?  Đó làmột tứ thơ rất lạ, rất hay. Điểm này chính là cái lăng mạn, cái sâu sắc và duyên dáng của tác giả!
Trong khi Xuân Diệu cuồng nhiệt, hối hả, Hồ Dzếnh lại chọn thái độ trung dung: không cuồng nhiệt cũng không thờ ơ:
 
DUYÊN Ư
 
Đừng buồn nhưng cũng đừng vui,
Êm êm nắng nhẹ qua trời rộn mưa.
Hỡi người tôi nói ǵ chưa?
Ta đương sắp nói, hay vừa nói ra?
 
Trời đừng cho búp lên hoa,
Cho khi gần đến, tôi xa măi nàng.
Cho tôi thoáng cảm mùi nhang,
H́nh dung xa vắng cung đàn rồi thôi.
Chập chờn bướm nửa hoa đôi,
T́nh nên chỉ mộng khi đời sẽ thơ.
Ước ǵ bạn măi là cô,
Để duyên hai đứa bao giờ cũng tươi.
Đừng buồn nhưng cũng đừng vui,
 Êm êm nắng nhẹ qua trời rộn mưa.
 
T́nh yêu trong thơ Hồ Dzếnh là một hoài niệm:
Em nhớ không em? Mới độ nào,
Đem cành cây chiết cạnh bờ ao.
Cây tươi trong lúc người lơ đảng.
Thấm thoắt ngày qua nhánh trổ đào.
 
Tóc liễu xanh xanh vẫy tóc người,
Tay em cầm nhẹ lấy tay tôi.
Lần đầu ân ái trao bằng mắt,
Rồi để t́nh thương đến trọn đời.  .  .
 (T́nh xưa)
 
 Anh  đợi chờ em suốt bấy lâu,
 Nhủ thầm: xuân thắm chả phai đâu.
Một khi xuân thắm là mong nhớ,
Và cả thiên thu vĩnh viễn sầu..   .
(Xuân đôi ta)
 
Hồ Dzếnh cũng có một số bài thơ thuộc chủ đề đồng quê.Với thơ lục bát và t́nh cảm yêu thương nhẹ nhàng giống hồn ca dao và thơ Nguyễn Bính.
 
Lũy Tre Xanh  
 
Làng tôi thắt đáy lưng... tre
Sông dài, cỏ mượt  đường đê bốn mùa.
Nhịp đời định sẵn từ xưa:
Ươm tơ tháng sáu, lên chùa tháng giêng.
 
Chợ làng mỗi quư mươi phiên,
Đong ngô đổi gạo, trang tiền bằng khoai.
Trong làng lắm gái, thưa trai,
Nên thường có luật, chồng hai vợ liền !
 
Làng gần đô thị, tuy nhiên
Mắt trong vẫn giữ được niềm sắt son
Lâu rồi, truyền tử, lưu tôn
Mầu duyên ân ái mây c̣n thoảng bay.
 
Tôi yêu, nhưng chính là say
T́nh quê Nam Việt, bàn tay dịu dàng.
Thơ tôi: đê thẳm, bướm vàng,
Con sông be bé, cái làng xa xa...
 
 
SANG THU
Hiu hắt gió gửi mây về,
Nửa thu sang đó, nửa hè c̣n đây.
Bóng mờ xuống tận chân mây,
Non cao vắng vẻ, sông đầy nhớ mong.
Cô hồn rủ dáng trên không,
Giờ nghiêng cánh nhớ trong ḷng tịch liêu.
Xe đi tiếng rộn qua chiều,
Lửa thôn thấp thoáng mái lều ngẩn ngơ.
Mênh mang xanh thắm phai tờ,
Chân đi vương vấn lờI thơ ngậm ngùi
Thu về gió nó lôi thôi..    .
 
(Trung Bắc Chủ Nhật số 179, ngày 17-9-1943)
 
Bài thơ sau đây đă được nhạc sĩ Dương Thiệu Tước phổ nhạc và đổi nhan đề thành Chiều:
 
Màu cây trong khói
Trên đường về nhớ đầy
Chiều chậm đưa chân ngây
Tiếng buồn vang trong mây
Chim rừng quên cất cánh
Gió say t́nh ngây ngây
Có phải sầu vạn cổ
Chất trong hồn chiều nay?
Tôi là người lữ khách
Màu chiều khó làm khuây
Ngỡ ḷng ḿnh là rừng
Ngỡ hồn ḿnh là mây
Nhớ nhà châm điếu thuốc
 
