Home Văn Học   Nghệ Thuật 

Sinh Hoạt

Phiếm Luận Diễn Đàn

Giải Trí

Thư Tín 
Văn Học
Nghệ Thuật
Sinh Hoạt
Phiếm Luận
Trang Thân Hữu Thơ - Văn
Diễn Đàn
Giải Trí
Thư Tín
 
 
                       Men Nồng Trong Thơ Văn
                                                                         Thiết Trượng
 
Bài viết Men Nồng Trong Thi Ca của nhà báo Thiết Trượng viết cho báo Xuân Kỷ Mẹo (1999). Năm 2000, quyển Văn Hóa Rượu với 312 trang của Thái Lương, nhà xuất bản Xuân Thu mới ra đời.
Nhà báo Thiết Trượng là một trong những cột trụ của tờ Thời Vận váo giữa thập niên 80, Chủ Bút tờ Việt Nam Press năm 1993 nhưng chỉ vui chơi với viết lách. Bài viết Rượu Qua Thi Ca Việt Nam của nhà thơ Hạ Ái Khanh (Dương Viết Điến) và bài viết Men Nồng Trong Thơ Văn của Thiết Trượng... tưởng đâu là hai tay "lưu linh" nhưng... "luu linh" qua sách vở của "mọt sách". Cả hai là bạn cố tri đã bốn thập niên từ thưở bước chân vào quân trường. Vì bạn cố tri nên có cuộc vui nào chén tạc chén thù, Thiết Trượng cũng làm tài xế để rối ca bài "đưa người cho say trong đem nay"... VTrD - Cali Weekly

 

 
Mỗi độ Xuân về, nhấp ly rượu đào, mấy ai nghĩ đến sự chuyển vận của đất trời, giao ḥa của thời tiết để rồi bâng khuâng nhớ đến chất men nồng huyền diệu của người xưa đă khai sinh ra nó?
    Lịch sử của rượu có lẽ cũng lâu đời và huyền hoặc không kém so với sự xuất hiện của thủy tổ con người.
    Một nguồn tin lập đi lập lại hai năm nay từ các bậc “lương y như từ mẫu” phe Tây phương cho biết, nếu người ta muốn sống lâu hơn, có một cách mà bây giờ y học phải công nhận, là bà con cứ việc mỗi ngày... “vô một ly”! Nhưng thắc mắc của người viết là... “ly cỡ nào” mới được chứ? Một chung nhỏ, một ly cỡ lon bia, hay một ly cối cỡ một Pitcher của các bợm nhậu người Mẽo? Thôi th́, dù cỡ nào chăng nữa cuộc khảo cứu vừa qua của các nhà y học cũng làm mát ḷng hả dạ con cháu Lưu Linh. Có thế mới công bằng cho một loại coi như “thánh dược” trong một số trường hợp.
    Bản báo cáo được đăng tải trên New England Journal of Medecine cách đây một năm, tháng 1 năm 1998, dựa trên một sưu tầm gần 1/2 triệu người trong gần chục năm đă cho biết uống chừng mực một hay hai ly hằng ngày, 20 % các ông bà tuổi trung niên đă tránh được lưỡi hái tử thần so với những người không uống rượu. Nhưng tuổi thọ của các người uống rượu sẽ giảm sút nếu số lượng uống gia tăng trên mức đề cập. Mới nhất, gần đây ngày 6 tháng 1 năm
1999 trong báo cáo đăng tải của Journal of the American Medical Association cho biết uống điều độ một số lượng vừa đủ mỗi ngày, không cần biết là bia, vang hay rượu mạnh, sẽ giúp người ta giảm thiểu việc bị đứng tim (heart attacks), tránh bị “strokes” (ta hay cho là bị trúng gió khiến bị liệt bên người, méo miệng...). Hiệu ứng tốt này theo Bác sĩ Ralph L. Sacco của Columbia University College of Physicians and Surgeons, không áp dụng cho các người chưa quen dùng rượu.
    Bên Đông y có lẽ khai thác phương diện lợi ích của rượu nhiều hơn và lâu đời hơn Tây y. Ở VN, vô bất cứ tiệm thuốc Bắc nào, ta thấy đủ các toa thuốc ngâm rượu tăng cường sinh lực, bồi dưỡng khí năo cho nam nhân (trong đó nào là rắn hổ, bọ cạp, tắc kè, kỳ nhông...), chưa kể những toa thuốc thoa bóp cho xương cốt khi bị trật gân, sưng tay và dùng cho nhà luyện vơ. Phương pháp chữa cảm cúm “đánh gió” rất hay và công hiệu của người ḿnh, gồm gừng giă nhỏ, xào nóng lên với rượu rồi túm trong bọc vải có thêm dồng tiền bạc, một ít tóc rối... nghe đâu chúng ta bắt chước của người Mường, một dân tộc thiểu số thượng du Bắc Việt cho rằng chính họ mới là người Việt đúng gốc. Nếu quả như vậy, ông bà chúng ta đă biết dùng rượu trong y khoa rất lâu đời rồi.
    Nói chung, ngày nay xét về phương diện Y học, Đông y hay Tây y đều công nhận khả năng giúp ích về sức khỏe cho con người của rượu trong điều kiện sử dụng thích ứng. Phía Tây Y, e ngại sự ràng buộc với luật pháp dù biết công hiệu tốt của rượu nhưng không dám công khai cổ vũ hay khuyến khích công chúng v́ e ngại những kẻ lạm dụng nhất là giới thiếu niên sử dụng bừa băi sẽ đi đến những hậu quả không hay khi họ mắc phải t́nh trạng ghiền. Uống rượu quá độ và thường xuyên, đệ tử Lưu Linh có thể mắc hai bệnh đáng ngại là cứng gan và loét bao tử. Tổng thống Yeltsin của Nga, theo tin mới nhất được đăng tải trên báo chí ngày 30-1-1999, vừa mới rời bệnh viện, sau khi kết quả kiểm nghiệm được các bác sĩ cho biết ông bị bệnh bao tử trên. Chúng ta hẳn c̣n nhớ, sau thời đế quốc CS ở Nga Xô sụp đổ năm 1989, một báo cáo cho biết 70% dân Nga mắc bệnh nghiện rượu. Tỉ lệ này bao gồm cả phái nữ, v́ các bà ở Nga không chịu thua các ông trong khoản “tu.. Vodka”. Nguyên nhân dễ hiểu, có lẽ chả thấy đâu cái Thiên dường ảo tưởng mà người CS đă vẽ ra, dân Nga sau những giờ lao động cực nhọc theo chỉ tiêu, đă t́m quên qua thú dùng hơi men để giải sầu. Thời gian rượu khan hiếm, báo chí Tây phương loan một tin làm kinh ngạc và sửng sốt thế giới khi cho biết con cháu của Marx đă pha nước vào cả nước hoa (nồng độ rượu trong nước hoa có loại rất cao) để có chút “cay cay, nồng nồng” hầu thỏa măn cơn ghiền!...
    Trong Hán thư có câu: “Rượu là lộc hậu của trời ban. Bậc đế vương dùng rượu để di dưỡng thiên hạ, dùng vào việc cúng tế cầu phúc. Rượu c̣n để giúp người khí huyết suy vi điều dưỡng kẻ có tật bệnh. Tất cả các cơ thể giao thông được là nhờ ở rượu”. Cổ nhân cũng nói vua Nghiêu vua Thuấn uống ngàn chung, đức Khổng Tử uống trăm hộc. Thầy Tử Lộ uống liên miên.
 
