Văn Học
Nghệ Thuật
Sinh Hoạt
Phiếm Luận
Trang Thân Hữu Thơ - Văn
Diễn Đàn
Giải Trí
Thư Tín
 
 
Tính Chất Nhân Bản & Trữ T́nh
                Trong Thơ  Phan Bá Thuy Dương
 
                                                          Trần Tuấn Kiệt
 
Những anh em văn nghệ sĩ họat động báo chí trong 2 thập niên 60 và 70 th́ phần đông là người viết chuyên nghiệp. Nhưng có một quân nhân và là một viên chức Tài chánh chính ngạch lại là một nhà thơ, một người viết văn rất được nhiếu người ưa chuộng. Không bao giờ tự nhận ḿnh là thi sĩ, nhưng chất thơ, hồn thơ của anh lại lăng mạn, trữ t́nh, chứa đựng nhiều hệ lụy hơn ai hết đó là Phan Bá Thụy Dương.
Anh tên thật là Phan Bá Dương, sanh năm 1940 [trong khai sanh ghi 42] tại Long Hương, Tuy Phong, một quận lỵ đầy sông núi, biển cả thuộc tỉnh B́nh Thuận trong một gia đ́nh nho phong. Tánh t́nh anh rất khiêm cung, ḥa nhă, hay giúp người. Trong thời chiến, nhiều thân hữu thường gọi anh là thi sĩ đă đem tâm t́nh và nhân bản tính vượt trên cuộc chiến. Tôi nhớ trong nguyệt san Tiền Phong năm 1972 thi sĩ Du Tử Lê đă viết về anh như sau:
”Đối với PBTD, dường như lănh vực Văn học Nghệ thuật chỉ là một vườn hoa, c̣n anh th́ luôn coi ḿnh như là một cánh bướm, một cánh chuồn chuồn khi vui th́ đậu, khi buồn th́ bay.” Trong số báo này người TKTS /TP cũng đă đăng lại bài tạp ghi: Những Ư Nghĩ Rời và sơ lược tiểu sử của PBTD kèm một bức ảnh mặc quân phục chụp trước ngày họ Phan giă từ vũ khí. Lời nhận định trên của DTL quả thật đă phản ảnh khá rơ rệt cá tính ưa thích tự do, phóng khoáng của anh.
Tuy nói là hành nghề tay trái, nhưng chỉ kể từ 1969-72 PBTD đă từng đảm nhận nhiều trọng trách chuyên môn trong ngành báo chí truyền thông, như phụ trách Trang VHNT, Trang Văn Nghệ QĐ, viết truyện dài Những Sợi Nắng Hồng cho báo Tự Cường, phụ trách Trang Thơ Văn, Trang Của Lính, viết truyện dài Gió Đi Trên Tóc cho báo Ánh Sáng và sau cùng làm TTK ṭa sọan cho tuần san Định Mệnh và viết truyện  Vùng Lá Thắm Sương Mù đăng cùng với truyện Thần Thánh Lưu Vong của Nguyễn Đ́nh Thiều và một truyện của anh Mai Thảo. Ngoài ra, khi trông coi tờ tuần báo này anh đă qui tụ về những học giă đáng kính như các GS Nguyễn Hữu Lương, Nguyễn Đăng Thục, Đào Nguyên Nguyễn Văn Nguyện, cụ Trác Lâm Nguyễn Nho Lâm và ông Nguyễn Mạnh Côn…
Ṭa soạn báo này đặt tại một biệt thự ở đường Cao Thắng. Nơi mà tôi, Mặc Tưởng, Lê Trường Đại, Tường Linh, Anh Việt Thu, Phạm Lê Phan…thường đến với anh để rủ nhau đi uống cà phê, ăn bánh ḿ thịt nguội tại quán Ḥa Mă của anh Lê Minh Ngọc. Anh LMN là tác giả tập thơ Hoa Thề mà theo lời gởi gắm của thi sĩ Vũ Hoàng Chương nên PBTD đă viết bài giới thiệu, nhận định trong mục Điểm và Phê B́nh Sách. Đôi khi có đủ mặt Nguyên Vũ, Tường Linh, Bích Ḥai th́ chúng tôi vô bên trong ṭa soạn chơi x́ phé, tan cuộc th́ kéo nhau qua tiệm phở bên đường Phan Đ́nh Phùng gần trường Aurore lai rai. Cạnh ṭa sọan lúc ấy c̣n có một quán thịt rùa và cua rang muối rất nổi tiếng. Chúng tôi có nhiều kỷ niệm khó quên trong thời kỳ hưng thịnh này của những người họat động văn nghệ hiện đại lúc đó.
PBTD khởi sự viết từ năm 1958 và là người chủ trương thi văn đ̣an Tinh Hoa thời bấy giờ cùng với người anh là nhà văn Anh Thuần, phóng viên chiến trường của Cục TLC, Đài PTQĐ và báo Tiền Tuyến… AT trước 63 khi là BTV của báo Chuông Mai và Ngày Mới.. c̣n có bút hiệu khác là Hoàng Long, Phóng viên Kiến Trắng.
