|
| |
-
Phan Khôi (1887-1959)
-
Vương Trùng Dương
-
- G̣ Nổi được bao
bọc bởi sông Thu Bồn và sông Vu Gia gặp nhau rồi tách làm hai nhánh sông tạo
thành vùng đất bồi ph́ nhiêu, trước kia thuộc tổng Đa Ḥa, phủ Điện Bàn, tỉnh
Quảng Nam, nay thuộc xă Điện Quang, huyện Điện Bàn. G̣ Nổi rộng khoảng vài
chục cây số vuông, gồm có các làng Tư Phú, Bảo An, La Kham, Xuân Đài, Trường
Giang, Đông Bàn, Phú Bông. Đây là vùng đất đă mang lại niềm tự hào cho quê
hương Quảng Nam v́ đă sản sinh ra những nhân vật gắn liền với lịch sử dân tộc
như Hoàng Diệu, Trần Cao Vân, Phạm Phú Thứ, Phan Thành Tài, Lê Đ́nh Dương...
cùng nhiều vị khoa bảng nổi tiếng.

- Nơi chốn đó,
Phan Khôi, bút hiệu Chương Dân đă dấn thân vào nghề báo từ tuổi thanh xuân cho
đến tuổi thất thập, ông vẫn giữ được hào khí của người cầm bút trong vụ án
Nhân Văn – Giai Phẩm. Ông c̣n là nhà văn, nhà lư luận sâu sắc và đóng góp
trong phong trào thơ mới, điển h́nh với bài T́nh Già vào đầu thập niên 30.
Ngoài ra, ông c̣n có bút hiệu Tú Sơn (Tout Seul) qua ḍng thơ trào phúng trên
Phụ Nữ Thời Đàm; bút hiệu Thông Reo, ban đầu kư chung với Đào Trinh Nhất và
Diệp Văn Kư trên tờ Thần Chung, sau đó ông giữ luôn mục “Câu Chuyện Hàng Ngày”
nầy.
-
-
Ḍng Đời
- Phan Khôi sinh
năm 1887 tại làng Bảo An, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, thân sinh ra ông là
Phan Trân (1862-1935), đỗ phó bảng năm 1891, làm Tri Phủ ở Diên Khánh, tỉnh
Khánh Ḥa. Khi làm quan, là nhà nho yêu nước, thấy h́nh ảnh lộng hành của Công
Sứ Pháp nên ông từ quan về dạy học ở quê nhà. Thân mẫu của Phan Khôi là con
gái Hoàng Diệu, nguyên Tổng Đốc Hà Nội, quê ở Xuân Đài. Tổng Đốc Hoàng Diệu
anh dũng tuẩn tiết khi thành Hà Nội bị lọt vào tay Henri Riviere năm 1882.
- Theo ḍng thời
gian, cuộc đời của Phan Khôi từ nhỏ đến khi lui về quy ẩn ở quê nhà, trước
đây, có vài điều nhầm lẫn v́ ông vừa là học sinh, vừa là thầy giáo cùng một
thời điểm. Trong quyển Nhớ Cha Tôi – Phan Khôi, nhà xuất bản Đà Nẵng, 2001 của
bà Phan Thị Mỹ Khanh, trích dẫn lại đôi ḍng tóm lược về ông:
- “Sinh ra trong
một gia đ́nh khoa bảng, nề nếp, bên nội cũng như bên ngoại, mặc dầu mồ côi mẹ
và là con một, cha tôi không ham chơi bời như một số cậu ấm cùng trang lứa, mà
chỉ lo chí thú học hành. Từ ngày mới lên năm, sáu tuổi, cha tôi tỏ ra thông
minh, học đâu nhớ đó...
- Năm cha tôi
được bảy tuổi th́ chẳng may bà nội tôi lâm bệnh rồi qua đời, ông nội tôi phần
v́ buồn phiền, phần th́ phải lo toan thu xếp việc nhà, không c̣n tâm trí kềm
cập cha tôi thường xuyên như trước dược. Tuy nhiên với tấm ḷng ham học sẵn
có, cha tôi vẫn ôn lại bài vở cũ và mày ṃ tự học thêm, gặp chữ nào khó th́
xin ông nội giảng giải.