Đa phần tôn giáo coi Rượu như một tế phẩm cần phải có khi dâng lên các đấng thần linh lúc cầu nguyện. Người Việt chúng ta, lúc cúng giỗ ông bà cũng lấy rượu là một vật phẩm dâng cúng.
    Ngay Thiên chúa giáo, trong Buổi Tiệc Cuối Cùng (The Last Supper), Chúa Jesus như nhắn nhủ 13 tông đồ bằng ẩn dụ khi ám chỉ Rượu này là máu ta, Bánh này là thịt xương ta để ngày nay theo như Phúc Âm mỗi lần con cháu Chúa tiếp nhận Rượu thánh, Bánh thánh sẽ ngầm hiểu rằng Chúa đang hiện diện trong ḿnh.
                                                                         *
     Văn học sử Trung Hoa và Việt Nam, cũng v́ thú của “hơi men” nên đă lưu lại cho hậu thế nhiều chuyện truyền kỳ thích thú đôi khi đến khó tin.
     Như chuyện sau đây về nhà thơ họ Lư chẳng hạn. Thi bá LƯ BẠCH của Tàu có thể là một anh say lăng mạng nhất trần đời. Dương Quí Phi, sau này hậu thế phong tặng là một trong Tứ Đại Mỹ Nhân của Trung Quốc (ba người kia là Tây Thi, Chiêu Quân, Điêu Thuyền), một người đẹp đương thời lúc ấy đă khiến Đường Minh Hoàng chết mê chết mệt, một giai nhân lúc chết nhan sắc c̣n diễm lệ đến mức khi quật mồ lên, anh giặc si t́nh Mai Lộc Sơn (chính sử tên là An Lộc Sơn) c̣n tiếc nuối ái ân một lần chót và sau này người ta cho rằng kẻ mắc bệnh phong t́nh Dương Mai (ghép họ của
Dương quí Phi và Mai Lộc Sơn) là từ hậu quả căn bệnh giao hợp với xác chết đă có từ thời ông tướng giặc Hung Nô trên(?) Vậy mà cái ông “nhà thơ gàn” Lư Bạch được người đẹp Dương Quí Phi mê đắm lại tỏ ra hờ hững. Có thể ông sợ chết nếu loạng quạng với quí phi của nhà Vua, để rồi đi yêu vớ vẩn một giai nhân không có thực ở tận cung Quảng là Hằng Nga. Cho tới một ngày khi túy lúy càn khôn trên sông hồ lúc trăng thanh gió mát, thấy bóng nguyệt lung linh dưới làn nước như có dáng h́nh Hằng Nga ẩn hiện thật hữu t́nh thơ mộng, khiến nhà thơ chỉ biết làm theo cảm tính là nhoài người xuống để ôm ấp bóng h́nh mơ ước của đời ḿnh. Lư Bạch ngă xuống ḷng sông bị ḍng nước cuốn đi trong đêm tối, không một ai có thể cấp cứu được nhà thơ tài hoa đời Đường.
     Một truyền kỳ khác về cuộc đời nhà thơ này. Lư Bạch (701-762) tự Thái Bạch, hiệu Trường Canh, ḍng dơi danh tướng Lư Quảng, c̣n có tên Thanh Liên Cư sĩ, Lư Trích Tiên, xứ Lũng Tây, thuở nhỏ học tại núi Hoa Sơn. Tánh hay quên, học đâu quên đó. Học mấy năm không thông nghĩa lư, buồn bỏ về, theo triền núi, gặp bà già đương ngồi mài một cái chày tay bằng sắt, không thèm ngó lại lúc Bạch ngang qua, cứ tiếp tục ngồi mài hoài. Bạch hỏi: “Xin lỗi bà, chớ bà mài chày sắt làm chi mà coi bộ chăm chỉ dữ vậy? - Ta ở chốn này, xa chợ búa, lại không có tiền mua kim. Ta mài cái chày này để làm kim, đặng quần áo có rách, chằm khíu mà bận”. Bà trả lời mà cũng không ngừng tay, mà cũng không ngó Bạch. Bạch thấy vậy mới hỏi nữa: “Cục sắt th́ to, mà bà mài như vậy, biết chừng nào mới thành kim được? - Nay không rồi th́ mai cũng rồi, mà như năm nay không thành th́ sang năm cũng thành. Ta cứ mài hoài không thối chí, th́ một ngày kia phải thành kim!” Bạch hội ư trở về trường, gia tâm học măi, sau mới nên.
     Bấy giờ ông làm thơ, nhưng mà thơ ông chưa được giỏi. Một hôm ông nằm chiêm bao thấy bút nở ra sen, từ đó ông làm thơ thiệt hay, mới thật có tiếng. Ông ưa rượu, mà càng say th́ thơ lại càng giỏi, v́ vậy thời ấy tặng ông là Tửu Trung Tiên. Rồi một đêm về Kinh, thuyền vừa tới sông Thái Thạch, đương say, thấy bóng trăng dưới nước đẹp quá, với tay bắt trăng để giỡn, trợt chân té chết đắm ở đó.
     Theo Dương quảng Hàm, ông là một thi sĩ có thiên tài khác thường, nhưng v́ thế mà có vẻ thần bí. Lư Bạch rất ưa rượu, uống rượu vào là thơ ra, nên đương thời cho ông là một thi sĩ ca tụng thần rượu. Ông là người yếm thế, nên trong thơ thường nói đến ba nông nỗi khiến cho ông chán đời:  Đời người ngắn ngủi, người ta chóng già, cái chết sắp đến. Các cuộc vui thú không được lâu, cảnh phú quí không được bền. Người đời độc ác, xấu bụng.
 