Riêng về lănh vực thi ca th́ kể từ 60 trở đi thơ, văn của Dương thường thấy đăng các tờ PNDĐ, PNNM, VNTP, tạp chí Gió Mới, Thời Nay, Mai… dưới bút hiệu Thùy Dương, Vương Hầu, Phan Thụy Dương. Kể từ 1965 anh đổi thành PBTD và chỉ viết cho các báo anh chính thức cộng tác, thỉnh thoảng mới vào Cục TLC thăm bạn bè hoặc trao bài cho các báo QĐ như CSCH, TP, TT, DH. Thơ anh thường được Ban Tao Đàn của 2 anh Đinh Hùng, Tô Kiều Ngân và Ban Mây Tần của Kiên Giang Hà Huy Hà cùng chương tŕnh Thi Nhạc Giao Duyên ngâm diễn. Đặc biệt là chị Hồ Điệp thường đến nhà PBTD đánh chắn và lấy thơ của anh v́ chị rất thích ngâm thơ t́nh của anh. Một người khác cũng thường lấy thơ của Dương trao lại cho anh ĐH, TKN là Tường Linh: TKTS/CSCH.
Nhà báo Anh Thuần [Phan Bá Thuần Hậu] cũng là bạn thân của tôi, tiếc v́ anh mất sớm ở Tokyo 8 năm trước đây, nên chưa ghi lại được ǵ cả. Tôi chỉ c̣n nhớ - truyện thần thọai Lời Thề Trong Đền Rắn của AT xuất bản năm 67 rất ăn khách nên sau đó đă được tái bản mấy lần - v́ cơ sở xuất bản này ở gần nhà xuất bản Hồng Lĩnh của tôi, và 2 tập thơ: Những Áng Thơ Hay xuất bản năm 60, Thi Tuyển Anh Thuần phát hành năm 66. Nghe nói sau khi định cư ở Nhật bản AT đă chủ trương 2 tờ báo, mở nhà xuất bản Việt Nam Mới. Tại Tokyo, AT cũng đă ấn hành 2 cuốn nhận định lịch sử: Thảm Trạng Việt Nam I và II cùng vài tập thơ.
AT đă nhiều lần kêu gọi nhưng không thuyết phục được người em của ḿnh trở về nghiệp cũ để tiếp tay anh trong lănh vực báo chí mà PBTD rất am tường. Cả tờ nguyệt san Lửa Việt xuất bản ở Canada năm 82 cũng mời PBTD, nhưng anh cũng đă từ chối khéo, chỉ cho con gái đầu ḷng của anh là cháu PhanThủy Như Quỳnh cộng tác một thời gian.
Khi được hỏi “nàng thơ” trong cuộc đời anh là ai và đă gây tác động sâu xa nào trong thi văn của anh th́ PBTD chỉ trả lời rất kín đáo, tế nhị: đó là một thiều nữ hiền thục có đôi mắt thật đẹp và trong sáng ở một xóm vắng, một cô thôn trong một tỉnh lẻ thuộc miền Tây mà anh đă quen biết năm 66 trong giai đọan về phục vụ ngắn ngủi tại Sư đoàn Phượng Hoàng - khu chiến thuật Tiền giang. Nhân dáng dịu dàng, nét hồn nhiên, ngây thơ và t́nh yêu của cô gái này đă là nguyên tố chính tạo cảm hứng, rung động để anh trang trải, gói ghém nỗi ḷng ḿnh trên trang giấy, thể hiện qua nhiều bài thơ và 3 truyện dài mà anh đă viết feuilleton. Có lẽ bây giờ đọc lại những vần thơ của anh chúng ta chợt thấy có một điều ǵ đó uất nghẹn, chất ngất buồn đau. Nhất là 5 bài thơ được anh cho mang tựa mới: Trên Nỗi T́nh Người từ 1 đến 5. Lúc đó chiến cuộc đă trở nên ác liệt, đến nỗi nhà thơ Bùi Giáng đă cất lời than:
”Ai hỏi tôi cuộc chiến nào tàn khốc nhất - Tôi trả lời: cuộc chiến Hạ Lào
Thế sao anh không bảo là cuộc chiến Việt Nam - Thưa nói thế, người ta bảo tôi là chủ quan”
Xin hăy bắt đầu nghe PBTD kể qua bài Trên Nỗi T́nh Người 1 [tựa cũ trên CSCH năm 67: Lời Gọi Cỏ May] được trích vài đọan dưới đây:
Mùa mưa lần trước tôi theo đơn vị - Đến tiếp thu vùng đất nhỏ điêu tàn
Lối hẹp nhà em lầy lội dấu chân - Những mái tranh nghèo ôi sao cô tịch
Vườn chuối bỏ hoang cỏ lên xanh biếc - Ruộng lúa bom cày đạn phá đêm đêm
Trăm gian nan thống khổ với truân chuyên - Người người chỉ nguyện cầu trong sầu năo.
