|
| |
-
Tưởng Niệm Thanh Tâm Tuyền
-
Việt Hải
-
-
Ngày Thứ Tư tin tức các báo và internet đă chuyển đi là nhà thơ Thanh Tâm
Tuyền đă mệnh chung vào lúc 10:30 giờ sáng (PST hay giờ Cali), nhằm vào
ngày 22-3-2006 tại tiểu bang Minnesota, v́ chứng bệnh ung thư phổi. Tôi
được tin nhà thơ Thanh Tâm Tuyền khuất bóng, mà ḷng buồn và nuối tiếc v́
thêm một nhân tài của nền văn học Việt Nam lại ra đi theo luật thiên
nhiên. Tôi nhớ những bài thơ vô cùng lăng mạn của ông.
- “Ôm em trong
tay

- mà đă nhớ em
ngày sắp tới”
- Tôi sinh hoạt
trong Văn Đàn Đồng Tâm do hai nhà văn niên trưởng Doăn Quốc Sỹ và Tạ Xuân
Thạc sáng lập tại Houston. Nhà văn Doăn Quốc Sỹ kể tôi nghe về nhóm Sáng
Tạo khi xưa do ông và các thân hữu thành lập sau khi di cư vào miền Nam.
Trong các thân hữu của ông th́ có nhà văn và nhà thơ Thanh Tâm Tuyền. Và
rằng Thanh Tâm Tuyền là một trong người cổ xúy cho phong trào thơ mới,
theo thơ của các nhà thơ Pháp như Apollinaire, Beaudelaire, Lamartine,
Alfred de Musset,... Đôi nét về tiểu sử của Thanh Tâm Tuyền th́ ông có tên
thật là Dzư Văn Tâm, sinh ngày 15-3-1936, ra đời tại Vinh tỉnh Nghệ An, từ
Bắc di cư vào Nam năm 1954.
- Ông là cựu sĩ
quan VNCH, và là cựu tù nhân chính trị định cư tại Saint Paul, Minnesota,
Hoa Kỳ. Các tác phẩm tiêu biểu của Thanh Tâm Tuyền gồm “Tôi Không C̣n Cô
Độc” (1956), các tuyển tập “Bếp Lửa” (1957), “Liên, Đêm Mặt Trời T́m
Thấy” (1964), “Khuôn Mặt” (1964), "Ba Chị Em" (1967), “Tiếng Động” (1970)
và “Thơ Ở Đâu Xa” (1990).
- Sau tin buồn
về Thanh Tâm Tuyền, tôi có may mắn nhận được ấn bản in lại cuốn Giai phẩm
Văn xuất bản tại Sài G̣n năm xưa, tức tháng 10 năm 1973, một tuyển tập
viết đặc biệt về nhà thơ Thanh Tâm Tuyền do nhóm chủ biên Nguyễn Đ́nh
Vượng ấn hành, sách dầy 112 trang, gồm những bài do chính Thanh Tâm Tuyền
và các thân hữu viết. Nhà văn Trần Hoài Thư từ New Jersey cho tái bản lại
như nguồn tài liệu hiếm quư chỉ để tặng bạn bè. Trong Giai phẩm Văn, ở
trang 16 có bài viết rất lư thú của nhà văn Nguyễn Quốc Trụ tựa đề là "Đọc
Thanh Tâm Tuyền». Trong phần nhận định tác phẩm "Bếp Lửa" của Thanh Tâm
Tuyền, tác giả nhận xét là:
- "Trong số
những tác phẩm của Thanh Tâm Tuyền, «Bếp Lửa» có lẽ đă làm phiền tác giả
cũng như người đọc nhiều nhất, mặc dù cuốn sách được "viết một hơi, khoảng
đâu hai ba tháng, được in ngay sau khi viết, không có một quảng cách dể
kịp lùi, nh́n lại"...."
- Và lời của
Thanh Tâm Tuyền thố lộ nơi trang 19 vào tháng 3, 1973, ông viết là: "Mười
bảy năm qua, kinh nghiệm dạy cho tôi lời của Malraux là đúng. Tôi đă loay
hoay quá lâu với một cuốn sách. Lần này tôi quyết định đề là ấn bản chung
quyết. Tôi hiểu là đă đến lúc nên viết những quyển sách khác", (Bếp Lửa,
Tựa lần bốn). Bởi v́ do câu nói của Malraux:"Người ta không thể nào viết
lại một quyển tiểu thuyết".
