|
| |
-
-
Nhận định về bài thơ
-
LIÊN KHÚC VÔ THƯỜNG của Phan Bá Thụy Dương
-
Diên NghỊ
-
-
- Liên
Khúc Vô Thường
- 1.
- Đốt công
án vất kinh thư khải ngộ

- Theo đường
trăng trăng khi tỏ khi lu
- T́m người
hiền nơi thâm cốc âm u
- Thỏng tay vào
rừng giả làm ẩn sĩ
- Gịng
sinh mệnh chừng nhuộm màu chướng khí
- Bến nhân gian
ai quán niệm vô thường
- Hành
tŕnh xa ngựa đà lỏng dây cương
- Trên vách núi
chân dung in mờ tỏ
- 2.
- Ném công
án chôn kinh thư bất ngộ
- Nương sông ng̣i
biển cả tới an nhiên
- Nửa u
hoài, nửa chợt nhớ, chợt quên
- Bỗng tan biến
cùng tiên thiên tự ngă
- Tay huyễn
hoặc đề lời thơ trên lá
- Hồn xanh
xao lạc lơng chốn phiêu bồng
- Người đâu
rồi - Người đâu rồi sao tịch mịch hư không
- Hương dạ
thảo đang chớm mùa khai nở
- 3.
- Hủy công
án buông kinh thư giác ngộ
- Vào chợ
đời áo mỏng phất phơ bay
- Bụi khói
mê man chênh chếch nắng gầy
- Lời phố thị
chập chờn như ảo giác
- Ta là ai
- Ta là ai sao tâm linh ngơ ngác
- Người là
ai - Người là ai mà sắc diện mơ hồ
- Rượu độc
ẩm hề chân lạc loài đưa
- Mây biến dịch
mưa hắt hiu giọt nhỏ
- Phan Bá Thụy
Dương
- ***
-
Trong hàng trăm sách Kinh Bát Nhă, tập chú trung
điểm lời chư Phật, chỉ rơ mục đích Đạo Phật nhằm giải thoát chúng sinh khỏi
chốn trầm luân, khổ ải.
-
Đức Phật nh́n vạn vật vô thường. Con người trong
khái niệm vạn vật nhất thể cũng bị chi phối, ràng buộc bởi hạn hữu qui tŕnh
sinh, lăo, bệnh, tử, giữa gịng thời gian vật lư xuôi về vô hạn. Không chỉ
triết thuyết Phật Giáo đề cập phương cách giải thoát chúng sinh khỏi hệ lụy
cuộc đời, Ki Tô Giáo cùng các tôn giáo khác cũng tin rằng con người khi măn
phần nơi trần thế không hẳn đă chấm dứt, hết chuyện, mà khi ĺa bỏ, vắng bóng
ở hiện thế là đang được chuyển dời đến chốn khác, minh hoạ bằng ảnh tượng siêu
thực như Cơi Tiên, Niết Bàn, Thiên Đường v.v... dành đón nhận linh hồn thánh
thiện.
-
Mọi tôn giáo chân chính đồng qui tư tưởng lớn, phổ
quát : làm điều lành, tránh điều ác. Cuộc sống nhân sinh vốn ngắn ngủi, trăm
năm có là bao. Trăm năm chỉ là ước mơ biểu tượng (trăm năm hạnh phúc, trăm năm
đầu bạc răng long), thử hỏi có bao nhiêu sinh mệnh đạt tới đỉnh cao mong đợi.
-
Tôn giáo nhận định rằng khổ đau tồn tại trong mọi
h́nh thúc sinh tồn con người phải phấn đấu. Con người thực thể trách nhiệm
chính số phận ḿnh, về hành động nghỉ ngơi, hưởng thụ cũng như sáng tạo. Con
người hẳn có khổ đau lẫn hạnh phúc , khoái lạc. Kết cuộc sau mỗi hạnh phúc,
trạng thái thừa sót lại là bức xúc, âu lo, ưu tư, trăn trở. Tại sao? Tại cái
thế giới hữu h́nh, trong đó, con người có mặt chỉ là tạm bợ, phù du. Nó biến
đổi theo từng sát na. Quy luật thiên nhiên tác động không ngừng. Vô thường lộ
diện.