Chắc mọi người chúng ta chẳng ai quên cuộc chiến này, một cuộc nội chiến đă kéo quá dài, làm phân hóa rất nhiều tâm trạng của từng người VN, làm ră rời biết bao ư thức hệ đấu tranh của dân tộc. Dường như ai cũng mong cho chiến cuộc sớm tàn đi và thanh b́nh lại đến. Nhưng nó cứ triền miên và dồn dân tộc vào một mê cung, một tử lộ khó thóat. Người chiến binh PBTD vừa tham dư vừa ngậm ngùi. Trong lúc dừng quân anh không quên để tâm hồn ḿnh theo dơi một h́nh ảnh, một vẻ đẹp chân t́nh, quyến rũ nào đó:
Em thong thả ngồi bên sông giặc áo - Mặc gió chiều hôn trên mái tóc thề
Để nắng vàng mờ nhạt khói thôn quê - Cất tiếng hát ru hồn bông súng nhỏ
Một cảnh sắc vừa đẹp, vừa thơ mộng, lại vừa ư vị. Trên tay ṇng súng vừa tan mùi khói lửa mà trước mắt thi hoa sung, bông súng vẫn tự nhiên nở ra một cách vừa mầu nhiệm vừa vô tư. Chúng hầu như chẳng hề xúc động trước cuộc chiến thây ngă máu tuôn trên ḍng lịch sử quê hương.
Chín con rồng phun nước phù sa đó - Rẽ nhánh phân đôi sông Hậu, sông Tiền
Em đang chờ hay đang mộng thiên duyên - Cho tôi nắm một bàn tay trắng mượt
Đúng là vóc dáng nguyên vẹn của người đẹp ở một bến sông nào đó dọc bờ Cửu Long Giang. Nét mặt dịu hiền, mắt nhung huyền ăo, môi má ửng hồng đă hiển hiện trước chàng chiến sĩ gió sương. Rồi như có một mối giao cảm thầm kín, người con gái ôm áo giặt xong nhẹ quay đi với nụ cười lưu luyến và nhà thơ chỉ biết im lặng, bồi hồi nh́n theo bước chân nàng. Ta thấy đây là một h́nh ảnh rất sâu đậm t́nh người, chứa chan hạnh phúc. Cái hạnh phúc quư báu, hiếm hoi trong cuộc chiến tranh ư thức hệ trải dài như cơn mê, trong sự thống khổ của dân tộc vừa qua.
Thế rồi người lính chiến PBTD lại hành quân, chợt đến chợt đi. Cho đến mùa mưa năm sau, chàng quay về th́ người xưa đă không c̣n nơi bến cũ. Chỉ c̣n lại một ḿnh trên chiếc thuyền con bên ḍng sông lạnh. Cảm nhận bao nỗi nhớ, cô đơn khiến thi sĩ ghi lại những tiếng thơ bùi ngùi, xót xa:
Quần chiến trận tôi c̣n vương lau cỏ - Cố ngủ vùi trong quên lăng uyên nhiên
Mưa, mưa lên cho rũ hết ưu phiền - Hồn tôi đó ră rời như gỗ mục
Em có về cũng xin em đừng khóc - Đừng thiết tha đếm đợi lục b́nh trôi
Chim nào bay cao vút tận chân trời - Soăi cánh bạc u ơ lời hờn dỗi
Hồn tôi đó, ḷng cỏ may phất phới - Dật dờ trên sóng nước, đắm trong sương.
Đọc thơ PBTD ai cũng thấy buồn. Buồn cho cảnh đất nước lọan ly, buồn cho những cuộc t́nh xa cách, cho sự bất lực của con người trong chiến cuộc. Và cũng buồn cho vận nước, xứ sở của ḿnh cứ măi ch́m đắm khôn nguôi trong cảnh tang thương. Thơ của anh là lọai thơ của người thời chiến loạn, của đạn réo tên bay, dạn dầy khói lửa. Nhưng chẳng những nó không mang màu sắc hận thù, mà c̣n biểu lộ cả tâm t́nh ngọt ngào dâng hiến cho người, cho đời, trong đó có nhiều hương vị mặn nồng của t́nh yêu và lẻ sống của con người khao khát tự do, ḥa b́nh, yêu thương.
Ngày trước bài thơ Chiều của Huy Cận được coi là rất đẹp, rất thơ, là cái hồn thiên cổ. Chiều của HC trầm sâu, lắng đọng bao nhiêu th́ tiếng thơ lục bát của PBTD cũng nặng t́nh u ḥai như thế mà lại c̣n chứa chan, phản ảnh tâm trạng bất ổn của con người trong lúc binh đao. Bài thơ TNTN2 dưới đây xứng đáng là một trong những bài lục bát chiến tranh hay nhất của thi ca VN. Bài này anh viết sau khi cùng đơn vị về giải tỏa thành phố Mỹ Tho vào Tết Mậu Thân năm 68:
Tạ từ em với sương mai - Anh lên tay súng cất lời hô quân
Tàu đi sông nước chập chùng - Nẻo quan san đó gian truân đă chờ
Trước sau cờ rợp bóng cờ - Ng̣ai kia chiều rán nắng mờ hắt hiu
Em về mây gió trôi theo - Nhớ nhau ? Thôi cũng chắt chiu kiếp này
Bên anh đạn réo tên bay - Trăm binh đao với tháng ngày bỏ quên
Quê ḿnh c̣n đó không em - Cho anh gởi gấm trái tim ngọt ngào
[tên cũ: Khi Anh Rời G̣ Công Về Khu Chiến trong tuyển tập Đầu Gió của Hội
VNSQĐ ấn hành năm 70.]