QUÊ NGOẠI II  gồm một số bài thơ cũ, và một số bài thơ mới. Phần lớn là thơ sáng tác từ 1945 cho đến 1990-1991.
Trong tập Quê Ngoại  II, loại thơ  hoan hô, ca tụng đảng theo kiểu Tố Hữu, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên dường như không có, có lẽ ông đă loại bỏ thứ văn chương này không muốn đem ra cho đồng bào, nhất là đồng bào Việt Nam hải ngoại thưởng thức mùi văn chương con thuyền xứ Nghệ! Và loại thơ tranh đău như thơ Trần Dần, Hữu Loan, Phùng Quán cũng không thấy có. Ông quá kín đáo, không bày tỏ quan điểm chính trị của ḿnh. Có lẽ ông đă sợ tai bay vạ gió cho nên phải ‘’thủ khẩu như b́nh, pḥng ư như thành’’trong một chế độ mà trí thức, văn nghệ sĩ đuợc coi là kẻ thù số một của cái đảng chuyên chế!
T́nh cảm thông suốt tập thơ là nỗi buồn. Nỗi buồn ngự trị suốt chiều dài cuộc đời tác giả cũng như bao cuộc đời người dân sống dưới ngọn cờ đỏ. Ông chỉ nói bằng tiếng thở dài uât nghẹn và đau đớn. Hồng Phúc vẫn là một h́nh bóng nhớ thương vĩnh cữu trong trái tim Hồ Dzếnh:
 
Có Một Bài Thơ
 
Phúc ơi có một bài thơ,
Mà anh viết đến bây giờ chưa xong
Đèn nḥa, giấy trắng mênh mông
Mười năm tâm sự một ḍng chửa thôi.
1947
 
Lăng mạn là bản chất cố hữu của Hồ Dzếnh.  Sống trong chế độ cộng sản, con người thi sĩ, tính chất lăng mạn của ông vẫn tồn tại trong vùng sâu kín của tâm thức. Trong tâm tư của ông, luôn có h́nh ành của người yêu xưa, người vợ cũ. Năm 1952 ở Sài g̣n, vào ngày xuân, ông viết:
 
VÔ ĐỀ
 
Xuân nầy ta nhớ người Kinh Bắc,
Mưa bụi rơi vào ly rượu thơm.
Tờ báo cuối năm màu vẫn gắt,
Như màu áo mới của giai nhân.
 
Tơ tóc thời gian vương kẽ tay,
Lâu rồi không viết nữa. Ô hay
Cớ sao thương nhớ về trên má
Tâm sự mênh mang, sầu vẫn đầy.
 
 Hà Nội ngày nay có khác xưa?
Hoa đào vẫn nở, trời c̣n mưa?
Đồng Nai cỏ biếc, phơi mây trắng
Xuân đến, khôn nguôi buồn trái mùa!
 
 Săy lại vần thơ, đốt nén nhang,
Mảnh buồn tan tác giữa nhân gian.
Câu văn ly hận ngoài quê Bắc,
 
‘’Hờ hững ai xui thiếp phụ chàng?’’
(Quyển Truyện Không Tên)
 
II.THƠ TUYÊN TRUYỀN
 
Loại thơ này đăng trên báo, sau được nhà xuất bản Văn Học,  Hà Nôi xuất bản năm 1988 , nhan đề là Hồ Dzếnh, Tác Phẩm Chọn Lọc. Tác phẩm này gồm một số bài thơ  làm sau 1945, phần lớn là ca tụng kháng chiến, và một số thơ trong Quê Ngoại và truyện ngắn trong  Chân Trời Cũ trước 1945 .
Sau vụ Nhân Văn, và sau những đầy ải của đảng, ông vẫn ca tụng Đảng, vẫn làm thơ theo chiều hướng ‘’ hiện thực xă hội chủ nghĩa’’. Có lẽ  do áp lực của cộng sản mà ông phải cúi đầu tuân lệnh. Hay tự ông, phải xin xỏ, năn nỉ theo kiểu ‘’ ḷn trôn’’ để được sống? Tuy nhiên, thơ ông nhẹ nhàng, đôi khi bay bướm,  chứ không sắt máu như Tố Hữu, Xuân Diệu, hoặc phản nghệ thuật như Lưu Trọng Lư :
 
BẾN NƯỚC THANH TR̀
 
Đ̣ em đỗ bến Thanh Tŕ,
Bến vui nên một lần đi nhớ hoài.
Tám năm băo lửa sông dài,
Mái chèo em vẫn khoan thai nhịp nhàng.
 