-
Đời người tựa hồ bào ảnh bể khơi, lênh đênh ch́m
nổi ( chiếc thuyền bào ảnh lô xô gập ghềnh – Cung Oán ) , thế nên con người ,
thế hệ nối liền thế hệ, ít ai phủ nhận cuộc đời như Phật dạy: “nước mắt chúng
sinh nhiều hơn biển cả”. Cuộc đời nơi chốn lưu đày vừa mong manh (bất an), vừa
khốn đọa (khổ hạnh). Cuộc đời phủ phàng đến thế, con người cũng không dễ dàng
thoát vượt khỏi ṿng “kim cô” ấy.
-
Văn hào nước Pháp từ thế kỷ 18 , Anatole France đă
góp một chận xét trung thực: “Biết cuộc đời vốn khổ lụy, lưu đày, phù phiếm,
nhưng tại sao con người vẫn yêu cuộc đời như thế? Phải chăng con người vốn yêu
cái thú đau thương !”
-
Mâu thuẩn nội tại đặt ra nhiều luận điểm cần lục
xét, giải tỏa. Nói cách khác, triết lư về cuộc đời có căn nguyên nhập thế,
phần c̣n lại, cuộc xuất thế sẽ thế nào?
-
Trước vấn nạn thường t́nh, chung nhất, chưa có
ngôn ngữ trần gian nào có thể trực tiếp đáp trả. Những triết gia siêu h́nh học
chưa hề dừng bước trên những ngă đường khám phá. Những bậc chân tu trí huệ,
những thi sĩ xưa nay – Phan Bá Thụy Dương là một – phóng thể mạo hiểm hành du.
-
Đốt công án vất kinh thư khải ngộ
-
Theo đường trăng Trăng khi tỏ khi lu
-
T́m người hiền nơi thâm cốc âm u
-
Thỏng tay vào rừng giả làm ẩn sĩ
-
Thẩm nhập thế giới vô thường, Phan Bá Thụy Dương
có sứ mạng gặp hiền triết cùng trao đổi, giải bày, thuyết thoại, bởi thái độ
ẩn sĩ người hiền nơi thâm sơn cùng cốc đă thụ cảm, lĩnh hội ngôn ngữ từ trong
những kinh sách viễn khứ , mà ngôn ngữ của kinh quả là ngôn ngữ tĩnh lặng
thành vô ngôn – địa giới vô ngôn – muốn cảm ứng phải hoàn toàn thanh tịnh.
-
Hiền triết đi trước Phan Bá Thụy Dương đă tự ngộ -
nhận thức không một bậc thánh thiện nào truyền đạt viên măn tṛn đầy nếu không
chính bản thân suy nghiệm.
-
Nương theo gịng sinh mệnh bấp bênh ch́m nổi, có
khi tai biến, rủi ro (gịng sinh mệnh chừng nhuộm màu chướng khí)
giữa nhân gian, tác giả vẫn tiếp tục hành tŕnh hăm hở, khát vọng cho đến lúc
sức mỏi, chân ṃn, thân ngựa đă lỏng dây cương, cũng chỉ gặp thoáng hiện chân
dung hắt bóng u minh trên vách núi chênh vênh giữa hai bờ dốc ngược.