Bài thơ lưu truyền nổi tiếng “Tương tiến tửu” của Lư Bạch được dịch trong Đường thi của Trần trọng Kim:
 
Cùng Uống Rượu
 
“Anh chẳng thấy Hoàng hà nước nọ,
“Tự trên trời chảy đổ ra khơi.
“Ra khơi thôi thế là thôi,
“Về nguồn trở lại có nguồn nào đâu.
“Anh chẳng thấy nhà cao gương sáng,
“Những buồn tênh v́ mảng tóc thưa.
“Sớm c̣n xanh mượt như tơ,
“Tối đà như tuyết bạc phơ bời bời.
“Khi đắc ư cứ chơi cho phỉ,
“Dưới vầng trăng đừng để chén không.
“Có thân âu hẳn có dùng,
“Ngàn vàng tiêu hết lại ḥng kiếm ra.
“Trâu dê mổ, tiệc hoa trần thiết.
“Ba trăm chung cạn hết một lần,
“Sầm phu-tử, Đan khâu-quân,
“Rượu kèo xin chớ ngại ngần uống ngay.
“Hát một khúc vi ai an ủy,
“Lắng tai nghe ư vị khôn cùng.
“Quư ǵ soạn ngọc cổ chung,
“Muốn say say măi tỉnh không thú ǵ,
“Bao hiền thánh xưa kia lặng lẽ
“Chỉ anh say tiếng để đời đời,
“Trần-vương, B́nh-lạc mua vui
“Mười ngàn đẩu rượu chơi bời thỏa thuê.
“Chủ ông hỡi, chớ e tiền ít.
“Mua rượu về chén tít cùng ta.
“Cừu thiên kim, ngựa ngũ hoa,
“Đem đi đổi rượu, khề khà uống chơi.
“Sầu đâu dằng dặc muôn đời.
 
Bạch Cư Dị cùng thời và nổi tiếng như Lư Bạch và Đỗ Phủ. Thi nhân họ Bạch (772-846) tự Lạc Thiên, quê ở Thái Nguyên, tỉnh Sơn Tây. Vốn con nhà nghèo, cha chỉ làm một chức tiểu lại ở phủ huyện; hồi nhỏ nhiều lúc đói rét, nhưng rất thông minh và hiếu học. Tương truyền hồi bảy tháng, mẹ chỉ 2 chữ, ông nhớ liền; chín tuổi biết làm thơ, 16 tuổi nổi tiếng, suốt đời không lúc nào rời quyển sách. Năm 18 tuổi đỗ tiến sĩ, làm chức Hiệu Thư lang. Có tư tưởng xă hội, muốn cải thiện đời sống nghèo, dùng nhân chính của cổ nhân, thường chủ trương: “lợi tại vu lợi vạn nhân, phú tại vu phú thiên hạ” (lợi ở chỗ lợi cho vạn người, giàu ở chỗ giàu cho cả thiên hạ), ghét sự tài sản bất quân, và ông hăng hái thực hành lư tưởng đó trong thời gian làm quan. Nhưng tính ông ngay thẳng quá (có lần giữa triều đ́nh, bảo nhà vua: “Bệ hạ lầm rồi”) nên bị nhiều người ghét, mà vua tuy trọng, chứ cũng không ưa, thành thử hoạn đồ của ông cũng long đong, có lần bị biếm làm Giang châu Tư mă, về già tuy làm chức H́nh bộ thượng thư, nhưng chẳng được giao cho trách nhiệm ǵ cả, và ông tự trào ông rằng: “Nguyệt bổng bách thiên, quan nhị phẩm, triều đ́nh cố ngă tác nhàn nhân” (Lương tháng trăm ngàn, quan nhị phẩm; triều đ́nh mướn tớ để ngồi không). Rốt cuộc trong hoạn đồ ông chỉ thực hiện được một phần nhỏ chí hướng, tức hồi ông làm thứ sử Hàng Châu, đắp được một con đê ngăn nước, thành hồ Tiền Đường rồi đưa nước vào ruộng giúp nông dân. Khi từ biệt Hàng Châu, ông làm hai câu thơ: “Duy lưu nhất hồ thủy, dữ nhữ cứu hung niên” (Chỉ c̣n lưu lại một hồ nước, để cứu các người năm hạn hán).
     V́ không thực hiện được lư tưởng, nên về già ông sinh chán đời, nghiên cứu đạo Phật, giao du với một vị tăng ở Hương Sơn, tên là Như Măn, tự xưng là Hương Sơn cư sĩ, suốt ngày ngâm thơ, uống rượu, lại tự hiệu là Túy ngâm tiên sinh.
Văn thơ của ông đều tinh luyện mà b́nh dị, có khi cực kỳ huy hoàng (như những bài Trường hận ca và T́ bà hành) và luôn luôn cảm động. Ông nổi tiếng nhất là về thơ, sáng tác rất nhiều, có tới 3,800 bài vừa thơ vừa từ, không ai sánh kịp! Bạch Hương Sơn thi tuyển chép rằng: Khi ông làm xong một bài thơ, thường đọc cho một người vú già nghe, người đó không hiểu chỗ nào th́ ông sửa lại chỗ đó, nhờ vậy thơ ông rất phổ biến, đàn bà trẻ con đều thích đọc. Đó là một đặc sắc của ông.
 
Duới đây là bài văn nói về thú vui uống rượu của ông:
 