Đọc tới đây khiến tôi chợt nhớ đến thơ lục bát của Cung Trầm Tưởng, Đường Sang Khu Chiến của Phạm Giật Đức, nhạc của Trầm Tử Thiêng, Anh Việt Thu và tiếng hát vang vang của Khánh Ly. Ôi những tâm hồn trắc ẩn ch́m nổi trong sương bóng của thời gian, giờ ở tận phương nào? Hởi những Hoàng Trúc Ly, Nhất Tuấn, Hoàng Ngọc Liên, Viên Linh, Nguyễn Đức Sơn và Bùi Ngọc Tuấn ! Trước đây tôi từng viết: Chiến tranh vừa kết thúc - Ôm mặt gầm lăng quên , th́ ra lịch sử có hai bề mặt thật.
Thơ của Dương gần với thơ Hoài Khanh, Hoàng Ngọc Liên, Tô Giang, Phan Minh Hồng, Viên Linh, Du Tử Lê… những nhà thơ quân đội, và gần gũi hơn với bạn anh là Hoàng Trúc Ly qua bài TNTN3. Lời thơ của anh như những phím nhạc ngân lên từ bờ bến yêu thương, êm đềm như lời ru, tiếng hát được dàn trải với thi ảnh, thi ngữ rất tinh khôi:
Em về bũa mộng chiêm bao - Chân di vàng đó đă sầu lên chưa
Nhịp guốc đều, tiếng lá đưa - Làm chim lạc lối ngu ngơ giọng buồn
Giọng thơ cũng gần với nhà thơ số 1 thời chiến tranh Việt Bắc là Đỗ Hữu qua bài Sầu Ai Lao: Lá đổ quanh chân một lối vàng.. Em về bũa mộng chiêm bao thật là một câu thơ như hư như thực, vừa trữ t́nh, lăng mạn lại mang mang ư thức siêu thực. Nó phảng phất nỗi buồn của André Chénier hay của Lamartine bên bờ hồ chiêm nghiệm bóng thời gian khi sương lên, khi chiều xuống. Có tiếng guốc nào nhẹ gơ trong hồn, có cánh chim nào bay trong bụi khói hoàng hôn. Có h́nh bóng nào ở lại, và có cuộc t́nh nào đă lặng lẽ chia xa ? Tiếng thơ của anh êm êm như khúc nhạc hồng, rơi rơi như ḍng dư lệ:
Em về xơa tóc gió qua - Ai đong thương nhớ, thiết tha bao giờ
Lưới t́nh vương mắc dây tơ - C̣n chăng vọng ước ngọai ô đêm vàng
Hỏi hồn, hồn đă ly tan - Hỏi trăng, trăng cũng mơ màng đó em
Cho đến TNTN4 th́ người đọc thấy thơ anh lại càng trữ t́nh, tha thiết hơn với những lời yêu thương nồng nàn cùng nỗi tái tê ly biệt. Có lẻ đó là chân lư, hay là nỗi tuyệt vọng hệ lụy của kiếp người chăng:
Mấy ngàn dặm hai khung trời cách biệt - Em một phương và ta ở một phương
Trăng tuyết ở đây sao cũng lạ thường - Như khơi động nỗi ḷng người viễn xứ
Thơ của anh như cứ luôn man mác t́nh sầu, như đôi bờ cách trở. Trong định mệnh trần gian mỗi người mỗi cảnh. Khó mà đoán được nhà thơ họ Phan đă có ảo giác hay niềm đam mê nào trong lúc tuyết lạnh, trăng tan đó.  Niềm nhớ nhung nào đă bũa rộng, về đến, nơi nào đă ghi lại dấu vết kỷ niệm xa xưa và sự khắc khỏai hiện hữu. Có phải dưới đây là khúc trường ca Chiến Sĩ Hành hay những lời bi ai của Chinh Phụ Ngâm:
Lỡ mai mốt em về qua xóm cũ - Ta lạc loài từ thuở dấy đao binh
Đường xưa em đi cô lẻ một ḿnh - Ôm khắc khỏai thẩn thờ trong dư ảnh
Mưa bên ấy chắc làm em thấm lạnh - Gió hạ buồn có làm tóc em bay
Trời đất mang mang sông bể vơi đầy - Ai đếm được con nước ṛng, nước lớn
Thơ anh chan chứa đầy sắc thái trữ t́nh, và lăng mạn của một kẻ tài hoa mà lại rất Đông phương, huyền nhiệm. Hai câu: Mưa bên ấy có làm em thắm lạnh - Gió hạ buồn có làm tóc em bay lung linh như những ánh sáng phi tuyền xuyên qua suốt tâm hồn người đọc.
Thôi nhé em góp chi từng sợi nắng - Nuối tiếc ǵ bụi khói đă bay xa
Nhớ nhung nào năm tháng chẳng phôi pha - Mà chợt khóc chợt cười trong ảo mộng
Đốt lửa lên em, hâm thêm rượu nóng - Để ḿnh say quên băo táp vô t́nh
Sao mắt em buồn như giọt sương đêm - T́m bàn tay, bàn tay chưa đủ ấm
Biết về đâu ta nửa đời phiêu lăng - Dấu u t́nh trong cổ mộ hoang vu
Có c̣n chăng, bèo bọt với mây mờ - Và ấp ủ bóng người trong lặng lẻ
Sóng biển hỡi, xin vỗ về thật nhẹ - Cát vàng ơi, thôi xóa dấu hài hoa
Sỏi đá nào ḍng nước đă trôi qua - Sao hiu hắt muộn phiền như rêu cỏ
Đặc biệt là ở trong vóc dáng gầy đi v́ năm tháng ḥai niệm đó PBTD lại có một hơi thơ dài hầu như vô tận và một thần khí thơ chẳng khác nào Mê Hồn Ca của Đinh Hùng - người đă cùng Ḥai Thương [bnsThời Nay] luôn khuyến khích anh trong vài năm đầu thập niên 60, hay Trăng Thiếu Phụ, Bài Ca Đông Phương của Quách Thọai, Hàn Mặc Tử. Cũng cần nói thêm ở đây PBTD là người đă được gs Đinh Từ Chức Chủ nhiệm Chủ bút ns Gió Mới khuyến khích trong việc anh viết bài về J. Keats, Byron, Shelley…trong những năm 1959-63, trước khi anh rời GM và ngừng viết trong giai đọan đầu.