- Ngày ông tôi
phải vào Diên Khánh nhậm chức Tri Huyện, gia đ́nh lại thiếu vắng bà nội nên
lâm vào cảnh đơn chiếc. Ông tôi bèn thu xếp gởi cha tôi về bên ngoại ở Xuân
Đài... Nhưng chỉ được thời gian độ một năm, bảy tháng, cha tôi không thấy
thích thú ǵ việc học hành ở nhà cậu nữa... Sẵn dịp ông tôi từ Diên Khánh về
thăm nhà, cha tôi xin ông chuyển cho ḿnh học nơi khác. Sau khi cân nhắc kỹ,
ông tôi quyết định đưa cha tôi về thôn Thái La, làng Bất Nhị, gởi gấm cho cụ
tú Trần Quư Cáp đang mở trường học tại nhà...
- Cha tôi chịu
ảnh hưởng nhiều của cụ Trần về mặt tư tưởng. Về học tập, do được cụ Trần hết
ḷng dạy dỗ trong một thời gian khá dài nên cha tôi tiến bộ rơ rệt. Đến năm
15, 16 tuổi, khi chuyển qua cac trường Huấn, trường Đốc, kỳ sát hạch nào của
ông cũng chiếm hàng đầu, được tiếng là sĩ tử thông minh của đất G̣ Nổi...
- Học giỏi như
vậy, nhưng năm Bính Ngọ (1906) ông 19 tuổi, lều chơng ra kinh đô Huế dự thi
khoa thi Hương do Nam triều tổ chức, ông chỉ đỗ tú tài...
- ... Năm 1907,
cha tôi được phong trào Duy Tân Quảng Nam giới thiệu đi học tiếng Pháp tại
trường Đông Kinh Nghĩa Thục Hà Nội... Đến Hà Nội, cha tôi được nhà trường nhận
vào học một lớp tiếng Pháp do ông Nguyễn Bá Học phụ trách... Nhà trường c̣n bố
trí cho cha tôi dạy một số giờ chữ Hán những buổi không có lớp tiếng Pháp.
Ngoài ra, ông c̣n viết bài, sửa bài cho tờ Đăng Cổ Tùng Báo.
- Công việc dạy
và học đương yên ổn th́ trường Đông Kinh Nghĩa Thục và tờ Đăng Cổ Tùng Báo bị
nhà cầm quyền Pháp đóng cửa, những vị sáng lập bị mật thám xét hỏi. Ông Nguyễn
Bá Học rủ cha tôi chạy về Nam Định, tạm lánh nhà ông để tiếp tục học tiếng
Pháp đang dở dang. Nhưng ở đây vẫn không yên, ông Nguyễn Bá Học bị mật thám
Nam Định theo dơi, gọi tới gọi lui thẩm vấn nhiều lần. Cha tôi buộc phải rời
nhà ông Học, t́m đường quay về Quảng Nam...
- Vào khoảng năm
1909, cha tôi ra Huế xin vào lớp nh́ trường Pellerin để tiếp tục học tiếng
Pháp... Ban giám hiệu thấy cha tôi đă 22 tuổi mà ham học nên nhận đơn, nhưng
buộc phải qua cuộc sát hạch mới cho vào lớp nh́, học chung với học tṛ trên
10 tuổi. Hai tháng đầu, ông bị xếp hạng bét lớp, nhưng từ tháng thứ ba trở đi,
ông vượt lên đứng đầu trước sự ngạc nhiên của thầy giáo và đám bạn nhỏ. Nhưng
chưa kết thúc năm học th́ ông phải về quê thọ tang bà cố tôi, sau đó ở nhà
luôn...
- Thời gian nầy
(1910) thực dân Pháp và Nam triều mở một đợt vây bắt bớ v́ chúng thấy phong
trào Duy Tân vẫn c̣n âm ỉ, và hơn nữa, Đảng Việt Nam Quang Phụcï Hội của cụ
Phan Bội Châu đang bắt đầu nhen nhóm. Một hôm, cha tôi nhận được trát của phủ
Điện Bàn đ̣i xuống hầu, nhưng ông vừa tới nơi th́ bị tống giam vào nhà lao
tỉnh, sau vài hôm lại bị giải giao về nhà tù Hội An, giam chung với các cụ
Huỳnh Thúc Kháng, Phan Thúc Duyên và nhiều nhân sĩ đă bị bắt trước đó vài
hôm...
- ... Năm 1913,
măn hạn tù. Ông nội tôi hối thúc việc cưới vợ, coi đó là biện pháp giữ chân
con trai tốt nhất... Cưới vợ rồi, cha tôi mở lớp dạy chữ Hán và chữ Quốc Ngữ
tại nhà, được học tṛ xa gần đến học rất đông, v́ ông có cải tiến lối giảng
dạy dễ hiểu hơn so với các thầy đồ xưa...