Túy Ngâm Tiên Sinh Truyện
 
“Túy Ngâm Tiên Sinh là người quên cả họ tên quan tước làng mạ, hồ đồ ḿnh không biết ḿnh là ai nữa. Làm quan ba mươi năm, gần già lui về ở đất Lạc Hạ. Chỗ ở có năm, sáu mẫu ao, vài ngh́n cây tre với vài chục gốc cây cối. Lầu gác sân tường đủ cả mà nhỏ. Tiên sinh an tâm mà ở đấy. Nhà tuy nghèo, không đến nỗi đói rét, tuổi tuy già, không đến nỗi lẫn cẫn. Tích thích rượu, hay nghe đàn, hay ngâm thơ. Phàm những khách đàn, thơ, rượu, chơi bời với nhau rất nhiều. Ngoài sự chơi đó, đem ḷng mộ về đạo Phật, học hết các phép tiểu thừa, trung thừa, đại thừa, cùng với nhà sư núi Tung
Sơn làm bạn “không môn”, với Vi sở làm bạn sơn thủy, với Lưu Mộng Đắc làm bạn thơ, với Hoàng Phủ Minh làm bạn rượu. Mỗi khi gặp nhau th́ vui vẻ mà quên về. Gần Lạc Thành trong ngoài sáu bảy mươi dặm, phàm chỗ nào có chùa chiền, núi non, khe suối hoa trúc, chẳng đâu là chẳng đến; nhà ai có rượu ngon, đàn hay, chẳng đâu là chẳng qua; ở đâu có sách vở múa hát, chẳng đâu là chẳng xem. Tự khi ở Lạc Xuyên, có người mời đi ăn tiệc đâu, thường thường cũng đi. Mỗi khi mát giời, hoặc lúc có giăng, có tuyết, bạn bè tới chơi tất là lau hồ rượu, mở tủ sách, thơ rượu thích chí rồi th́ vớ lấy đàn gẩy một khúc “thu tứ”; nếu hứng nữa th́ sai trẻ nhà ḥa nhạc, cùng tấu một khúc “Nghê thường vơ y”; nếu vui nữa th́ sai con hát hát vài bài khúc “dương liễu chi”, phóng t́nh vui vẻ, kỳ đến say khướt rồi mới thôi. Đôi khi thừa hứng đi bộ sang láng giềng, hoặc chống gậy đi trong làng, hoặc cỡi ngựa chơi chốn đô ấp, hoặc ngồi song loan chơi ngoài đồng nội. Trong song loan để một cái đàn, một cái gối, vài quyển thơ của ông Đào, ông Tạ; hai bên đầu tay song loan treo hai hồ rượu, t́m nơi có sông núi, tùy t́nh dạo xem, ôm đàn giốc bầu, hết vui rồi giở về. Như thế mười năm, trong đó ngâm thơ ước hơn ngh́n bài, ngày nấu rượu ước trăm hộc, mà trước sau hơn mười năm không kể. Vợ con thấy uống
nhiều quá th́ lo mà ngăn can hai ba lần. Tiên sinh nói: “ Phàm tính người ta ít nguời được trung b́nh, tất có đam mê về một việc. Ta cũng không giữ được mực trung b́nh. Nếu chẳng may mà ta ham lợi, làm nên giàu có, của cải chứa nhiều, cửa nhà lộng lẫy, để mua lấy vạ làm hại cho thân ḿnh th́ làm thế nào? Nếu chẳng may mà ta hám cờ bạc, trăm ngh́n đổ đi một lúc, làm cho phá gia, bại sản, để đến nỗi vợ con đói rét th́ làm thế nào? Nếu chẳng may mà ta hám sự thuốc men, nấu cao luyện đan, để đến nỗi không thành thuật ǵ, có điều nhầm nhỡ th́ làm thế nào? Nay may ta không hám các sự ấy, mà chỉ thích chí ở trong cuộc rượu câu thơ, phóng túng th́ phóng túng thực, nhưng có hại ǵ, chẳng c̣n hơn ba sự kia ru? Bởi thế Lưu Bá Luân thấy vợ nói mà không nghe, Vương Vô Công chơi ở làng say mà không về vậy.
 
Nói đoạn đem vợ con vào buồng nấu rượu, ngồi xổm, ngửng mặt lên hú dài một tiếng rồi than rằng: Ta sinh ở trong giời đất, tài và hạnh kém cổ nhân xa, song giầu hơn Kiềm Lâu, thọ hơn Nhan Uyên, no hơn Bá Di, vui hơn Vinh Khải Kỳ, khỏe hơn Vệ Thúc Bảo, may lắm, may lắm, ta c̣n cầu ǵ nữa. Nếu bỏ cái thích của ta th́ c̣n lấy ǵ mà vui lúc già!
    Bèn lại ngâm một bài thơ “Vịnh hoài”, ngâm xong tủm tỉm cười, rồi nhắc ṿ rót rượu, uống vài chén cho say tít cù lỳ. Say rồi lại tỉnh, tỉnh rồi lại ngâm, ngâm rồi lại uống, uống rồi lại say; say với ngâm cứ lần lượt mà theo nhau. Bởi thế mà coi cuộc đời như giấc mộng, coi phú quư như đám mây bay, mùng giời chiếu đất, chớp mắt trăm năm, lúc nào cũng li b́ mờ mịt, không biết cái già nó đă theo đến, ngày xưa gọi “toàn về rượu là thế”, cho nên tự hiệu là “Túy Ngâm tiên sinh”. Bấy giờ là năm Khai Thành thứ ba, tiên sinh sáu mươi bảy tuổi, râu đă bạc, đầu hói một nửa, răng khuyết hai chiếc, mà cái vui trong thơ tửu vẫn chưa say.
 
Ngảnh lại bảo vợ con rằng:
    “Ḿnh ta từ nay về trước sướng rồi, c̣n cái ḿnh ta từ nay về sau chưa biết vui thế nào nữa.”
    (Phan Kế Bính dịch - Việt Hán văn khảo - Nam Kư 1938)
 
 
Đỗ Phủ, tự Tử Mỹ, hiệu Đỗ-lăng bố-y và lại xưng là Thiếu-lăng dă-lăo, thi tiến sĩ không đỗ, làm quan thời Đường minh Hoàng. Sau cuộc loạn An Lộc Sơn, vua Túc Tôn cho làm chức Tả thập di, rồi bỏ quan về nhà. Sau theo Nghiêm Vũ sang đất Thục, làm chức Viên-ngoại-công. Trong ba người nổi tiếng thơ, hầu như Đỗ Phủ ít ca tụng rượu như Lư Bạch và Bạch Cư Dị, nhưng ông lại chết v́... say rượu.
     Chỉ có vài bài thơ của ông đề cập đến chất men nồng, như trong “Ngày Xuân nhớ Lư Bạch”:
     “Bao giờ rượu ngọc một b́nh,
“Cùng nhau ta uống, bàn rành văn thơ
      Bài thơ sau đây, chứng tỏ nhà thơ họ Đỗ không phải là một người mê rượu, hết ḿnh cho rượu:
    “Xuềnh xoàng mâm chén, chợ xa,
“Có ṿ rượu cũ của nhà nấu thôi,
“Nếu cho tiếp rượu cùng vui,
“Gọi ông hàng xóm sang ngồi chén luôn.
                            (Khách đến)
     Chỉ trong bài “Lạc nhật”, có lẽ Đỗ Phủ mới thấm thía cái thần diệu “lăng quên đời” của thần ma men:
   “Rượu kia ai chế ra mày
“Uống xong một cuộc tan ngay ngh́n sầu.
 
Vương Bột, tự là Tử An, 6 tuổi đă biết làm văn, đỗ cao, tính rất kiêu ngạo. Qua thành Nam xương, uống rượu say tỉnh dậy làm một lèo bài tựa Đằng Vân Các, nổi tiếng là thiên tài. Đây có thể là kiểu mẫu một bài phú viết theo thể biền ngẫu, không có vần, nhưng rất trọng luật đối. Dùng chữ rất cầu kỳ và nhiều điển tích khiến những người thông cổ học cũng phát ngán. Có thể nói ba phần tư bài là điển tích. Hai câu tuyệt diệu:
     “Lạc hà dữ cô vụ tề phi,
“Thu thủy cộng tràng thiên nhất sắc
 