Thật ra đó là tiếng thơ từ sóng biển dâng, của bờ cát vàng, của rêu cỏ, hoang mộ hay chỉ là tiếng thở dài của thời gian, của những tiếc nuối sầu muộn vô tận, chất chứa trong nội tâm anh? Thơ là nguồn chở người, chở cái đạo t́nh trên ḍng nước vơi đầy, vĩnh cữu, cho dẫu từ:
Gác chuông Bắc ta treo hồn trên đó - Đợi em về hong tóc gọi đêm thu
Cho mưa nguồn giăng lá thắm sa mù - Và em cất tiếng ru ta ngh́n kiếp.
Với tiếng mời gọi êm đềm, thiết tha như vậy, có người con gái nào có thể vô t́nh, có tâm hồn nào dù khô héo đến đâu mà không cảm động. Từ những thi ngữ được cấu trúc tài t́nh trên khiến tôi chợt nghĩ đến những vần thơ tuyệt hảo của Lưu Trọng Lư:
Em chỉ là người em gái thôi - Người em sầu mộng của muôn đời
T́nh em như tuyết dâng đầu núi - Dằn dặc muôn thu nét tuyệt vời
H́nh ảnh đó lồng lộng giữa thiên thu cùng với h́nh ảnh “ em về bũa mộng chiêm bao..” của PBTD đă tạo thành một pho tượng Nữ-Thần-T́nh-Yêu sống động măi giữa cuộc đời và ḷng người. Ngày nào thế giới vẫn c̣n là một thế giới đồi tranh - một thế giới của bạo hành lịch sử, th́ tiếng thơ vẫn là nguồn mạch của tinh thần con người. đem đến cho tâm linh những nét đẹp ngời sáng của t́nh thương nhân lọai, vĩnh viễn không có ǵ thay thế được.
Những ư thơ dạt dào, ướt đẫm yêu thương của PBTD như thả ra một luồng hơi thở kỳ diệu làm xao xuyến hồn nhân thế. Với TNTN5 nhà thơ lại đem đến cho chúng ta một sinh khí thơ huyền nhiệm giữa mộng và thực trộn lẫn trong u ḥai, nhớ nhung:
Cơn gió thổi mộng hồn bay lả bóng - Trời hoang vu mấy độ phủ hồn em
Ôi mắt ngọc của ngày xưa hiển hiện - Ta thiên thu thao thức giữa đêm huyền
Sao thương nhớ những nụ sầu giông băo - Sao u t́nh dằn dặc suốt canh thiêng
Ta mỏi mệt ghi vào trang giấy máu - Nụ hôn đầu trong kư ức sơ nguyên
PBTD học cao, hiểu rộng, đi nhiều và viết cùng thời với Trần Dạ Từ, Viên Linh, Du Tử Lê,
Phương Triều… Rất tiếc là anh rời quân ngũ sớm, chẳng chịu xuất bản hay lưu giữ lại tác phẩm của ḿnh và thỉnh thoảng tự động ngưng viết. Sau cùng đến cuối năm 72 th́ anh đă từ giă hẳn làng báo để phản đối Luật Báo Chí vừa ban hành. Sau đó, anh chỉ c̣n tiếp xúc với một số bằng hữu thâm giao như Anh Việt Thu, Phạm Lê Phan, Tường Linh, Ḥang Trúc Ly, Nguyễn Thu Minh, tôi, điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu cùng vài giáo sư, công chức vốn là bạn học cũ để đi câu cá, đàm đạo. Nếu không, chắc chắn chúng ta c̣n được thưởng ngọan nhiều áng thơ chứa chan lăng mạn, những bài t́nh sầu truyền cảm, xúc động hơn.
Có lẽ người đọc sẽ thấy rơ rệt hơn tính chất nhân bản, yêu ḥa b́nh và yêu người của người chiến sĩ họ Phan hơn qua những ḍng thơ:
Trước thượng đế hai đứa đồng cúi lạy - Xin hoa-thương-yêu nở khắp mọi nhà
Ruộng đất không c̣n là băi tha ma - Sắt thép ḷai người đem xây tổ ấm
Dưới sương gió mây ngàn bên xóm vắng - Riêng chúng ḿnh t́nh tự ngắm trăng non
Sáng sáng chiều chiều em sẽ dạy con - Lời nói đầu tiên: ngợi ca T́nh Ái.
[trích Nói Với Người Mang Tên Một Ḷai Chim Mùa Xụân]
Sau chuyến anh về thăm quê hương đầu tiên vừa qua và sau khi gặp lại một số bằng hữu cùng vối Tường Linh, tôi và anh Tô Kiều Ngân tại Saigon anh dường như đă t́m lại được phần nào hứng khởi.