Ai vào khu bốn th́ sang,
Để người Hà Nội quá giang khỏi chờ.
Hậu phương, tiền tuyến hẹn ḥ,
Cầu phao Hàm Tử, bến đ̣ Chương Dương.
Máu tim nối mạch máu đường,
Sùc em tiếp sức cánh buồm đảm đang.
Sớm hôm bến băi rộn ràng,
Cầu Long Biên hội lửa hàn đêm khuya.
Hẹn nhau tan giặc ta về,
Bến vui lại ghé Thanh Tŕ gặp nhau.
Gió nào lộng cánh buồm nâu,
Giật ḿnh anh tưởng đ̣ chao em cười.
1-1971
 
 
KHÚC HÁT CẦU PHAO
 
Hà Nội xốn xang ngày giáp Tết,
Trời sao đèn điện vắt sông Hồng.
Sàn cầu phao gỗ xe chao nhịp,
Nườm nượp ngược xuôi người hai ḍng.
 
Hội sông, hội bến nào vui thế,
Một tháng ba mươi đêm hoa đăng.
Tiếng Bắc, tiếng Nam xen tiếng Huế,
Bước người chen chúc bước xuân sang.
 
 Tám năm bom giặc, đường không dứt,
Tên lửa, xe tăng vẫn vượt cầu.
Chuyện lạ bâng khuâng ḷng khách lạ,
Đất này hoa nở giữa chiêm bao?
 
Đất này đâu chỉ đẹp Hồ Gươm,
Lớp lớp rêu phong nếp miếu đường.
H́nh tượng cầu phao vào lịch sử
Như ḷng than đá hóa kim cương.
 
 Tổ quốc hành quân đôi dép lốp,
Đường dài Nam Bắc nhịp cầu phao
Ba mươi bảy triệu t́nh xuân thắm,
Cùng đón xuân chung một chiến hào.
1-1973                        
 
Bài thơ sau đây đạt đỉnh cao trong nghệ thuật ca tụng:
 
 NGÀY ẤY XUÂN VỀ
 
 Khẩu súng trên vai vừa mới khoác
Tai bèo vành mũ gió rung rinh
Em vào tự vệ bao giờ thế
Mà dáng c̣n tươi nét nữ sinh.?
 
Thênh thanh xa lộ dài hun hút
Pháo lớn, tăng ta chiếm trọn đường
Thành phố rạng đông hừng trước mặt
Hăy c̣n lóng lánh triệu kim cương.
 
 Xin mời em bước lên xe pháo
Tay chỉ giùm nhau những nẻo đường
Em biết nơi nào hang rắn độc
Nơi nào sào huyện lũ xâm lăng
 
Quên hỏi tên em, hỏi phố em.
- Dạ, Trương Minh Giảng, Nguyễn Trung Kiên
Nh́n em, pháo thủ cười tươi tắn
Tên ngỡ con trai hoá gái hiền
 
Tất cả dường như có phép thần
Trăm năm khát vọng một ngày Xuân!
Chao ôi bông điệp xôn xao quá
Và cánh hoa mai nở trắng ngần.
 
Giải phóng  đă qua hai độ Tết
Thơ mừng thống nhất chẵn hai năm
Em vào bộ đội bao giờ thế
Mà dáng c̣n nguyên nét trẻ măng?
Xuân 1977
 
Hồ Dzếnh đă sống dưới chế độ cộng sản và bị đày đọa, tuy vậy, ông cũng như các văn nghệ sĩ khác vẫn phải cúi đầu khom lưng tuân lệnh đảng, phải moi tim, moi óc viết những bài ca tụng đảng, ca tụng chiến thắng để mà sống dưới ánh mặt trời.
 
 III.TIỂU THUYET TUYÊN TRUYỀN
Bên cạnh thơ, Hồ Dzếnh cũng đă viết truyện theo đường lối ‘’hiện thực xă hội  chủ nghĩa’’. Tiếng bạc cuối cùng viết tháng 6-1957, nhằm tố cáo xă hội miền Nam cờ bạc, đĩ điếm mà cụ thể là Đại Thế giới, Sài g̣n trước 1954 ( Tác Phẩm Chọn Lọc, 125-134); truyệnTài Ngôn viết  3-1957 nhằm đề cao việc tải vũ khí vào Nam chống Mỹ (135-144). Ông viết theo phong thái ‘’ Chân Trời Cũ’’. Ông chỉ bỏ vào nồi canh rau muống một muỗng nắm tôm nhưng thực khách của ông lại muốn đổ vào cả bát mắm tôm cho mặn mà nên họ không thích ông lắm. V́ vậy mà ông cũng như Vũ Đ́nh Liên, Đoàn Phú Tứ chỉ ch́m đi vào hàng vô danh.
 