Ông nổi tiếng đến nỗi người sau có đặt chuyện rằng Vương Bột thích nó quá, hồi chết đuối ở Nam Hải khi đi thăm cha là Vương Đạt làm quan ở Giao chỉ (Việt Nam ngày nay) bị đắm thuyền, thỉnh thoảng những đêm trăng thanh gió mát, c̣n hiện hồn lên ngâm hoài nó, đến khi có một văn nhân đi thuyền qua, nghe thấy, chê câu trên thừa chữ “dữ”, câu dưới dư chữ “cộng”, th́ tiếng ngâm mới tuyệt hẳn.
    Sử sách Trung Hoa c̣n đề cập đến một nhân vật kỳ lạ tên là CHU BÁ NHÂN. Suốt cuộc đời, thời gian tỉnh của người này là... ba ngày. Hán cao tổ Lưu Bang nhân lúc rượu say túy lúy chém rắn trắng khởi nghĩa lập nên được cơ nghiệp nhà Hán mấy trăm năm... Ngày hội yến ở Hồng-Môn, Phàn Khoái lấy giáo cắt thịt mà ăn, thi nhau vừa uống rượu vừa đấu gươm. Thời Thịnh Đường (713-765), Trương Húc tự Bá Cao, có tiếng viết chữ thảo tốt, mỗi khi say rượu, dúi đầu vào nghiên mực mà viết thành chữ cực tốt, người ta gọi là Trương-điên. Trong tuyển tập Đường thi của Trần trọng Kim có trích bài thơ của Trương Húc “Đào hoa khê” (Khe Đào hoa: đi t́m động tiên ở Khe Đào Hoa), không thấy có hơi hướm tí ǵ về rượu.
     C̣n Lưu Linh sống vào đời Tấn, tự Nguyễn Lăng, tên chữ là Bá Luân, một trong bảy ông hiền ở Trúc Lâm, một tay phóng lăng theo đạo Lăo, rất thích rượu, vợ con can mà chẳng bao giờ nghe, được tặng là Túy Thánh. Có làm bài Tửu đức Tụng.
                                                                 *
     Người Việt chịu ảnh hưởng của Nho gia, nên kẻ có học ngày xưa được coi thuộc dân lịch lăm thời phải biết uống rượu, làm thơ, đánh đàn, chơi cờ (cầm, kỳ, thi, tửu)... Uống rượu nhiều được phong tặng là đệ tử Lưu Linh. Chính v́ vậy mà các nhà văn, nhà thơ trước đây của chúng ta thường có những bài nhuốm mùi men rượu là thế.
     Sử Việt đề cập chuyện vua Đinh tiên Hoàng v́ say rượu bị Đỗ Thích ám sát lúc đang ngủ. Con trai lớn là Đinh Liễn cũng bị giết vào lúc đó. Chuyện xảy ra có nguyên cớ, v́ một đêm Đỗ Thích nằm mơ thấy 2 ngôi sao rớt vào miệng, nghĩ ḿnh có chân mạng Đế vương, nên sanh dă tâm giết cha con nhà Đinh.
 
Phan Kế Bính tả “Phong cảnh Kiếp Bạc” nơi Hưng đạo vương Trần quốc Tuấn khi về trí sĩ, ngài danh tướng cũng thi tửu như mọi kẻ sĩ thời xưa:
     “Đại vương khi nhàn rê trượng trúc,
“Theo sau một vài gă tiểu đồng.
“Khi đeo bầu rượu qua sườn núi,
“Lúc dạo cung đàn bơi giữa ḍng”
 
Trạng Tŕnh Nguyễn bỉnh Khiêm như khuyên nhủ người đời khi ca tụng cảnh nhàn với hai câu kết đầy vẻ Lăo Trang:
     “Ta dại ta t́m nơi vắng vẻ,
“Người khôn, người đến chốn lao xao.
“Thu ăn măng trúc, đông ăn giá,
“Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao.
“Rượu đến gốc cây ta sẽ uống,
“Nh́n xem phú quí tựa chiêm bao.”
                        (Cảnh nhàn)
 
Nguyễn Khuyến th́ rất ỡm ờ khi mượn rượu nói dùm ḿnh:
     “Câu thơ được chửa, thưa rằng được.
“Chén rượu say rồi nói chửa say.
“Kẻ ở trên đời lo lắng cả,
“Nghĩ ra ông sợ cái ông này.”
                     (Cảm hứng 1)
 
“Hé miệng nói ra gàn bát sách,
“Mềm môi chén măi tít cung thang.”
                       (Tự trào)
 
“Những lúc say sưa cũng muốn chừa,
“Muốn chừa nhưng tính lại hay ưa.
“Hay ưa nên nỗi không chừa được,
“Chừa được nhưng mà cũng chẳng chừa.”
                    (Chừa rượu)
 
“Rượu ngon đến bữa nghiêng bầu giốc
“Chữ dại đầu năm sổ túi ra.
                  (Xuân hứng)
 
“Khi buồn chén rượu say không biết
“Ngửa mặt lờ mờ ngọn núi xa
                   (Túy cảm)
 
“Thơ Lư ngâm nga khi mở quyển
“Đàn Nha t́nh tính lúc lần dây
“Đem cờ vua Thích vui bè bạn
“Mượn chén ông Lưu học tỉnh say
             (Nhân sinh thích chí)
 
“Lúc hứng đánh thêm ba chén rượu
“Khi buồn ngâm láo một câu thơ
                    (Lăo cảm)
 
“Nghĩ đời mà lại chán cho đời
“Co cóp làm sao được với trời
“Chép miệng lớn đầu to cái dại
“Phờ râu chịu đấm mất phần xôi
“Được thua hơn kém lưng hồ rượu
“Hay dở khen chê một trận cười
“Dựa gối bên mành toan hóa bướm
“Gió thu lạnh lẽo lá vông rơi
                  (Ngẫu hứng)
 
“Mùi thế thử chơi không chếnh choáng
“Giọng t́nh mới nhắp chửa say sưa
                (Tặng bạn mở ty rượu)
 
“Chén chú chén anh chén tôi chén bác
“Cuộc tỉnh say say tỉnh một vài câu
                 (Hỏi ông phỗng đá)
 
     Nhưng cảm động và rất chân t́nh là bài thơ Nguyễn Khuyến khóc người bạn đa tài, đa cảm, đa t́nh của ḿnh là Dương Khuê.
 
“Bác Dương thôi đă thôi rồi
“Nước mây man mác ngậm ngùi ḷng ta,
“........................
“Cũng có lúc rượu ngon cùng nhắp
“Chén quỳnh tương ôm ấp bầu xuân
“.......................
“Câu thơ nghĩ đắn đo chẳng viết,
“Viết đưa ai ai biết mà đưa
“Rượu ngon không có bạn hiền,
“Không mua không phải không tiền không mua”
 
Đề cập tửu hứng trong thơ với Dương Khuê là điều không đúng chút nào. Thơ của nhà thi sĩ phong lưu tài tử này một số không nhỏ tặng hết cô ả đào này đến cô đào kia (cô Phẩm, cô Cúc, cô Ngọ, cô Cần, cô đào góa và cả khi cô đào ốm đau...). Người ta nhớ nhiều nhất bài thơ đa t́nh Hồng Tuyết của ông. (Hồng hồng, Tuyết tuyết. Mới ngày nào chả biết cái chi chi...). Hơi rượu trong thơ ông thoang thoảng trong vài nơi chứ không đậm nồng như ở các bài phong t́nh.
 