Tuy nhiên việc tôi và TL muốn cùng anh in chung thơ để kỷ niệm và cả việc anh TKN muốn thực hiện CD thơ cho anh th́ anh c̣n chần chờ, mà chỉ mới cho phổ biến một số bài viết trên các tạp chí, nguyêt san quen và trên mấy websites ở Úc, Na Uy, Canada và ở Mỹ mà anh c̣n nhớ được hay do những người ái mộ cũ, thân hữu cung cấp. Có một điều khá thú vị là nhiều bài gởi, chuyễn trả cho tác giả được xuất phát từ 2 cô giáo ở miền Tây. Số là, sau biến động Tết Mậu Thân 68 PBTD được chuyễn về Sàig̣n. V́ vấn đề an ninh anh không c̣n dịp quay về các tỉnh lẻ nữa. Thấy cánh hồng đă bay bổng tuyệt mù- 2 cô đă dùng những bài thơ của anh để ru ngủ các con của họ.
T́nh thi hữu giữa tôi và PBTD rất lâu dài và sau mấy thập niên xa cách vẫn không có ǵ thay đổi, nếu không muốn nói là c̣n thân thiết hơn. Anh đưa tôi và một số thân hữu khác về căn biệt thự mà các con anh mới cất xong để anh dưỡng hưu ở ngọai ô SG trên đại lộ NVL. Với rượu với thơ, đêm đó tôi và anh đă làm thơ tặng nhau. Dưới đây là bài của anh viết tặng tôi:
Nh́n sang Cầu Đỏ mênh mông - Đèn soi phố quận tịnh yên nỗi đời
Nhớ ai đường nối thêm dài - Chạnh nghe u ẩn tiếc ḥai tháng năm
Thương ai bèo dạt âm thầm  Ngày qua nh́n bóng thời gian ngậm ngùi

T́m đâu thệ ước hẹn ḥ - Chỉ c̣n đây bạn với thơ, với ḿnh
Má môi nào thắm mê t́nh - Xa nghe tiếng hát gọi linh hồn về
[trích Trên Sân Lầu Với Bạn, tạp chí Khởi Hành số 92 * 6/04]
Ân t́nh giữa anh với HTL cũng đậm đà như vậy. Viết đến đây tôi bổng bồi hồi nhơ tới Hải Phương, Tạ Kư, Phương Triều, VL và HTL. Khi tôi cho biết Ly đă mất, anh thở dài, ngậm ngùi nói với tôi: có lẻ chúng ḿnh nên viết đôi ḍng để ḥai niệm người bạn tài hoa bạc mệnh này. Và anh tô họa lại nhân dáng người bạn xưa bằng những lời thơ tràn đầy thương cảm
Bụi trần phủ áo phong sương - Mà người nay đă hà phương thăng trầm
Rượu nồng tưởng niệm cố nhân - Ngàn chung cay ngọt một lần từ ly
Hỏi người, người đă bỏ đi - Nằm trong đáy mộ có ǵ nhớ thương
Tóc bồng nẻo vắng cô đơn - Một thân lưu lạc u hồn lạnh mê
Người xa chưa lạc lối về - Sao hiền huynh chẳng chờ nghe đôi lời
Ngủ yên, Ḥang Trúc Ly ơi - Chuyển thân hóa kiếp đời đời cuồng say
Rượu ngon c̣n một chút này - Cùng ta với Kiệt vui vầy đón trăng.
[Tưởng Niệm HTL]
Lời thơ buồn như lúc nào Hồ Thấu khóc thương Ấm Kỳ. Trước khi lâm chung ông c̣n gắng gượng viết lên đôi ḍng tưởng biệt:
Kỳ ơi ta chết rồi đây - Huyệt chờ bên mộ kiếp này phụ nhau
Bài TNHTL này PBTD viết khi cà hai chúng tôi đang ngồi trong tiệm cà phê trên đường Tự Do gần quán La Pagode cũ.  Lúc ấy tôi cũng đă viết  một bài chung tựa để cùng nhớ, cùng thương đến một thi sĩ hào phóng đáng trân trọng của thời văn học hậu chiến này. Sau cơn xúc động về người bạn thơ đă ra đi PBTD lại chạnh ḷng xót xa về một  người t́nh, một mối t́nh đă bị chôn vùi dưới đáy huyệt lạnh. Xin mời bạn đọc thưởng thức qua bài Lá Thắm Lạc Hồn Ca:
Đă về chưa hỡi hồn thiêng Lá Thắm - Hay vẫn buồn đau dưới đáy mộ sầu
Đời nghiệt ngă như trường lưu nước cạn - Ta ngẩn ngơ nh́n khói thuốc bay cao
Thế nhân ơi! Có c̣n nỗi sầu nào cay nghiệt hơn? Trường lưu nước cạn của anh cơ hồ như nỗi đau định mệnh của Ôn Như Hầu:
Chết đuối người trên cạn mà chơi - Ḷ cừ nung nấu sự đời - Bức tranh vân cẩu vẽ người tang thương [Cung Oán NK - NGT]
Người tang thương, cảnh tang thương của thi sĩ là:
Ai biết được ra đi là đă mất - T́nh yêu đầu và nguyện ước chung đôi
Ai biết được tháng năm dài cách trở - Em c̣n đâu giờ hai ngă chia rời
Sao không đợi người lăng du trở lại - Đă âm thầm từ biệt cơi nhân sinh
Thuyền bến cũ ta một ḿnh tê tái - Em, em ơi thiên địa cũng vô t́nh.