- Thanh Tâm
Tuyền đọc nhiều tác giả mà ông dẫn dụ trong văn ông từ André Breton đến
André Malraux. Nhà văn André Malraux vốn là mẫu người trí thức chủ trương
hành động, say mê phiêu lưu, một nhà văn hóa, và cũng là nhà triết tư
tưởng học. André Malraux sáng tác rất nhiều tác phẩm văn chương thượng
thặng, rất đa diện, thuộc nhiều lănh vực chuyên môn, ông đào sâu thân phận
bi thương, tinh thần cao cả của con người và những giá trị về t́nh đoàn
kết giữa người và người, ông cũng đề cao ḷng quả cảm và sự đạo đức lương
tri. V́ thế nên Thanh Tâm Tuyền viết lên những điều v́ ḷng quả cảm, v́
lương tri con người như nỗi niềm của ông như trong bài "Sợ Lửa", viết Bạt
cho sách Doăn Quốc Sỹ được đăng trong tờ báo Sáng Tạo, số 4 tháng Giêng
năm 1957 th́ hai câu thơ lồng sự phẫn nộ giận dữ, khi sự bất măn khiến thơ
đầm đ́a nước mắt:
- "Hăy cho anh
khóc bằng mắt em
- Những cuộc
t́nh duyên Budapest"
- Thanh Tâm
Tuyền tỏ vẻ giận dữ khi đoàn xe tăng Liên Sô đàn áp sức chống cự của nhân
dân Budapest, ông buông những ḍng thơ oan khiên:

- "Hăy cho anh
chết bằng da em
- Trong giây
xích chiến xa tội nghiệp
- Anh sẽ sống
bằng hơi thở em
- Hỡi những
người kế tiếp"
- Thanh Tâm
Tuyền có ư thức chống cộng cao độ trước và sau năm 1975, ông vẫn thế. Là
người say thơ và đă đọc thơ của nhiều người. Từ thơ phản kháng của Nguyễn
Chí Thiện hay Thanh Tâm Tuyền đều nói lên nỗi ḷng sâu xa nhất của người
làm thơ. Thơ làm cho người ta giải tỏa nỗi buồn trong cuộc sống hay để yêu
cuộc sống hơn, thiết tha với sự sống hơn. Nếu thơ không gây ra những cảm
nhận hứng thú th́ không c̣n giá trị của nó nữa. Như đă nói Thanh Tâm Tuyền
đọc sách Pháp ông thích ḍng thơ lăng mạn Pháp và triết học tây phương.
Thơ ông chứa đựng cái nh́n của hệ phái siêu thực, tiềm ẩn lối nh́n tâm
linh. Mà hệ phái siêu thực bên triết học ông nói về tính chất siêu thực
trong văn chương. Từ những ư niệm của André Breton, Thanh Tâm Tuyền đă
cho chúng ta thấy sự lăng mạn tràn trề trong thơ của ông. Hệ phái triết
siêu thực, một mặt dựa vào triết học trực giác của Henri Bergson, mặt khác
dựa vào phân tâm học của Sigmund Freud. Ư niệm siêu thực có nguồn gốc từ
chủ trương lăng mạn huyền bí từ nước Đức, nhất là Novalis, và một số nhà
thơ như Comte de Lautréamont (hay Isidore Ducasse), Guillaume Apollinaire
và họa sĩ Giorgio De Chirico. Nhưng chủ nghĩa siêu thực chỉ thực sự h́nh
thành với André Breton và các bạn của ông. Thanh Tâm Tuyền là nhà thơ siêu
thực lăng mạn, hăy xem bài thơ "Bài ngợi ca t́nh yêu“:
- «Em gối đầu
sương xuống
- Chuyện tṛ
bằng bóng h́nh
- Tôi đẹp như
h́nh tôi
- Như cuộc đời
- Như mọi người
- ...