“Thức hay ngủ cớ sao nằm vậy
“Hăy tung màn gượng dậy làm vui
“Tiện đây hỏi một đôi lời
“Ḷng chiều khách đă xuôi xuôi thế chửa
“Đàn cầm sắt gẩy chơi lúc nữa
“Rượu hồng hoa c̣n chứa nữa hay không
“Nàng vâng xin cũng chiều ḷng
                 (Thăm cô đào ốm)
 
“Thú tiêu sầu rượu rót thơ đề
“Có yến yến hường hường thời mới thú
                       (Tài t́nh)
 
Ông thi sĩ đa t́nh này có một lúc tả cảnh tức cười là uống rượu với cơm:
 
“Nằm khểnh ngâm thơ cho vợ ngủ
“Ngồi rù uống rượu với cơm chơi
                     (May rủi)
 
Nhưng khi phong cảnh hữu t́nh cũng biết thưởng thức men nồng để ca tụng nên thơ:
 
“Rượu một bầu thơ ngâm một túi
“Góp gió trăng làm bạn với non sông
                (Chơi trăng)
 
Nói đến rượu mà quên đề cập đến Phạm Thái kể như là một thiếu sót đáng kể. Phạm Thái hiệu là Đan Phượng, thường gọi là Chiêu Lỳ, người mà Khái Hưng cảm khái viết ra truyện “Tiêu Sơn tráng sĩ”, một trang anh hùng có thể chết v́ ánh mắt giai nhân Trương Quỳnh Như. Khi nhà Tây Sơn ra đánh Bắc Hà, Phạm Thái bỏ đi tu, lấy hiệu là Phổ Chiêu thiền sư. Phạm Thái sinh thời, rất thích rượu và sính thơ nhưng lại có tính ngông:
     “Có ai muốn biết tuổi tên ǵ,
“Vừa chẵn ba mươi gọi chú Lỳ,
“Năm bảy bài thơ gầy gối hạc.
“Một vài đứa trẻ béo răng nghê.
“Tranh vờn sơn thủy màu nhem nhuốc,
“Bầu dốc kiền khôn giọng bét be,
“Miễn được ngày nào cho sướng kiếp,
“Sống th́ nuôi lấy, chết chôn đi.
                    (Tự trào)
 
“Một tập thơ sầu ngâm đă chán
“Vài be rượu nhạt uống ra ǵ
“Thôi về tiên phật cho xong kiếp
“Đù ỏa trần gian sống măi chi?
                  (Cảm thán)
 
Nhưng bài sau đây có lẽ biểu lộ tính ngông trần đời của Chiêu Lỳ hơn hết:
 
“Sống ở trần gian đánh chén nhè
“Chết về âm phủ cắp kè kè
“Diêm vương phán hỏi mang ǵ đó:
“- Be! “
 
Khi Quỳnh Như không c̣n ở cơi đời, Phạm Thái có làm bài thơ khóc giai nhân:
 
“Buồn đốt ḷ vàng hương nhạt khói
“Sầu châm chén ngọc rượu không hơi
“.................................
“Oanh ru bên trướng giấc hoa nồng
“Say tỉnh hồn mai nhớ lại mong”
Nhà thơ họ Phạm cũng chẳng ở cơi đời lâu. Ông chết lúc 35 tuổi.
 
C̣n Trần Tế Xương, ông Tú đất Vị Xuyên, tôi yêu ở chỗ ông ví von những “tật xấu” của các anh đàn ông là những cái lăng nhăng “quấy phá” chúng ta.
 
“Một trà, một rượu, một đàn bà
“Ba cái lăng nhăng nó quấy ta.”
 
để khi “Ngẫu hứng”:
 
“Được tiền th́ mua rượu,
“Ruợu say rồi cỡi trâu.
“Cỡi trâu thế mà vững,
“Có ngă cũng không đau.”
             (Ngẫu hứng)
 
Tú Xương tự trào là kẻ “cao lâu thường ăn quịt, thổ đĩ lại chơi lường”, nhưng ta thấy cũng ngậm ngùi cho sự bất đắc chí của ông trong bài “Say rượu”:
 
“Đời này thực tỉnh những ai đây?
“Ai tỉnh cho ta chịu tiếng say.
“Buồn ruột cho nên men phải nhấp,
“Dở mồm nào biết giọng là cay.
“Bạn cùng quỉ dẫy chi cho bận,
“Vui với ma men thế cũng hay.
“Ngất ngưởng hai tay vơ đũa chén,
“Đố ai đă được cái say này.
 
Nhưng dẹp nỗi buồn bất chí mà vẫn đeo đuổi mộng nam nhi, có lẽ không thi nhân nào sánh được với Nguyễn công Trứ (1778-1859). Cuộc đời “lên voi xuống chó” của nhà thơ và cái hùng tâm của Uy Viễn tướng công là một gương sáng cho hậu thế. Chữ nhàn như là một thú yêu thích của NGUYỄN CÔNG TRỨ, trong đó không thể nào thiếu chung rượu:
 
“Thơ một túi, phẩm đề câu nguyệt lộ
“Rượu ba chung, tiêu sái cuộc yên hà
                 (Cầm kỳ thi tửu)
 
“Trời đất cho ta một cái tài,
“Giắt lưng dành để tháng ngày chơi.
“Dở duyên với rượu không từ chén,
“Trót nợ cùng thơ phải chuốt lời.
“Cờ sẵn bàn sơn, xe ngựa đó,
“Đàn c̣n phím trúc, tính t́nh dây.
“Ai say, ai tỉnh, ai thua được,
“Ta mặc ta, mà ai, mặc ai.
             (Cầm kỳ thi tửu)
 
“Lưng bầu rượu say cổ kim kim cổ
“Một túi thơ vui hoa nguyệt nguyệt hoa
              (Kiếp nhân sinh)
 
“Hẹn với lợi danh ba chén rượu
“Vui cùng phong nguyệt một bầu thơ
            (Thoát ṿng danh lợi)
 
“Trót đà khuya sớm với ma men,
“Mặc kệ người chê, mặc kệ khen.
“Ngó lại hàng rào hương cúc lộn,
“Trông ra cửa sổ bóng trăng chen.
“Vào ṿng cương tỏa chân không vướng,
“Tới cuộc trần ai, áo chẳng hoen.
“Cứ những ai hay t́nh thú ấy,
“Có chăng Bành trạch với Thanh Liên.
               (Uống rượu tự vịnh)
 