Ôi những lời nguyện ước ba sinh giữa Kim Trọng và Thúy Kiều. Ôi những câu chuyện t́nh sầu năo truyền kỳ của trăm năm, ngàn năm. Cổ kim lúc nào cũng là “cổ kim hận sự thiên niên vấn”. PBTD là người lănh hội được tất cả những đau thương dâu bể và định mệnh khắc nghiệt của phận người hẩm hiu, bi ai đó. Lời thơ của anh làm đau điếng, tê lạnh cả ḷng người khi đọc “ sao không đợi người lăng du trở lại - đă âm thâm thầm từ biệt cơi nhân sinh..”
Đọc xong những ḍng thơ mang mang luyến ái trên tôi bỗng liên tưởng đến một người bạn đă ra đi vào cuối thời khói lửa : cô Dung. Người này đă để lại cho tôi một nỗi tiếc nuối, cảm thương không có ǵ bù đắp được.  Cô ta và các bạn thơ như Hàn Giang, TK, HP, BH…thường cùng nhau qui tụ ở chợ Đũi, Bàn Cờ nhiều lần say sưa với trà, với rượu với thơ.
Qua một bài thơ mới đây, họ Phan lại sử dụng ngôn từ triết học kết hơp với tư tưởng thiền học để trang trải những vần thơ chân t́nh, thân t́nh gởi đến một người bạn học cũ vừa bỏ nghề “thầy căi” và hiện giờ là một thiền khách tại Washington DC:
Cánh vạc nào bay trong triền nắng sớm - Tiếng hót xa xăm như tận cơi trời
Sao u trầm chất ngất khách thiền ơi - Xin nhẹ bước trên lối ṃn tỉnh lặng
Rừng cô tịch có ǵ đâu tra vấn - Lửa chân như có đủ ấm linh hồn
Đất bùn nào c̣n ghi lại dấu chân - Tâm vô niệm đường xa gần đi măi
Có phải người đang quay về bến đợi - Gom lá vàng gỗ mục dưới trăng trong
Về đi thôi, đêm lạnh giá mênh mông - Áo nâu mỏng sao che mưa đở gió
Chim thức giấc cất lời ru thật lạ - Ai phong trần qua mấy độ truân chuyên
Thấy ǵ chưa tự ngă với uyên nguyên  Hay ngần ngại chia xa ḷng thung lũng
Từ tiềm thức đă lạc quên long trượng - Đâu đây chừng thấp thóang ánh vô ưu
Thiền khách này, thiền khách đă về chưa - Xin trả lại cho ta quê t́nh cũ
[Uyên Nguyên]
Liệu thiền giă này có đủ năng lưc vô biên để trao lại cho PBTD quê hương và t́nh ỵêu đă mất không, hay đó chỉ là tiếng kêu vô vọng đề bộc lộ, bày tỏ nỗi niềm, tâm sự của một kẻ từ lâu ẩn dật với một nếp sống lặng lẻ khép kín ? Mới đây tôi có xin anh làm cho vài bài thơ mới để làm thư họa và dùng vào việc riêng trong lúc anh đang ngao du ở một vùng đất khác. Khi trở về Ohio anh đă gởi về cho tôi 2 bài tuyệt tác mang một sinh khí thơ huyền nhiệm hơn đầy những ư niệm, ư thức siêu h́nh, đạo học và huyền học ẩn dụ. Xin mời người đọc ngâm nga bài thơ đầu:
Đốt công án vất kinh thư khải ngô - Theo đường trăng, trăng khi tỏ khi lu
T́m người hiền nơi thâm cốc âm u - Thỏng tay vào rừng giả làm ẩn sĩ
Ḍng sinh mệnh chừng nhuộm màu chướng khí - Bến nhân gian ai quán niệm vô thường
Hành tŕnh xa ngựa đà lỏng dây cương - Trên vách núi chân dung in mờ tỏ
Ném công án chôn kinh thư bất ngộ - Nương sông ng̣i biển cả tới an nhiên
Nửa u ḥai nửa chợt nhớ chợt quên - Bổng tan tác cùng tiên thiên tự ngă
Tay huyễn hoặc đề lời thơ trên lá - Hồn xanh xao mờ mịt chốn phiêu bồng
Người đâu rồi sao tịch mịch hư không - Hương dạ thảo đang chớm mùa khai mở
Hủy công án buông kinh thư giác ngộ - Vào chợ đời áo mỏng phất phơ bay
Bụi khói mê man chênh chếch nắng gầy - Lời phố thị chập chờn như ảo giác
Ta là ai sao tâm linh ngơ ngác - Người là ai mà sắc diện mơ hồ
Rượu độc ẩm hề, chân lạc ḷai đưa - Mây biến dịch mưa chắt chiu giọt nhỏ
[Liên Khúc Vô Thường * nguyệt san VHNT NGUỒN số 14/05]
và bài tiếp theo:
Ḱa ai bên suối chôn ảo tượng - Mắt dă hoang vu bụi lốc huyễn hờ
Vũ trụ chết, tầng âm thanh lắng đọng - Tay ơ hờ vuốt gió hát vu vơ
Tâm niệm lặng lững lờ sương ốc đảo - Gánh càn khôn u ẩn tiếng mưa khơi