- ... Vào khoảng
giữa năm 1916, cha tôi ra Hà Nội lần thứ hai với một quyết tâm cao hơn bao giờ
hết, để thực hiện cho nguyện vọng ấp ủ bấy lâu là làm báo, viết văn, dù cho
khó khăn đến mấy cũng phải vượt qua... Lên Hà Nội, cha tôi gặp Nguyễn Bá Trạc
là người cùng quê và là bạn học cũ quen biết. Ông Nguyễn đă từng tham gia
phong trào Đông Du, qua Nhật rồi trở về, được Pháp sử dụng, sau bổ nhiệm làm
Tổng Đốc Thanh Hóa. Nguyễn Bá Trạc giới thiệu cha tôi vào làm báo Nam Phong do
Phạm Quỳnh chủ bút....
- Nhưng dần dần,
ông nhận ra rằng báo Nam Phong chỉ là công cụ mị dân do người Pháp chủ
trương... ông lại vào Sài G̣n viết cho tờ Lục Tỉnh Tân Văn.
- Năm 1920, ông
trở ra Hà Nội viết cho tờ Thực Nghiệp Dân Báo và tạp chí Hữu Thanh... Năm
1922, cha tôi lại trở vào Sài G̣n do vài bạn đồng nghiệp nhắn gọi, nhưng vào
đó, ông chỉ viết bài gởi đăng báo như một cộng tác viên, chứ không có chủ báo
nào nhận ông làm... Rồi nhân có một vụ việc ǵ đó xảy ra ở thành phố, ông bị
mật thám t́nh nghi, đe dọa, phải chạy xuống Cà Mau tạm trú tại nhà một người
quen thân làm chủ đồn điền tại đây.
- Thời gian ở ẩn
ăn không ngồi rồi này khá lâu, mất đến gần 3 năm, nhưng cha tôi biết tận dụng
nó để làm việc có ích là tiếp tục học tiếng Pháp bằng cách trao đổi thư từ,
bài tập qua đường bưu điện với một nhà báo Pháp Dejiean de la Bâtrie...
- Đầu năm 1925,
hết đợt lận đận, cha tôi trở lên Sài G̣n cộng tác cùng một lúc với ba tờ báo
lớn là Thần Chung, Đông Pháp Thời Báo, đồng thời gởi bài cho Đông Tây Tuần
Báo, văn học tạp chí ở Hà Nội.
- Từ năm 1925 đến
1928, trong ba năm ấy, ông viết liên tục, rất sung túc... Giới trí thức tư
sản Sài G̣n th́ tới lui t́m gặp ông để bàn việc ra báo... Trong số những
người đến tiếp xúc mời ông cộng tác, ông thấy bà Nguyễn Đức Nhuận là người có
thật tâm nhất nên nhận lời... tuần báo lấy tên là Phụ Nữ Tân Văn... Bà đứng
tên người sáng lập, cha tôi làm Chủ Bút... sau đó, vào hạ tuần tháng 5 năm
1933, chúng rút giấy phép, ra lệnh đóng cửa ṭa soạn. Tờ Phụ Nự Tân Văn cuối
cùng chia tay với bạn đọc cũng là kỷ niệm ngày báo được tṛn 4 tuổi...
- ... Cha tôi ở
nhà khoảng một tuần, lại trở ra Hà Nội, nhận làm chủ bút báo Phụ Nữ Thời Đàm
của ông Nguyễn Văn Đa. Ông nầy ra tuần báo Phụ Nữ Thời Đàm với ư đồ thay chân
cho Phụ Nữ Tân Văn vừa bị đóng cửa, nhưng do tài chánh eo hẹp, tờ báo kém về
h́nh thức lẫn nội dung, chỉ tồn tại được một năm phải đ́nh bản.
- Thôi làm cho
Phụ Nữ Thời Đàm, ông quay về Huế, làm chủ bút báo Tràng An của ông Bùi Huy
Tín, chủ nhà in Đắc Lập. Trên mặt báo Tràng An, thỉnh thoảng có đăng bài động
đến chính quyền cai trị... nên bị Chánh mật thám Trung Kỳ Sogny nhiều lần hạch
sách, đe dọa. Cuối cùng hắn dùng thủ đoạn thu hồi giấy nhập khẩu giấy in báo
của nhà in Đắc Lập, tờ Tràng An không c̣n giấy để in, đành phải tự động đóng
cửa.