- Em là lá biếc
là mây cao là tiếng hát
- Sớm mai khua
thức nhiều nhớ thương
- Em là cánh hoa
là khói sóng
- Đêm màu hồng»
- Văn học lăng
mạn trước hết là sự trở về với tự nhiên và t́nh cảm. Thơ lăng mạn của
Thanh Tâm Tuyền phản ánh thế giới nội tâm, t́nh cảm của con người với
nhiều trạng thái khác nhau. Trong văn chương Pháp th́ Victor Hugo vốn được
xem như chủ soái của trường phái lăng mạn Pháp đă nhận định rằng: “Chủ
nghĩa lăng mạn cũng là thị hiếu về ước mơ, về sự huyền diệu và phóng
khoáng, của trí tưởng tượng vượt khỏi lề thói". V́ thế, lư tưởng lăng mạn
đôi khi làm biến dạng thực tế để phục vụ cho nhu cầu thẩm mỹ và t́nh cảm.
T́nh yêu trong thơ Thanh Tâm Tuyền c̣n là t́nh nhân ái, là lời yêu thương
cho những con người cô độc, lẻ loi, trong màn đêm lệ thấm giọt sầu rơi.
Thi sĩ khi nghĩ đến cuộc lang thang, nỗi cô đơn của chính ḷng ḿnh.
- "Tôi biết
những người khóc lẻ loi
- không nguôi
một phút
- những người
khóc lệ không rơi ngoài tim ḿnh
- em biết không
- lệ là những
viên đá xanh
- tim rũ rượi
- đôi khi anh
muốn tin
- ngoài đời đầy
cỏ hoa tinh khiết
- mà bên cỏ hoa
quyến rũ cánh tay em
- ṿng ân ái
- đôi khi anh
muốn tin
- ôi những người
khóc lẻ loi một ḿnh
- đau đớn lệ là
những viên đá xanh
- tim rũ rượi "
- ("Lệ đá
xanh“)
- Sự lăng mạn
thơ Thanh Tâm Tuyền mang âm hưởng thơ Pháp về lối đặt câu, cấu trúc thơ
mới mà ông là người áp dụng lề lối mới này khá nhiều. Ví dụ khi xét bài
"Hăy Say Đi" của thi sĩ Charles Beaudelaire:
-
- "Hăy say,
- Nào hăy say đi
- Đất trời c̣n
đó

- Ngại ǵ không
say
- Tiếc chi giữa
thế gian này
- Bao nhiêu gánh
nặng, bấy nhầy trên vai
- Xác thân run
rẩy từng ngày
- Hăy say,
- Quên kiếp đọa
đầy nhân sinh
- Say… thơ,
- Say… rượu,
- Say… t́nh,
- Say ḷng nhân
cách tuyết trinh trong đời…"
- (bài "Hăy Say
Đi" - Charles Beaudelaire)
- Bản dịch của
Nguyễn Tâm Hán (2)
- Hệ phái siêu
thực chọn chủ nghĩa biểu tượng (symbolisme) là nh́n thấy "dưới một sự giả
trang này hoặc giả trang khác ở các thi sĩ giầu óc tưởng tượng lớn"(Arthur
Symons), hay là nghệ thuật "khêu gợi đối tượng từng tư một đến chừng bộc
lộ ra một tâm trạng, hoặc ngược lại, là nghệ thuật tuyển chọn một đối
tượng và rút ra từ đó một "trạng thái tâm hồn".(Mallarmé -1891). Đây là
một phong trào thi ca chịu nhiều ảnh hưởng của lư tưởng thuần khiết (nền
tảng Platonic) của triết lư hiện sinh, nghĩa là thơ tượng trưng t́m cách
khéo lồng vào tư tưởng với một h́nh thức dễ cảm nhận. Ḍng thơ của Thanh
Tâm Tuyền chuyên chở cái lăng mạn của Lamartine, Musset, và cái nh́n siêu
thực của Rimbaud, Beaudelaire, Paul Eluard,… Nét chấm phá của thơ ông có
một chút nào đó thơ của đại thi hào Paul Verlaine mà người đời thường ca
tụng Verlaine đă phá vỡ gông cùm ác nghiệt của phép làm thơ. Thật vậy, thơ
tự do (vers libre) là trọng tâm của nhiều thơ tượng trưng.