Tóc khô kiệt kết tinh mùi thủy thảo - Thoáng mờ xa từng đợt sóng ră rời
Qua cổng nắng soăi cánh mềm hải điểu - Cát lao lung phủ ấp đá dung t́nh
Ai thảng thốt ướp thiền hoa mỹ diệu - Xua tiền thân buông tự ngă u minh
Mây xám tạc h́nh ẩn khách - Xiêm y lọan lửa chân như
Nguyệt tàn cơi giam sấm động - Cung tơ lạnh phím ngù ngờ
Thôi nhé em, giếng hồng hoang cô tịch - Trót cạn nguồn lach kín dấu chim di
Đèo hun hút bạt ngàn đêm tận tuyệt - R ải sa mù khuất bóng nẻo từ ly
Rượu tàn canh ngập ngừng chân du mục - Réo gọi hồn phiêu lăng phách trầm luân
Tay huyền niệm ư lạc ḷai vô thức - Em, em về chưa sao vân ảnh mịt mùng
Sưởi hâm chi ngọn t́nh hương phấn cũ - Ta về đâu chiều đă mỏi cánh bay
Lỡ tha hóa như rừng khô trốc lá - Loăng âm hao, lả mộng gối chương đài
[Bài Tâm Ca Vô Niệm * nguyệt san VHNT NGUỒN số 15/05]
Ba bài thơ mới đề cập trên hy vọng sẽ là những bài tiêu biểu đánh dấu sự trở lại văn đàn của PBTD sau hơn ba mươi mấy năm vắng bóng [ngoài các bài nhận định Văn học của anh vừa được phổ biến trên Nguồn và Talawas]. Nhưng như DTL -người bạn thơ cũ trước 72 của anh đă viết, chẳng biết liệu vườn hoa VHNT hiện hữu có đủ hấp lưc để giữ chân cánh bướm, cánh chuồn chuồn, mà lúc nào cũng lấy cảnh núi non sông hồ, hạc nội mây ngàn, ngao du trên những vùng đất mới, xa lạ làm niềm vui, hay không?
Xin hăy cùng tôi đi vào một cảnh tượng tịch mịch, quạnh hiu khác của không
gian, thời gian và của người cô lữ:
Ta ngồi đây một ḿnh câu tuyết - Tuyết tả tơi bay gió lạnh lùng
Hồ ảm đạm buồn như cành liểu - Nổi ch́m bóng lẻ trước mông lung
[ Bên Hồ Câu Tuyết]
Ta vùi ngủ giữa hoàng hôn nghiệt ngă - Để linh hồn băng giá suốt canh thâu
Em c̣n đó hay chỉ là ảo mộng - Hóa hải âu lượn theo sóng bạc đầu
[Đuổi Bóng]
Tôi cũng c̣n nhớ kỷ vào năm 72 sau khi đọc truyện Vùng Lá Thắm Sương Mù của Dương tôi và HTL đă viết tặng anh mỗi người 4 câu. Dưới đây là bài của thi sĩ họ Hoàng:
Ai bảo trời xanh đọa má hồng - Để cho người ngọc lỡ sang sông
Yêu thương đă hết duyên t́nh cạn - Lá Thắm phai rồi sao vấn vương
Và 4 câu tứ tuyệt của tôi:
C̣n chút rượu tàn tận đáy ly - Uống đi cho cạn mối t́nh si
Trăm năm núi lở sông bồi đó - Có chắc ǵ ai trọn ước thề.
Bây giờ nhân đọc lại những vần thơ lục bát của anh Bùi Giáng:
Tuổi thơ em có buồn nhiều - Hăy xin cứ để bóng chiều bay qua
Biển dâu chợt tỉnh sơn hà - C̣n sơ nguyên mộng bên tà áo bay
Tôi cũng muốn tặng thêm thi sĩ họ Phan đôi vần thơ tương ứng trước khi kết thúc bài viết  này:
Em c̣n hái trái trên cây - Vết son mùa để dấu hài đầu tiên…
“Ai hái cho ta những mộng đầu. Những lần tao ngộ, những cuộc biển dâu”.
Chắc hẳn giờ đây PBTD đang một ḿnh rong chơi đâu đó trên những vùng đất mới hay đang trầm tư lắng nghe các chuyển động của hữu thể ḥa nhập với thời gian trôi chảy vô lường.
                       Trần Tuấn Kiệt * SG 05
 
            
         Trở Lại Thư Mục
                Sinh Hoạt
         
        Trở Lại Thư Mục
         Trang Thân Hữu
           
          Trở Lại Thư Mục
                   Giải Trí
            
          Trở Lại Thư Mục  
                Thơ Văn
 
         Trở Lại Thư Mục
                 Thư Tín
               
          Trở Lại Thư Mục        
                Diễn Đàn
            
          Trở Lại Thư Mục
                 Văn Học
            
        Trở Lại Thư Mục
               Nghệ Thuật
        
         Trở Lại Thư Mục       
              Phiếm Luận
 
Vương Trùng Dương  Email: caliweekly@yahoo.com - vuongtrungduong@yahoo.com