-
Không thể dừng chân, bỏ cuộc, ư chí vững quyết
vươn lên, núi dựng cách ngăn, hiểm trở, tắt đường , nghẽn lôí, hăy nương theo
hướng khác. Rời núi, nương sông t́m nhánh ngành ra biển cả :
-
Ném công án chôn kinh thư bất ngộ
-
Nương sông ng̣i biển cả tới an nhiên
-
Cơi an nhiên bao la trời nước, trùng trùng diệu
vợi, càng t́m thấy càng xa vời, như đùa bỡn khiêu khích, như có đó mà cũng như
không, chập chờn ẩn hiện. Cái tâm bỗng vọng động hoang mang, nhớ quên, quên
nhớ, biến tan như bọt nước ngàn khơi:
-
Nửa u hoài, nửa chợt nhớ, chợt quên
-
Bỗng tan biến cùng tiên thiên tự ngă
-
Ngôn ngữ thi ca bất thần xuất hiện, bàn tay ẩn mật
diệu kỳ nào đă đề thơ trên lá, giữa khung cảnh phiêu bồng bát ngát, hồn thơ
rơi vào cơi lạc loài, cô đơn cùng cực, cất tiếng gọi đồng loại như một ủy
thác, vào tha nhân để dược sẻ chia, đồng cảm:
-
Tay huyễn hoặc đề lời thơ trên lá
-
Hồn xanh xao lạc lơng chốn phiêu bồng
-
Người đâu rồi sao tịch mịch hư không
-
Hương dạ thảo đang chớm mùa khai nở
-
Không có ai, ngoài tác giả, mang mảnh hồn xanh xao
tư lự, hoài nghi, mùi hương dạ thảo thơm lừng báo mùa khai mở, tín hiệu của
nguồn sống trào dâng, tốt tươi, hy vọng. Vũ trụ thực hữu nơi chốn (phiêu bồng)
và vũ trụ ư tưởng gặp nhau (lạc lơng) mở ra tương quan thiết hệ nội tâm và
ngoại cảnh. Tác giả đang dừng lại bên lề cuộc hành tŕnh, mọi hiện tượng phảng
phất vô thường xâm nhập vào bản thể, thúc đẩy nối tiếp cuộc dấn thân lần nữa,
mạnh mẽ, cương quyết, thách thức :
-
Hủy công án buông kinh thư giác ngộ
-
Đủ ba lần rũ bỏ mọi công án trĩu nặng tâm tư hiện
kiếp, xếp trang kinh ngộ dành đối chiếu chân lư mai sau. Lần đầu tiên, đốt
công án, vất kinh thư khải ngộ. Lần hai , ném công án chốn kinh thư bất
ngộ. Và lần nữa, hủy công án buông kinh thư giác ngộ, đi t́m
kỳ công thâm diệu của tự ngộ ở cơi vô thường. Ước vọng của con người, với cuộc
đời tưởng chừng dễ dàng kiếm t́m những ǵ muốn t́m kiếm, th́ cũng dễ dàng ngả
nón chào thua, bỏ cuộc kiếm t́m, chưa hạnh ngộ , cơ duyên. Thay v́ thẳng đường
dong ruỗi đến cơi an nhiên, tự tại, vô thường, vô ngôn, vô thanh, vô sắc, th́
tác giả rẽ vào chợ đời nhốn nháo, phất phơ:
-
Vào chợ đời áo mỏng phất phơ bay
-
Bụi khói mê man Chênh chếch nắng gầy
-
Lời phố thị chập chờn như ảo giác
-
Giấc mơ đă biến thể, tách đường mộng ảo, ta trở
lại với cái ngă cố hữu. Giấc mơ vào cơi bờ thiền tịnh mong nhận một nhân
duyên, nhưng có giấc mơ nào thoát ra khỏi hiện hữu cuộc đời. Hiện thực đă đưa
con người choàng tỉnh. Hành tŕnh mơ ước chỉ c̣n dư ảnh, dư hương… Cái ta hiện
hữu thảng thốt giao động :
-
Ta là ai sao tâm linh ngơ ngác
-
Và ẩn sĩ hiền triết mong được nhận diện chỉ tao
ngộ mơ màng mà tướng mạo đă mơ hồ sương khói :
-
Người là ai mà sắc diện mơ hồ
-
Ta và Người trong cơi uyên nguyên huyền bí, dung
thông bằng kiến thị huyễn tưởng, phải chăng c̣n nặng “ nghiệp nhân sinh” (đă
mang lấy nghiệp vào thân – Nguyễn Du).