- "Tiếng đàn ai
đó lê-thê
- Vĩ cầm réo rắt
ê chề ḷng đau
- Bơ vơ chuông
đổ đồng hồ
- Ḷng như héo
hắt thu tàn năm xưa
- Bao kỷ niệm
theo gió đưa
- Cuốn theo lệ
đổ chưa vừa xót xa
- Bao năm lữ thứ
xa nhà
- Giang hồ phiêu
bạt lá vàng tả tơi..."
- (Thu Ca -
Paul Verlaine, qua bản dịch của Lăng Du)
- T́nh yêu trong
thơ Thanh Tâm Tuyền c̣n là t́nh nhân ái, là lời yêu thương cho những con
người cô độc, lẻ loi, trong màn đêm lệ thấm giọt sầu rơi. Thi sĩ khi nghĩ
đến cuộc lang thang, nỗi cô đơn của chính ḷng ḿnh.
- «Tôi biết
những người khóc lẻ loi
- không nguôi
một phút
- những người
khóc lệ không rơi ngoài tim ḿnh
- em biết không
- lệ là những
viên đá xanh
- tim rũ rượi
- đôi khi anh
muốn tin
- ngoài đời đầy
cỏ hoa tinh khiết
- mà bên cỏ hoa
quyến rũ cánh tay em
- ṿng ân ái
- đôi khi anh
muốn tin
- ôi những người
khóc lẻ loi một ḿnh
- đau đớn lệ là
những viên đá xanh
- tim rũ rượi »
- ("Lệ đá
xanh“)
- Trong ngôn ngữ
t́nh yêu của Thanh Tâm Tuyền thật mượt mà, những sợi tóc em không c̣n chỉ
là những sợi tóc đen nhánh như một chuỗi cười. Những giọt lệ nhớ nhung như
mưa lệ rơi, như những viên đá xanh. Thơ nâng niu môi em là làn mật ngọt và
vùng ngực em mang như đồi thơ bao la, bát ngát, tôi cho là nhà thơ đă diễn
đạt cái nội tâm sâu kín nhất của ông:
- "Đêm hiền từ
nhỏ to trên trán
- Màu đen sáng
đủ ngó vào nụ cười
- Có đấy không
này em mưa chan hoà
- Trên ngực trên
ngực em bát ngát"
- Sự lăng mạn
hơn nữa khi thi sĩ mô tả làn da trắng toát của người yêu thật xác thực ư
nghĩ, hỡi đôi mắt trần gian đăm chiêu với dục vọng, hôn em như muốn cắn
môi cho vơi đi nỗi nhớ nhung:
- "Da trắng như
tiếng hát ở trên trời...
- Anh cúi xuống
hôn cánh môi tím màu đêm mà thương nhớ...
- Đừng trói anh
vào trần gian bằng mắt em nh́n kia...
- Người đàn bà
rũ tóc thành một cơn băo mặn
- Hương nồng
chiều ḍng kinh mùa hè... "
- (trích thơ
Thanh Tâm Tuyền)
- Đôi mắt em là
mộng chiều tưởng nhớ, là cửa sổ của tâm hồn tương tư. Đôi môi em là chiều
vương kỷ niệm, khi những con tim đi t́m sự đồng lơa của tâm hồn khi t́nh
nồng trao nhau:
- "Cửa sổ trời
những mắt chưa quen
- trán hoang
đồng cỏ
- run đường môi
kỷ niệm
- đi qua những
thành phố đầy tim
- cười đổ mưa
một ḿnh"
- (bài "Của
Em“, Thanh Tâm Tuyền)
- Trong bài "Sầu
Khúc" Thanh Tâm Tuyền tả về t́nh yêu như đám lau buồn, như tư lự về tuổi
ấu thơ như ḥn cù lao xa khuất trong tiềm thức cũ. Ta nghe t́nh yêu của sự
lăng mạn nhẹ nhàng. Thi sĩ mơ về những ngày xa xưa tắm sông có tiếng cười
thầm của người t́nh ru ông về kỷ niệm:
- "Tuổi ấu thơ
ḥn cù lao xa khuất
- Và t́nh yêu
như đám lau buồn
- Vàm sông nước
xoáy như tiếng cười thầm
- Ở sau lưng ở
trước mặt
- Anh thả người
trôi nổi"
- ("Sầu
Khúc“, Thanh Tâm Tuyền)
- Thơ Thanh Tâm
Tuyền mang nụ hôn lăng mạn, có những đắm đuối bờ môi, có thiên nhiên hiền
ḥa mộng mị khi ḥ hẹn, và cũng có những nỗi đau của thú yêu đương. Khi
thi sĩ mơ say em như say thơ cùng men rượu, có một chút Paris để mơ về nửa
đêm Hà Nội, rồi ôm em trong tay mà đă nhớ em ngày sắp tới. Tôi thích bài
"Dạ Khúc" lắm, hồn thơ Thanh Tâm Tuyền đă bay vào văn học sử với những lời
thơ bất hủ này:
- "Đi đi chúng
ta đến công viên
- Nơi anh sẽ hôn
em đắm đuối
- Ôi môi em như
mật đắng
- Như móng sắc
thương đau
- Đi đi anh đưa
em vào quán rượu
- Có một chút
Paris
- Để anh được
làm thi sĩ
- Hay nửa đêm Hà
Nội...
