Home Văn Học   Nghệ Thuật 

Sinh Hoạt

Phiếm Luận Diễn Đàn

Giải Trí

Thư Tín 
Văn Học
Nghệ Thuật
Sinh Hoạt
Phiếm Luận
Trang Thân Hữu Thơ - Văn
Diễn Đàn
Giải Trí
Thư Tín
 
 
                          Nhìn Lại Một Thời
                                                                        Doãn Quốc Sỹ
 
                        Nhà văn Doãn Quốc Sỹ
   Nhà văn, nhà giáo Doãn Quốc Sỹ sinh ngày 3.2.1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Nội.

Chủ trương nhà xuất bản Sáng Tạo, một trong những cột trụ trong Tạp Chí Sáng Tạo với Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Nguyễn Sỹ Tế, Duy Thanh, Ngọc Dũng, Trần Thanh Hiệp... và cộng tác nhiều tạp chí xuất bản ở Sài Gòn trước năm 1975.
Giáo Sư các trường Trung Học công lập Nguyễn Khuyến (Nam Định, 1951-1952), Chu Văn An (Hà Nội, 1952-1953), Trần Lục (Sài Gòn, 1953-1960). Hiệu Trường trường Trung Học công lập Hà Tiên (1960-1961), Giao Sư trường Trung Học Hồ Ngọc Cẩn (1961-1962), Giáo Sư trường Sư Phạm Sài Gòn năm 1962 đến giữa thập niên 60, ông du học tại Hoa Kỳ về ngành Giáo Dục, trở về nước, tiếp tục công việc giảng dạy cho đến năm 1975.
Sau năm 1975, ông bị tù 4 năm (1976-1980) tại Gia Trung trong đợt Văn Nghệ Sĩ cầm bút. Ra tù, ông viết tác phẩm Đi với bút hiệu Hồ Khanh để chuyển ra hải ngoại, ông bị kêu án 10 năm tù và thọ án hơn 8 năm (1984-1992). Năm 1995, ông được người con trai bảo lãnh và định cư tại Texas, Hoa Kỳ. Hiện nay, ông giự̃ vai trò cố vấn văn đàn Đồng Tâm tại Texas.
   Tác phẩm đã xuất bản:

   Sợ Lửa (1956), U Hoài (1957), Gánh Xiếc (1958), Gìn Vàng Giữ Ngọc, Dòng Sông Định Mệnh (1959), Hồ Thuỳ Dương (1960), Trái Cây Đau Khổ (1963), Người Việt Đáng Yêu (1965), Cánh Tay Nối Dài (1966), Đốt Biên Giới (1966), Sầu Mây (1970), Vào Thiền (1970)... Người Vái Tứ Phương, Dấu Chân Cát Xóa, Mình Lại Soi Mình...
Tác phẩm nổi tiếng nhâttcủa ông là Khu Rừng Lau (trường thiên tiểu thuyết) gồm có: Ba Sinh Hương Lửa (1962), Người Đàn Bà Bên Kia Viõ Tuyến (1964, gồm hai phần Tiếng Hát Tự Lòng Đất và Chiếc Bè Nữ Chúa), Tình Yêu Thánh Hóa (1965), Những Ngả Sông (1966)...
Biên khảo: Vào Thiền, Tuyển tập Văn Chương Nhi Đồng
Vào tuổi 83, nhà văn Doãn Quốc Sỹ viết lại đôi nét của thời thanh xuan khi tham gia vào con đường Văn Học Nghệ Thuật.
                                            Vương Trùng Dương