  IV. TIỂU THUYEẾT ĐỐI KHÁNG : QUYỂN TRUYEN KHÔNG TÊN
Nếu trong thơ, Hồ Dzếnh không cho ta biết rơ cuộc đời và tư tưởng ông, th́ trong Quyển Truyện Không Tên (Thanh Văn, Hoa Kỳ, 1993, dày 103 trang), tác giả đă nói rất nhiều. Ông cũng như những văn nghệ sĩ sống dưới chế độ cộng sản phải ca tụng lănh tụ, hoan hô đảng và cổ vơ chính sách của nhà nước. Điều này không tránh khỏi v́ ông đă viết thay cho con trai ông trong Quyển Truyện Không Tên:
‘’ Một nhà văn như cha tôi không khác ǵ cô gái điếm: Cô gái chiều khách hàng, nhà văn chiều thời đại.’’Ông cũng như Chế Lan Viên có hai khuôn mặt của Thúy Kiều ở chốn thanh lâu. Có khi bướm lả ong lơi, cười đùa cùng nhân thế; c̣n khi tỉnh rượu, lúc tàn canh, lại đau đớn xót xa. Ông mượn lời con trai ông viết về cuộc đời ông ở dưới ngọn cờ máu.Ông viết về chiến tranh, về những người lănh đạo chiến tranh tại miền Bắc, cùng các chính sách  vườn không nhà trống, phá cầu đào đường, cải tạo tư tưởng và cải cách ruộng đất tại miền Bắc là nơi ông đă t́m về nương náu, ngược với ḍng chảy của dân tộc:
"Tôi sinh ra giữa một kỷ nguyên khác lạ, kỷ nguyên của những con đường thênh thang bị phá vỡ, cầu bị sập, nhà cửa tiêu tan, xe cộ bịt lối. Người  đô thị tản mạn lên rừng xanh, những cô gái xinh tươi của cuộc đờii nhung lụa biến thành những cô hàng nước, những bèo bọt phong trần. Cuộc đời đó thật là vĩ đại và kinh khủng, lay chuyển hết mọi tầng lớp, giai cấp, san phăng hết mọi chênh lệch sang giàu. Nếu chỉ có một trạng thái biến đổi đó th́ chưa đến nổi gay gắt. Đằng này, buồn thế hệ gậm nhắm vào từng ḷng người, cái phẫn uất, cay chua nhào thành một loại cảm giác kỳ dị, gán lên cuộc sống một h́nh thức sượng sần khó tả. Cái ǵ dở, trái, đều được văn chương mới mệnh danh bằng những tiếng kêu ṛn: tiểu tư sản, phong kiến. Muốn vào trong cái thế giới vừa tân tạo hôm qua, con người bắt buộc phải qua một lượt lột xác, hay ít nhất, cũng phải có ư thức lột xác (19).    .
Ông đă lên án cái chủ thuyết đấu tranh giai cấp, chủ trương gây căm thù và chém giết của đảng vô sản.
Tôi nghĩ nhân loại gồm những thành phần điên quá lắm.. Trên quả đất nhân sinh chưa cần đến một giải pháp nào cả, mấy ngàn năm nay cuộc tuần hoàn của vũ trụ vẫn tiến đều.  Sao cứ phải lấy máu để dựng một sự nghiệp, lịch sử cổ kim chưa bao giờ thấy nói đến ḍng máu ác đổ ra mà làm nên truyện được. Nước Trung Hoa không sống v́ Vạn Lư Trường Thành mà sống v́ Khổng Tử. Dân tộc Pháp được nhắc đến thiên thu bởi v́ nền văn hoá tinh anh mà không phải v́ Nă Phá Luân hiếu thắng.    .   . ." ( 48).
Ông mượn lời cha dặn con để phê phán xă hội ông sống và chế độ ông phục vụ:
Con gắng mà hiểu rằng  cái thời đại bố sống là một thứ thời đại tác quái, thời đại bít hế nẻo thông và lương tâm nhiều khi rẫy chết. Lúc con đọc những ḍng chữ này, chắc loài người đă nguôi cơn điên loạn, thế hệ đă chôn cất những khổ đau một thời [...] Bố muốn rằng, đọc lại nó, con nên có cái tâm niệm này trước hết: đừng bao giờ cổ vơ, dầu chỉ bằng một lời nói vô t́nh, cái ư thức chém giết hằng rền vang trong mạch máu động vật [...]. Cái thời đại bố sống, anh em thù nhau, Đông Tây ghét nhau, quả đất hừng hực những căm hờn bất măn. Lẽ sống dệt bằng khói lửa, người ta không biết ǵ hơn là thủ tiêu nhau để ḥng thoát ngơ bí. Nhân loại cần phải hủy diệt, dẫu đến cả một cây cỏ non, nếu cần phải mở lối. Mở một lối đi qua xương máu, tang tóc, con người ngày mai đắc thắng dung mạo và h́nh thức sẽ ra sao? (75-76).
Ở một đoan khác, ông viết tiếp về thời đại  ông:
Trong cuộc xáo trộn Nam Bắc, có cái ǵ c̣n nguyên được giá trị cố hữu đâu. Cái quư nhất là con người không c̣n ǵ quư nữa, nếu nó không là thứ xuất phẩm  được rèn đúc theo khuôn khổ của thời đại  (87). 
Ông cho chúng ta biết cảm tưởng của ông khi cầm bút viết theo lối ‘’hiện thực xă hội chủ nghĩa’’. Ông cho rằng cộng sản là một ḷ sát sinh, nó giết chết văn nghệ và con người văn nghệ. Theo ông chỉ có văn chương và con người văn chương là sự sống của thế giới, là hy vọng của nhân loại ngày mai, c̣n cộng sản là bọn sát nhân:
Điều làm tôi hốt hoảng nhất là văn phẩm của tôi lâu nay viết ra, cứ giá băng và cằn cỗi. Tôi cũng chua xót, đau khổ, nhưng tại sao, cũng với giấy này bút nọ, tôi khong ghi được hết lời? Mà nếu ghi, lời tôi lại trệch khỏi ư. Nghệ thuật chắc có bất măn chỗ nào, nên nghệ sĩ không trả lên được đầy đủ bản sắc.[.  .  .] .Con mắt thời đại đă khác..Nó sắc và to, không có rèm mi nào làm dịu.. Tôi, tôi ưa nh́n thực tại với chút bóng dịu dàng, dẫu là chút bóng mơ mộng [. . .]. Chúng ta là những kẻ đáp con tàu tốc hành phản lực. Chúng ta bịn rịn nhiều thứ của chúng ta: nào hành lư vợ con, nào quần áo, tư tưởng.Mắt ta đă mờ. Lẽ dĩ nhiên là tốc lực con tàu không biết đến sự ngại ngần của hành khách, vẫn phóng chạy qua bức tường siêu âm [.     ]  Giữa những phức tạp ngổn ngang như kia, với những mâu thuẫn chọi với mâu thuẫn,  con người văn nghệ ngậm kín nỗi đau ḷng. Và giữa lúc cuộc đời dần biến  là một ḷ sát sinh lớn, tiếng nói văn chương sau này nếu được cất lên, sẽ là những tiếng trong sạch nhất. Nó im ĺm lúc này để hàm dưỡng, xúc tích, và mai đây, nó sẽ trổi lên thành một bản khải hoàn đắc thắng. Bởi v́ chỉ có văn chương là thành thật, chỉ có nghệ sĩ  là nhân đạo, những yếu tố đó sẽ xây dựng ngày mai với những nét sáng trong lịch sử (20-22).
Ông cũng cho ta biết quan điểm của ông về văn nghệ cộng sản. Cộng sản nhắm tiêu diệt tự do cá nhân nhưng họ lại sản sinh ra tệ nạn ‘’ sùng bái cá nhân’’, bắt văn học nghệ thuật làm nô lệ cho chính trị, biến văn nghệ sĩ thành văn nô suốt ngày đêm ca tụng lănh tụ và đảng mặc dầu đảng và lănh tụ là những tội phạm diệt chủng. Ông chỉ trích quan điểm văn nghệ nhân dân, văn nghệ quần chúng, văn nghệ phục vụ nhân sinh, hạ thấp giá trị nghệ thuật, cùng là quan niệm xă hội, quan niệm tập thể, dẹp bỏ cá nhân chủ nghĩa :
Văn nghệ biến ra một ư nghĩa khác: ai cũng làm văn nghệ được. Hầu như làm văn không c̣n hẳn là việc cầm bút nữa: đi phát động một tiềm thức trong đời sống cần phải khua dậy, một phong trào cần phải cổ vơ, gieo rắc một tư tưởng hợp thời, đó làm văn nghệ.Và tác phẩm của một cá nhân, tuy được mang tên ḿnh, phải có xen vào công tŕnh tập thể.
Trong cái biển đại chúng, bản sắc của một cá nhân bị đánh tan ra thành bọt. Văn nghệ không nhận ai là thiên tài cũng như cơi đời không biết có người nào là xuất chúng.
Một nhà văn như cha tôi không khác ǵ cô gái điếm: Cô gái chiều khách hàng, nhà văn chiều thời đại..Nhưng những đêm mái tranh mưa dột, ngọn đèn tỏ nhỏ tâm t́nh, nhà văn hay cô gái kia nghe năo ḷng trong cơn chua xót, không ngăn nổi những tiếng nức nở đưa về. Lư luận già dặn v́ được nhào kỹ, chỉ như những đường roi quât lên tiếng khóc hồn hậu: tiếng khóc có im, nhung nỗi đau c̣n măi (31-32).
Bàn về nghệ thuật, ông cho rằng cộng sản lợi dụng nghệ thuật với tà tâm, và lư thuyết của cộng sản về văn nghệ chỉ là ngụy thuyết:
Nghệ thuật không thể lừa được ai, và cũng không có ǵ lừa được nghệ thuật. Những tà tâm, lợi dụng nhất thời làm nổi tiếng, hay đúng hơn, làm xôn xao, sẽ ch́m ngập khi con người không c̣n có mặt để kêu rộn những nguỵ thuyết của ḿnh." (55).
Ông cho chúng ta biết về việc ông bị trừng phạt. Việc ông ra khỏi nghề giáo được nhắc đi nhắc lại như một điệp khúc. Ông kể về ông, đồng thời tố cáo nền giáo dục cộng sản:
Cha tôi không được dạy học nữa v́ sức yếu .[ ..} Ngừơi ta không cho bố  mày dạy học nữa (14-15).
Bởi v́ cha tôi không c̣n được dạy học nữa v́ lư do sức khỏe và nhất là v́ giáo khoa không thực tế. Học tṛ bây giờ quy tất cả các môn học về chính trị.Đầu đề một bài toán cũng phải có vài chữ mắc vào thời đại. Huống chi một thiên giảng văn, một trang luận, những cái nó phải chan chứa nguồn nhân sinh.... Chỉ tội nghiệp cho cô Kiều, cho Nguyệt Nga, lạc lơng từ mấy thế kỷ xa lại, thốt nhiên được người ta phê b́nh mổ xẻ .   . . ( 30-31).
Ông viết điệp khúc này và chuyện gia đ́nh ông nghèo khổ để tố cáo cộng sản dă man đă đày ải đời ông,  giết mất một vợ và một con của ông!
 