 * CHÚ THÍCH: Bành trạch là nơi Đào Tiềm làm việc, người ta lấy tên huyện ấy mà gọi ông. - Thanh Liên là tên huyện của Lư Bạch.>
      C̣n thi tài Chu Thần Cao Bá Quát đất Bắc Ninh, đỗ Cử nhân năm Minh Mệnh thứ 12, làm Giáo thụ ở Quốc Oai thuộc Sơn Tây. Nổi tiếng văn hay chữ tốt, đến Vua Tự Đức phải ca tụng “Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán” song không được đắc dụng v́ kiêu ngạo khác đời. Năm Tự Đức thứ 8 (1854) theo Lê duy Cự làm phản, bị bắt và xử tử. Sinh thời cũng v́ bất măn cuộc đời, yếm thế nên ông mượn thơ ca tụng cảnh nhàn như trong bài “Uống rượu tiêu sầu”: Nghĩ cho kỹ, ở trên đời chỉ có uống rượu và an nhàn là hơn cả.
      “Ba vạn sáu ngh́n ngày là mấy,
“Cảnh phù du trông thấy cũng nực cười
“Thôi công đâu chuốc lấy sự đời
“Tiêu khiển một vài chung lếu láo.
“Đoạn tống nhất sinh duy hữu tửu,
“Trầm tư bách kế bất như nhàn
 
Thành thử chỉ có “tay chơi” mới ngâm thơ, uống rượu:
 
“Thú nguyệt hoa là nợ sẵn với cầm thư
“Cuộc thi tửu để riêng người phong nhă
                     (Cuộc thi tửu)
 
    Nhà thơ nữ nổi tiếng bạo dạn có một không hai trong văn thơ VN là HỒ XUÂN HƯƠNG cũng có lần đề cập đến chén rượu:
 
“Canh khuya văng vẳng trống canh dồn
“Trơ cái hồng nhan với nước non
“Chén rượu hương đưa say lại tỉnh
“Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tṛn
                  (Nên câu tuyệt diệu)
 
Sang đến thế kỷ 20, Việt Nam ta có một số thi sĩ nổi danh đă coi rượu như một người t́nh không thể thiếu, trong đó có Tản Đà Nguyễn khắc Hiếu.
 
“Rượu thơ ḿnh lại với ḿnh,
“Khi vui quên cả cái h́nh phù du.
“Trăm năm thơ túi rượu ṿ.
“Ngh́n năm thi sĩ tửu đồ là ai?
                    (C̣n chơi)
 
“Công danh sự nghiệp mặc đời
“Bên thời be rượu, bên thời bài thơ.
            (Tản Đà xuân sắc, 1953)
 
Nhà thơ núi Tản sông Đà yêu văn chương lẫn rượu nồng đến nỗi người bạn Tú Mỡ Hồ trọng Hiếu phải làm thơ nói về ông:
 
“Từ khi Hiếu xuất thế,
“Vẫn nhớ cảnh thiên tiên:
“Bữa cơm thường phải rượu,
“Nhưng túi lại rỗng tiền.
                     *
“Liền xoay nghề văn chương,
“Viết bừa bán phố phường.
“Thơ chạy tha hồ uống,
“Say khướt suốt đêm trường.
                     *
“Rượu ngon thức nhắm ngon.
“Giọng văn lại càng gịn;
“Khối t́nh con, t́nh lớn,
“Giấc (mộng) lớn, mộng con.
 
(Trời đày Nguyễn Khắc Hiếu - Gịng nước ngược I)
 
Nhưng để công bằng với bạn, Tú Mỡ cũng “nói xấu” về ḿnh:
 
“Có một anh,
“Biếng lười như hủi.
“Cờ bạc như tinh,
“Rượu chè như quỉ.
“Trai gái như ranh.
 
(Xoay ḥn đất)
 
“Tom chát quanh năm vài bốn bận,
“Say sưa mỗi tháng một đôi ngày
“Tính vui tṛ chuyện cười như phá,
“Ḷng thẳng căm hờn nói toạc ngay
                      (Tự thuật)
 
Riêng Hàn Mặc Tử mô tả hơi rượu trong thơ rất khác đời, cho ta cái cảm giác của một khúc phim kinh dị quái đản:
 
“A ha hả! say sưa chê chán đă
“Ta là ta hay không phải là ta?
“Có ǵ đâu, cả thể với cao xa,
“Như cội rễ của trăm nguồn đạo hạnh.
“Hớp rượu mạnh, máu càng hăng sức mạnh.
“Ôi điên rồ! khoái lạc đến ngất ngư.
“Thương là thương ḷng ḿnh giận chưa nư
“Hồn vội thoát ra khỏi bờ trí tuệ.
                   (Siêu thoát)
 
“C̣n đây! c̣n đây! tiếng rượu hú ma
“Từ thuốc phiện thu nhập khí mồ hoa
“Ứ, tội chi ta không vào địa ngục
“Đặng xin nốt ngọc oan ương thề thốt,
“Giam chung thân mà sáng quá thiên đường
“Đặng ngủ nhờ một đêm với Xuân-Hương
“Baudelaire! Người là Vua Thi sĩ!
“Cho xin trụm bao nhiêu mùi thi vị
“Phà hơi lên, truyền nhiễm thấu trần ai
                    (Ăn mày)
 
“Rạng mai có kẻ đi về đấy!
“Ôi! Người say rượu chết nằm queo!
“Ngọc sương nức nở tan thành lệ!
“Hơi rượu say nồng vẫn quyện theo!
              (Người say rượu)
 
Có thể nói t́nh bạn của người xưa đậm nồng trong chung trà chén rượu, nên Ưu Thiên Bùi Kỷ cũng chẳng khác ǵ Nguyễn Khuyến khi nhớ đến người bạn đă qui tiên:
 
“Ta cùng bác quen nhau đă lâu,
“Khi thơ lưng túi, rượu lưng bầu.
“Trời đất yêu ta, ta ở lại,
“Non sông nhớ bác, bác đi đâu?
                      (Viếng bạn)
 
Riêng nhà thơ Đỗ huy Nhiệm lại có một nỗi nhớ khác bên ly rượu:
 
“Buồn ở đâu theo tối xuống rồi,
“Đă tràn u ám cả hồn tôi
“Đang ngồi say khướt bên ao vắng
“Thơ thẩn nhớ người không nhớ tôi.
...
     “Qua đă say rồi, nay lại say,
“Rượu vơi, buồn vẫn lẩn đâu đây.
“Nghiêng hồ tôi rót cho đầy chén
“Để giữ người yêu hết trọn ngày.
                            *
“Nàng chỉ thăm tôi những lúc buồn,
“Khi hồ đầy rượu, buổi hoàng hôn,
“Lúc hồn chuếnh choáng say say ấy
“Rồi lại quay về tận cuối thôn.
....
     “Chiều nay nàng đến trong ly rượu
“Tôi uống vơi vơi hết cả nàng.
“Tôi uống dặt dè từng hớp một,
“Sợ mai nàng bận chẳng buồn sang.
                            *
“Trăng đă lên cao. Rượu cạn rồi,
“Cả nàng đă đẫm cả hồn tôi.
“Ngày mai rượu hết nghiêng hồ rỗng
“Vét chút hương c̣n ép sát môi.
            (Say - Tiểu thuyết thứ 5)
 