   Năm 1954 hai vợ chồng tôi cùng hai đứa con gái đầu long và cô em gái - năm người cả thảy - ra phi trường di cư vô Nam. Danh từ thời thượng mệnh danh là Bắc Cờ Năm Mươi Tư
Thuở đó tôi còn là sinh viên, gặp Trần Thanh Hiệp - sinh viên Luật Khoa - chúng tôi bèn thành lập đoàn thể Đoàn Sinh Viên Hà Nội Di Cư (ĐSVHNDC), Trần Thanh Hiệp đứng ra làm chủ tịch.
Để giới thiệu ĐSVHNDC nhân dịp chào mừng mùa Xuân năm đó, chúng tôi cho in tập Xuân Chuyển Hướng. Tôi còn nhớ trước 1954 thuở còn ở ngoài Bắc - tôi sớm có khuynh hướng viết văn, hoàn tất được một truyện ngắn đầu tay dưới dạng một truyện cổ tích mang tên là “Sợ Lửa”. Di cư vô Nam năm 1954, may sao tôi có mang theo bản thảo Sợ Lửa và cho đăng vào tập Xuân Chuyển Hướng này! Thế là như lửa gặp gió, tôi tiếp tục... tiếp tục sang tác để chính thức đi vào nghiệp cầm bút của nhà văn bên cạnh sự nghiệp cầm phấn của nhà giáo sau này.
  Sau tập Xuân Chuyển Hướng tôi đứng ra làm chủ nhiệm tờ tuần báo Người Việt nhưng cũng chỉ được vài số là đình bản. Sau đó gặp thêm Mai Thảo, Nguyễn Sỹ Tế, hai họa sĩ Duy Thanh và Ngọc Dũng nữa, thế là chúng tôi xúm lại chủ trương nguyệt san SÁNG TẠO - vào năm 1956 thì phải, nếu tôi nhớ không lầm! Toà soạn Sáng Tạo ở đường Ký Con. Truyện dài đầu tay Dòng Sông Định Mệnh của tôi đăng trên Sáng Tạo trước khi in thành sách. Sáng Tạo ra được tới số 30 hay 31 thì đình bản. Các văn hữu từ đó vẫn gọi nhóm chúng tôi - Mai Thảo - Nguyễn Sỹ Tế - Ngọc Dũng - Duy Thanh là nhóm Sáng Tạo - Tòa soạn ở đường Ký Con !
  Thuở đó anh em chúng tôi ai muốn đem bài đến toà soạn, hay đến toà soạn để sửa bài thì ít nhất cũng phải đợi đến 9 giờ sáng hãy tới, vì tới giờ đó Mai Thảo mới ngủ dậy để ra ngồi trước bàn làm việc.
Từ tám chín giờ tối trở đi đó là giờ Mai Thảo có mặt ở vũ trường để khiêu vũ. Thuỏ đó đám sinh viên Hà Nội di cư chúng tôi đã có nơi cư trú đàng hoàng, đó là khu Đại Học Xá gần nhà thờ Ngã Sáu Chợ Lớn. Thỉnh thoảng khoảng 8 giờ tối Mai Thảo lái xe đến đón tôi cùng đi khiêu vũ, khoảng 12 giờ khuya thì về, bao giờ cũng rủ theo một em vũ nữ lên xe để cùng tới một tiệm ăn nào đó, vừa ăn uống vừa nói chuyện vui, rồi đưa em vũ nữ về nơi hẻm em ở.
Cùng là nhà giáo kiêm viết văn, chúng tôi có ba người: tôi, anh Nguyễn Sỹ Tế (Hiệu trưởng trường Trường Sơn) và anh Nguyên Sa (Hiệu trưởng trường Văn Học).
Nhắc đến Nguyên Sa thì hầu hết chúng ta đều biết bài thơ nổi tiếng của anh “Áo Lụa Hà Đông” :
“Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát                         
Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông
Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng
Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng
Anh vẫn nhớ em ngồi đây tóc ngắn
Mà mùa Thu dài lắm ở chung quanh

Linh hồn anh vội vã vẽ chân dung
Bay vội vã vào trong hồn mở cửa
Em chợt đến, chợt đi, anh vẫn biết
Trời chợt mưa, chợt nắng chẳng gì đâu
Nhưng sao đi mà không bảo gì nhau?
Để anh gọi tiếng thở buồn vọng lại...”