- Cha tôi lại mất
việc. Ông tạm thời dạy Việt văn cho trường Trung học tư thục Hồ Đắc Hàm ở Huế,
đồng thời viết bài cho Hà Nội Báo và xuất bản cuốn Chương Dân Thi Thoại vào
đầu năm 1936...
- Vào giữa năm
1936, cha tôi xin giấy phép đứng tên sáng lập tờ Sông Hương tại Huế... Ṭa
soạn do ông đảm đương là chính, cộng với sự trợ giúp của hai anh tôi và một
vài nguời bà con. Tuần báo nầy chỉ sống được 8, 9 tháng th́ phải tự đóng cửa
do tài chánh mất cân đối, vốn dự bị lại cạn kiệt.
- Cuối năm 1927,
cha tôi vào Sài G̣n dạy Việt văn và Hán văn cho trường Trung học tư thục Chấn
Thanh của ông Phan Bá Lân, đồng thời cộng tác với báo Tao Đàn. Thời gian nầy
ông sáng tác tiểu thuyết đầu tay Trở Vỏ Lửa Ra và bán bản quyền cho nhà xuất
bản Phổ Thông (1939)...
- Cuối năm 1941,
do thời cuộc, trường Chấn Thanh đóng cửa và dời về Đà Nẵng với quy mô nhỏ hơn,
và báo chí cũng hết thời thịnh vượng, cha tôi quyết định trở về quê... Năm
1942, ông đă góp phần cùng mẹ và anh tôi sữa lại cái nhà ngang bằng tranh hư
hỏng và dột nát...”
- Thời gian từ
1941 đến 1945, Phan Khôi tạm gác bút.
- Ḍng họ Phan là
một trong các ḍng họ nổi tiếng ở Quảng Nam. Năm 1913, Phan Khôi lập gia đ́nh
với con gái ông cử Lương Thúc Kư (1873-1947), đỗ cử nhân cùng thời với Huỳnh
Thúc Kháng, Phan Châu Trinh, Nguyễn Đ́nh Tuyến... từng làm Hậu Bổ tỉnh B́nh
Thuận, Tri Huyện ở Tuy Phong, Giáo Thọ ở Tuy An, tác giả quyển Quốc Ngạn...
- Ông bà Phan
Khôi có sáu người con (hai trai, bốn gái), con cả là Phan Thao (1915-1960),
cán bộ cao cấp trong Ủy Ban Trung Bộ, đại biểu Quốc Hội tỉnh Quảng Nam năm
1946, Chủ Nhiệm báo Cứu Quốc và bốn người con gái là Hựu Khanh, Bang Khanh, Mỹ
Khanh, Tiểu Khanh.
- Năm 1936, thời
gian làm tờ Tràng An ở Huế, ông lấy thêm bà vợ hai người Hà Nội, có với nhau
ba mặt con. Rời Huế, ông đưa người vợ kế về Quảng Nam, hai bà sống với nhau
rất ḥa thuận ở quê nhà, năm 1955 ông đưa vợ con ra đoàn tụ cùng ông tại Hà
Nội.
- Về quan hệ thân
tộc, em gái ông là vợ nhà văn Sở Cuồng Lê Dư. Ông bà Lê Dư có các người con
gái: bà Hằng Huân (vợ tướng Nguyễn Sơn), bà Hằng Phấn (vợ nhà văn Hoàng Văn
Chí, tác giả Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc), bà Hằng Phương (vợ nhà văn Vũ Ngọc
Phan). Em họ là Phan Bôi Hoàng Hữu Nam (1911-1949), Thứ Trưởng bộ Nội Vụ trong
Chính Phủ Liên Hiệp. Ông Biện Chín, tên thật là Phan Định, chú ruột Phan Khôi,
có hai người con là Phan Bôi, Phan Thanh (1908-1939). Phan Thanh cũng hoạt
động trong Hội Truyền Bá Quốc Ngữ cùng với Đặng Thái Mai và Vơ Nguyên Giáp.
- ª Nhân Văn –
Giai Phẩm
- Phan Khôi được
hấp thụ tinh thần yêu nước của các vị thầy từ nhỏ, ông ghét chính sách cai trị
của thực dân Pháp nên tham gia vào phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục, Duy Tân...
Đứng trước hoàn cảnh ly loạn của đất nước, ông đă tham gia trong phong trào
kháng Pháp của Việt Minh nhưng tính cương trực, dũng cảm của bậc sĩ phu yêu
nước, ông đă mạnh dạn lên án những sai lầm dù nguy hiểm cho bản thân.