 Đọc Hồ Dzếnh, chúng ta xót thương cho ông, cho cả dân tộc đă phải tai ách cộng sản. Dẫu sao, ông cũng là nhà tiên tri, đă nh́n thấy cái giai đoạn sắt máu của cộng sản phải  tàn lụi đi, để cho tự do dân chủ vùng lên. Lúc con đọc những ḍng chữ này, chắc loài người đă nguôi cơn điên loạn, thế hệ đă chôn cất những khổ đau một thời. Ông cũng là người nh́n suốt chủ trương lối sai lầm của cộng sản. Ông là con người có ư thức, và chân thật không phải như những tên hề giả dối đă quay cuồng múa may một thời! Quyển Truyện Không Tên  của ông có giá trị của bản án kết tội chủ nghĩa cộng sản. Quyển Truyện Không Tên của ông là một thiên tiểu thuyết nhưng nó giá trị hơn cả những tác phẩm của các triết gia thế kỷ tiền bán thế kỷ XX v́ lúc này không được mấy người nh́n rơ chân tướng cộng sản và viết rành mạch, thẳng thắn như Hồ Dzếnh.
 
                                                                             Nguyễn Thiên Thụ
 
 
 

 




 


 

 

Thư từ liên lạc:  vuongtrungduongonline@yahoo.com
Copyright © 2006 vuongtrungduong
Last modified: 01/02/07