“Em ở đâu, hỡi mùa Thu tóc ngắn?
Giữ hộ anh màu áo lụa Hà Đông
Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng
Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng
... Anh vẫn yêu màu áo ấy em ơi”

Sau này khi sang tới xứ Cờ Hoa này chúng tôi ở cách mấy tiểu bang tôi ở Houston, Texas, anh ở Quận Cam Cali - mỗi khi có dịp gặp nhau, tôi vẫn hỏi đùa anh:
- Chị vẫn mặc áo lụa Hà Đông, phải không anh?
Nhớ lại kỷ niệm với anh Nguyễn Sỹ Tế, khi Cộng Sản chiếm nốt miền Nam, chúng tôi cùng bị đi tù chung và cùng bị đày lên tận miền Gia Trung thuộc núi rừng cao nguyên Pleiku, Kontum. Vùng này sở dĩ mang tên Gia Trung vì có dòng suối YA YUNG chảy qua. Tiếng địa phương là Ya Yung được chuyển sang tiếng Việt là Gia Trung !
Anh Nguyễn Sỹ Tế có 4 câu thơ bằng tiếng Pháp trong tập thơ Chant d’Ya (Tiếng Hát Gia Trung) của anh như sau:
Sur un fond de ciel balaye’
Un engourdi crossant de lune
Parait las et comme e’puise’
De sa lumineuse fortune...

Và tôi dịch thoát nghĩa thành 4 câu thơ Việt như sau:

Đỉnh trời gió quét mây tan tác
Trăng lưỡi liềm ngơ ngác lạnh căm
Trăng sao đượm vẻ u trầm
Trăng sao quá đỗi âm thầm hỡi trăng

Vào năm 1956 - cách đây đúng nửa thế kỷ - khi tập truyện cổ tích Sợ Lửa của tôi ấn hành lần đầu, ông bạn Nguyễn Sỹ Tế của tôi viết TỰA và Thanh Tâm Tuyền viết BẠT . Với tinh thần tri âm tri kỷ, ông bạn Thanh Tâm Tuyền qua bài thơ mang tên “NHỊP BA” đã nêu lên lòng ước muốn thường xuyênnóng bỏng trong tâm tư thầm kín của tôi: đó là ước muốn sao cho đất nước sớm được thống nhất tự do !
Xin quý vị hãy cùng tôi thưởng thức bài thơ “NHỊP BA” của Thanh Tâm Tuyền viết thay lời Bạt cho “Sợ Lửa”

NHỊP BA
(Tặng Doãn Quốc Sỹ)

Ngực anh thủng lỗ đạn tròn
Lưỡi lê thấu phổi
Tim còn nhảy đập
Nhịp ba nhịp ba nhịp ba
Tình yêu, tự do mãi mãi
Anh về ngồi dưới vườn nhà
Cây liền kết trái
Hoa rụng tơi tơi ủ xác
Anh chạy nhịp hai qua cách trở
Mắt bừng
Thống nhất, tự do
Ngoài xa thành phố
Bánh xe lăn nhịp ba
Áo màu xanh hớn hở
Nhát búa gõ
Long máy quay
Cửa nhà thi nhau lớn
Nhịp ba, nhịp ba, nhịp ba
Tình yêu, tự do, mãi mãi
Sóng bồi phù sa
Ruộng lúa trổ hoa
Núi cao uốn cây rừng
Nhịp ba, nhịp ba, nhip ba
Tình yêu tự do mãi mãi
Đất nước ào vỗ nhịp
Triều biển chập chùng
Hà Nội, Huế, Sàigòn
Ôm nhau nức nở
Có người cầm sung bắn váo đấu
Đạn nổ nhịp ba
Không chết
Anh ngồi nhỏm dậy
khoẻ mạnh lạ thường
Bước ai thánh thót


Nhịp ba
Tình yêu
Tự do
mãi mãi
Tình yêu tự do mãi mãi
Tình yêu tư do
mãi mãi anh ơi

Thanh Tâm Tuyền
                               *
Thấm thoát tính tới nay - Năm 2005 - đã vừa một nửa thê kỷ qua rồi. Anh em Sáng Tạo chúng tôi nay chỉ còn: Nguyễn Sỹ Tế, Doãn Quốc Sỹ và họa sĩ Duy Thanh.
Mai Thảo và họa sĩ Ngọc Dũng đã ra người thiên cổ!

                                                                                Doãn Quốc Sỹ
                                                                     Houston ngày 12 tháng 5, 2005


 

 




 


 

 

Thư từ liên lạc:  vuongtrungduongonline@yahoo.com
Copyright © 2006 vuongtrungduong
Last modified: 01/02/07