Cũng là Say ta thấy trong Mê Hồn Ca của Đinh Hùng có một âm điệu quyến rũ lạ lùng:
 
“Ta bắt em cười, nói, bắt em say,
“Ta đ̣i lấy mảnh linh hồn bỡ ngỡ.
“Ôi! ly rượu em dâng toàn huyết đỏ,
“Ta uống cùng ḍng lệ chảy đêm xưa
                (Ác mộng - MHC)
 
“Ôi gác ca lâu, rèm buông, lửa đỏ!
“Ôi mộng xuân lả lướt những đêm t́nh!
“Cốc rượu hồng, hy vọng sáng rung rinh,
“Mùi son phấn khác ǵ hương trinh bạch?
               (Hương trinh bạch - MHC)
Nhắc đến Đinh Hùng thế nào chúng ta cũng phải liên tưởng đến Vũ hoàng Chương, ông anh rể của Đinh Hùng. Các nhà phê b́nh văn học cho Vũ hoàng Chương là một thi sĩ tài hoa, một phù thủy của âm thanh, vần điệu. Đậu Tú tài Pháp, bỏ học Luật đi làm công chức hỏa xa rồi dạy học. Tuy tây học, nhưng ông lại uyên thâm về nho học và nhiều thi phẩm của nhà thơ đă được dịch ra ngoại quốc. Cái độc đáo về tác phẩm đầu tay của Vũ hoàng Chương là tập “THƠ SAY” (Xuất bản 1940) đă biểu lộ tài năng thiên phú của tác giả.
 
Đời ông là những cơn say. Ông say men t́nh, men rượu, say ánh đèn vũ trường và sau này say cả nàng Phù Dung. Trong “Đời Vắng Em Rồi” chỉ có hai câu đủ diễn tả hết mối t́nh, và người ta nhớ đến ông nhiều nhất qua hai câu nổi tiếng này:
 
“Em ơi lửa tắt, b́nh khô rượu
“Đời vắng em rồi, vui với ai?
 
Bài “Chén Rượu Đôi Đường” th́ đậm mùi cay đắng:
 
“Nhưng đêm nay dịu quá
“Không trăng có hề chi!
“Say sưa tràn miệng cốc
“Cùng nâng hăy uống đi
“Trùng lai đâu dễ hẹn kỳ
“Đ̣ ngang một chuyến chắc ǵ mai sau
                    “.................................
 
“Giờ đây chia đôi ngả
“Sông nước càng tiêu sơ
“Hồn men cay như quế
“Hồn men đắng như mơ.
“Đắng cay này chén tiễn đưa
“Uống đi, uống để say sưa ngập ḷng.
                    *
“Cạn đi và lại cạn
“Say rồi gắng thêm say
“Bao nhiêu mơ mà đắng
“Bao nhiêu quế mà cay
“Đắng cay trút xuống bàn tay
“Nắm tay lần trót, thuyền quay mũi rồi
                    *
“Thuyền anh đi thôi nhé
“Xa nhau dần xa nhau
“Tôi về trên lưng ruợu
“Đến đâu th́ đến đâu
“Có ai say để quên sầu
“Ḷng ta lảo đảo càng sâu vết buồn.
 
Trong “Lá Thư Ngày Trước” là một tiếc nuối xa xưa:
      “Rượu chẳng ấm, mưa hoài, chăn chiếu lạnh,
“Chút hơi tàn leo lét ngọn đèn khuya
    “.................................
 
“Say đă gắng để khuây sầu lẻ gối,
“Mưa mưa hoài, rượu chẳng ấm ḷng đau.
 
Thi sĩ hết than thở rượu chẳng ấm, lại c̣n chê bai đắng nghét để nỗi phải réo gọi đến tên nguời yêu:
     “Trăng của nhà ai, trăng một phương,
“Nơi đây rượu đắng, mưa đêm trường.
“Ờ đêm tháng sáu, mười hai nhỉ
“Tố của Hoàng ơi hỡi nhớ thương
               (Tháng sáu mười hai)
                                                                      *
 
Phải nói văn học VN chúng ta c̣n rất nhiều thi nhân mang rượu vào thơ. Riêng lănh vực văn xuôi, người viết xin chọn hai truyện trong Cổ tích Thần thoại của Việt Nam. Một mô tả về sự việc vô t́nh bị đút lót mà thần thánh phải sửa đổi cả luật lệ. Đó là chuyện Triệu Nhan được cải số.
     “Triệu Nhan năm 19 tuổi, gặp Quản Lạc xin bói tương lai, Quản Lạc nói: “Nhà ngươi có sống lâu đâu mà phải bói cho vô ích”. Nhan xin Quản Lạc có kế nào sống lâu hơn, chỉ giùm. Năn nỉ măi, Quản Lạc cầm ḷng chẳng được, chỉ: “Mai vào giờ Ngọ, ngươi đem rượu và khô nai theo, vô rừng phía Đông, thấy hai ông già ngồi đánh cờ, ngươi cứ quỳ đó, dưng khô và hầu rượu cho hai ông ăn uống. Chừng hai ông đánh xong, ngươi lạy hai ông xin cứu, mà đừng nói ta chỉ”.
     Triệu Nhan nghe lời, mai sáng đem rượu ngon, khô nướng vô rừng, đi tới phía đông, quả thấy hai ông già tóc râu đều bạc, đương ngồi bên gốc cây đánh cờ. Triệu Nhan không nói chi, bước lại quỳ, rót rượu, bày khô ra. Hai ông đánh cờ đang mê, thấy khô thấy rượu, ăn một miếng nhắm một ly, hết ly này tới ly khác, hết miếng nọ tới miếng kia. Chừng xong, sắp ra đi, th́ Triệu Nhan sụp lạy xin cứu mạng. Hai ông già đó một ông là Nam Tào, giữ bộ sanh, c̣n một ông là Bắc Đẩu, giữ bộ tử. Hai ông giở sổ ra coi th́ số Triệu Nhan sống tới mười chín tuổi thôi. Nhưng mà lỡ thọ rượu, khô của người, bèn lấy viết thêm cho chữ cửu ở trước, thành cửu thập cửu, chín mươi chín tuổi. Biết Quản Lạc chỉ, dặn Nhan về nói lại, lỡ một lần th́ thôi, chớ sau c̣n lậu thiên cơ th́ phải tội.”
 
Chuyện thứ hai là sự tích “Hồn Trương Ba da hàng thịt”. (Một chuyện cổ tích VN mà kịch tác gia quá cố Lưu quang Vũ đă phóng tác thành kịch. Một trong các vở kịch của họ Lưu có nội dung bài bác, đả phá chế độ CS. Cả gia đ́nh Lưu quang Vũ đă chết trong một tai nạn xe cộ, mà thủ phạm của thảm kịc