-
Nghiệp vẫn song hành với Kiếp. Cũng như Thúy Kiều
đă gánh chịu một kiếp ( kiếp c̣n nặng nợ má đào – Nguyễn Du) th́ hiền triết và
thi nhân giữa cuộc đời cùng gánh chung khối nợ tài hoa khó trả ( gỡ ra rồi lại
buộc vào như chơi – Nguyễn Du). Nợ má đào và nợ tài hoa đều là nợ nhân duyên,
tương quan đời kiếp.
-
Con người ư thức, khi muốn trút bỏ, hủy hoại, càng
nhiều công án đè nặng bản thân, th́ cũng chính là lúc những công án khác đang
manh nha nhập trụ vào. Khi dấn thân mạo hiểm cố đến ngọn nguồn mơ ước thực hữu
th́ h́nh tượng ước mơ đă biểu hiện tiệm tiến bằng ḍng mộng ảo, v́ mơ có nghĩa
không bao giờ thực. Biến mơ thành thực có nghĩa là c̣n muốn sống, muốn liên hệ
hữu cơ với cuộc đời. Và một khi giấc mơ trở thành sự thực, ta đă phải ngỡ
ngàng tự vấn : Ta là ai? Và người đối diện : Người là ai? Cả hai cùng chung
một kiếp, cùng cộng nghiệp ( tâm linh ngơ ngác, sắc diện mơ hồ).
-
Và quả thật khát vọng t́m kiếm c̣n nồng cháy thúc
bách th́ phải tiếp tục bước lên đường, hăm hở như buổi khởi đầu. Xin đừng nản
ḷng, nhụt chí khí. Phải ngộ rằng caí chân lư mà ta muốn kiếm t́m là trạng
thái của một người lữ hành đang đi và chưa đến.
-
Thi nhân sau ly rượu suy tư như một khai ngộ về
cuộc đời và mặc cho đời đưa đẩy:
-
Rượu độc ẩm hề, chân lạc loài đưa
-
trước lẽ biến dịch âm dương của tạo vật:
-
Mây biến dịch, mưa hắt hiu hạt nhỏ.
-
Giấc mơ trả người trong cuộc về chợ đời nhốn nháo.
Chợ đời là quê hương muôn thuở của con người. Con người không thể tách rời,
trốn chạy. Từ bỏ trách nhiệm là thái độ vong thân.
-
Sinh vật thượng đẳng vốn yếu đuối giữa Đất Trời,
nhưng hiểu được Đất Trời, như Rochefaucauld nhận xét :”L’homme est un roseau,
mais un roseau pensant” (con người là cây sậy nhưng là cây sậy tư tưởng).
-
Qua ta bà vạn cơi, mang theo mộng ước giải thoát
lại rơi vào cơi mộng, được mộng dẫn dắt trở về và chỉ ra cho thấy , vô thường
hiện diện ở mọi nơi, mọi lúc, mọi vật. Con người khát vọng kiếm t́m hăy t́m
kiếm từ tâm thức ḿnh như Phật dạy (Phật tại tâm). Cái Tâm trong sáng chỉ đạo
và quyết định. Giải thoát khổ lụy giữa đời phải tự rèn luyện, điều khiển cho
được các giác quan thuộc về ngũ uẩn , phát tâm bồ đề, thăng hoa ḷng nhân ái ,
nhắm đến đại đạo vô thường cao cả.
-
Bài thơ như một chân kinh , kết hợp thi từ, thi
ảnh xúc tích, thông qua kỷ thuật lăo luyện. Ư thơ bóng bẩy , lắng sâu. Liên
khúc vô thường vang vọng gần xa, dư âm bàng bạc như khứ, như lai, như nhiên,
như thị, hàm chứa một tỉnh thức giữa thời đại c̣n đầy rẫy nghiệp chướng, tai
ương.
-
Diên Nghị
-
| |
|