- Trong quyển Văn
Thi Sĩ Tiền Chiến, Nguyễn Vỹ đă viết về ông:
- “Năm 1945, Việt
Minh nắm chính quyền. Ngay buổi đầu, ông đă bực tức về những hành động quá tàn
bạo của chính quyền địa phương đối với nhân dân trong tỉnh. Đến khi họ định
đập phá nhà thờ cụ Hoàng Diệu th́ Phan Khôi phản đối quyết liệt. Nếu lúc bấy
giờ không có thân thế mạnh mẽ th́ có lẽ Phan Khôi đă bị thủ tiêu rồi, như
trường hợp của những nhà văn có tinh thần quốc gia và yêu chuộng tự do, công
lư như Khái hưng, Lan Khai...
- ... Phan Khôi
lén nhờ người cầm thư ra Hà Nội, định che chở cho cụ. Nhưng ở Hà Nội, Phan
Khôi vẫn bị công an Việt Minh theo dơi từng bước và họ giao ông cho chính em
họ của ông là Phan Bôi, tức Hoàng Hữu Nam, Thứ Trưởng bộ Nội Vụ, quản thúc.
- V́ tính cương
trực, không muốn để mất tự do hành động của ḿnh, ông không chịu ở nhà Phan
Bôi, mà tự ư đến nhà Khái Hưng, tại trụ sở Việt Nam Quốc Dân Đảng, phố Quan
Thánh. Việt Minh đến bắt Khái Hưng tại nơi đây, và bắt luôn Phan Khôi. Khái
Hưng th́ họ đưa về làng quê quán để rồi cán bộ địa phương thủ tiêu trong một
đêm tối trên một bờ đê trong làng. C̣n Phan Khôi th́ bị đưa lên chiến khu Việt
Bắc... và được giao công tác phiên dịch sách chữ Hán.
- Suốt chín năm
kháng chiến ở Việt Bắc, Phan Khôi, một nhà văn độc lập, không đảng phái, không
quỵ lụy ai, không phục tùng sức mạnh nào, chỉ phụng sự cho công lư, tự do, dân
chủ. Phan Khôi vẫn công kích chế độ Cộng Sản, mặc dầu ông triệt để ủng hộ cuộc
kháng chiến của toàn dân chống Pháp”.
- Công tác
phiên dịch Hán văn và Pháp văn sang tiếng Việt cũng nhẹ nhàng, v́ tuổi cao và
có thân thế, Phan Khôi được ưu đăi hơn các văn nghệ sĩ khác nhưng ông không
dựa vào đó để tiếm chức, lạm quyền mà dần đà khám phá ra nhiều hành vi độc
đoán nên bất măn. Năm 1951 ông làm bài thơ ví cuộc kháng chiến như hoa hồng và
ví Việt Minh như gai. Ông nói lên tâm trạng của người v́ yêu kháng chiến mà
phải chấp nhận đi theo con đường phục vụ cho Việt Minh.
- Bài thơ “Hồng
Gai” như sau:
- “Hồng nào
hồng chẳng có gai
- Miễn đừng là
thứ hồng dài không hoa,
- Là hồng th́
phải có hoa,
- Không hoa
chỉ có gai mà ai chơi ?
- Ta yêu hồng
lắm hồng ơi !
- Có gai mà
cũng có mùi hương thơm”.
- Sống lâu ngày
nơi núi rừng Việt Bắc, dù khổ cực, bất măn nhưng không có ai dám thổ lộ tâm sự
bi đát đó, chỉ có Phan Khôi bộc lộ những ḍng thơ vào năm 1952:
- “Tuổi già
thêm bệnh hoạn
- Kháng chiến
thấy thừa ta
- Mối sầu như
tóc bạc
- Cứ cắt lại
dài ra”.
- Cuối năm
1954, Phan Khôi trở về Hà Nội cùng với đa số các văn nghệ sĩ khác. V́ không có
nhà cửa ở Hà Nội nên Hội Văn Nghệ dành cho ông căn pḥng ở tầng ba của trụ sở
của Hội, ông vẫn tiếp tục công việc phiên dịch.
- Năm 1956, sau
khi Giai Phẩm Mùa Xuân ra đời, bài thơ Nhất Định Thắng của Trần Dần dài gần
400 câu như quả bom tung ra trong làng báo Hà Nội. Ngày 29-8-1956, Giai Phẩm
Mùa Thu xuất hiện. Theo Hoàng Văn Chí trong Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc:
“Trong tập nầy cụ Phan Khôi giáng một chùy trí mạng vào đầu giai cấp lănh đạo.
Bài của cụ nhan đề là Phê B́nh Lănh Đạo Văn Nghệ. Bài nầy đă làm nhân dân Hà
Nội xôn xao. Có người viết trên báo Thời Mới, ví bài của cụ Phan như một “quả
bom tạ” thả ngay giữa Hà Nội. Có người thốt lên rằng chín mười năm nay mới
nghe thấy một tiếng nói “sang sảng” của cụ Phan...”
- V́ nhận thấy
“giai phẩm” có tính cách văn học nên Phan Khôi đứng ra làm Chủ Nhiệm tờ Nhân
Văn cùng Nguyễn Hữu Đang, Trần Duy... muốn quảng bá rộng răi hơn tiếng vọng
của tờ báo, tạo ngọn lửa đấu tranh giữa thủ đô Hà Nội.
- Ngày 15-9-1956,
tờ Nhân Văn ra đời, giới sinh viên hưởng ứng tiếng nói đấu tranh với tờ Đất
Mới và tuần báo Trăm Hoa của Nguyễn Bính cũng nhập cuộc, và tờ Văn cũng thay
đổi thái độ cho đến bài Ông Năm Chuột của Phan Khôi xuất hiện, Đảng bắt Hội
Văn Nghệ đ́nh bản tờ Văn.
- Đảng và giới
lănh đạo văn nghệ ra tay đàn áp tạo thành vụ án Nhân Văn – Giai Phẩm, đày đọa
giới trí thức và những người cầm bút đối kháng vào chốn lao tù và sống cuộc
đời lầm than trải dài qua vài thập niên.
- Nắng Chiều
của Phan Khôi là tác phẩm cuối đời, thể hiện hào khí bất khuất của người cầm
bút, đấu tranh cho tự do và lẽ phải.
- Sáng ngày 16
tháng Giêng năm 1959, Phan Khôi vĩnh biệt cơi trần tại căn nhà ở phố Thuốc
Bắc, Hà Nội, hưởng thọ 73 tuổi.
- Đám tang của
ông thật lặng lẽ, u buồn v́ không khí ngột ngạt của vụ án Nhân Văn – Giai Phẩm
c̣n bủa vây trên bầu trời Hà Nội.
-
*
- Về văn, trong
Nhà Văn Hiện Đại của Vũ Ngọc Phan ra đời năm 1942 đă viết về Phan Khôi ở phần
đầu: “Phan Khôi là một trong những nhà văn xuất sắc nhất trong phái nho học”.
Và kết luận: “Trong văn giới Việt Nam, dù thuộc về phái già hay phái trẻ, tuy
có nhiều người không đồng ư kiến với Phan Khôi, nhưng ai ai cũng phải công
nhận ông là một tay kiện tướng”.
- Về báo, trong
quyển Nghề Viết Báo của Tế Xuyên đă nhận định:
- “Léon Daudet,
cây bút sắc bén của tờ báo hữu khuynh L’ Action Francaise đă nói rằng: Kẻ viết
báo tài t́nh là những người bút chiến giỏi.
- Phan Khôi xứng
đáng là nhà bút chiến giỏi như lời Léon Daudet đă nói. Ông c̣n để lại trong
lịch sử lịch sử báo chí nước nhà lắm trận bút chiến náo động”.
- Phan Khôi đă
tham gia trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, với tài năng, tuổi già và có
thân nhân trong guồng máy lănh đạo, ông được ưu đăi nhưng khí phách, nhân cách
của nhà văn, nhà báo ư thức trách nhiệm với quê hương, dân tộc, không thể cam
chịu trước cảnh độc tài và bất công, nên dấn thân đấu tranh đến cùng. H́nh ảnh
kiện tướng Phan Khôi, một lần nữa, được đi vào trong lịch sử báo chí và văn
học Việt Nam.
-
-
Tác Phẩm:
- Chương Dân Thi
Thoại (chuyện thơ, 1936) – Trở Vỏ Lửa Ra (tiểu thuyết, 1939) – Việt Ngữ Nghiên
Cứu – Lỗ Tấn, Truyện Ngắn & Tạp Văn.
- Truyện ngắn
bằng Hán văn: Mộng Trung Mộng, Hoạn Hải Ba Đào.
- Ngoài ra, bản
dịch Kinh Thánh năm 1925 cho Giáo Hội Tin Lành của ông cũng được đánh giá rất
cao trong thời kỳ phát triển văn chương Việt Nam.
-
Vương Trùng Dương
| |
|