- Ôm em trong
tay mà đă nhớ em
- ngày sắp tới."
-
- (“Dạ Khúc”,
Thanh Tâm Tuyền)
- Thiên nhiên và
t́nh yêu trong cơi thơ của Thanh Tâm Tuyền đậm đà tha thiết và nỗi đau
trong thơ Thanh Tâm Tuyền cũng không kém ǵ nỗi đau thống thiết trong
những ḍng thơ Apollinaire:
- «Ta đă hái
nhành lá cây thạch thảo
- Em nhớ cho,
mùa thu đă chết rồi
- Chúng ta sẽ
không tao phùng đựợc nữa
- Mộng trùng lai
không có ở trên đời
- Hương thời
gian mùi thạch thảo bốc hơi
- Và nhớ nhé ta
đợi chờ em đó... »
- (Lời Vĩnh
Biệt- Bản dịch của Bùi Giáng)
-
- ”J'ai cueilli
ce brin de bruyère
- L'automne est
morte souviens-t'en
- Nous ne nous
verrons plus sur terre
- Odeur du temps
brin de bruyère
- Et
souviens-toi que je t'attends »
- (L'adieu –
Apollinaire 1880-1918)
- T́nh yêu trong
thơ Thanh Tâm Tuyền, chịu ảnh hưởng của ḍng thơ văn lăng mạn Pháp chất
chứa bao ư tưởng phóng khoáng ra khỏi lằn ranh nho học trong cổ văn, và
h́nh như được cho thấy nhà thơ điễn tả tâm tư ḿnh trong nỗi gian truân,
dang dở, không vẹn toàn. T́nh yêu của nỗi chia ly muộn màng như:
- "Điếu thuốc
bỗng trở niềm hắt hủi
- Khói tím buồn
- V́ chiều theo
chân em sang bên kia đồi
- Nụ cười mang
theo
- ...
- Em có biết sau
lúc em từ biệt
- Điếu thuốc
cháy trên môi như người bạn chết
- Hơi nóng khô
nhành củi gẫy tàn... "
- T́nh yêu trong
thơ Thanh Tâm Tuyền cho tôi cảm nhận rằng nó không mang giới hạn của t́nh
yêu đôi lứa, t́nh yêu mến thiên nhiên mà c̣n bao trùm cả t́nh yêu giữa con
người và con người, t́nh đồng loại bị trói buộc bởi gông cùm của sự đàn
áp, bất công và tủi nhục…, và nhiều ư tưởng rất nhân bản. Bởi lẽ tất cả
mọi thứ t́nh yêu đều thuộc phạm trù trừu tượng, bởi con người, v́ con
người và cho con người:
- "Một người da
đen một khúc hát đen
- Bầu trời đen
sâu không cùng
- Những ḍng
nước mắt
-
- Xé nát thân
thể bằng tiếng kèn đồng
- Bằng giọng của
máu của tủy của hồn bắt đầu ngày tháng
- Giữa rừng
không lời rừng măi trống không…"
- (bài "Đen",
Thanh Tâm Tuyền)
- Trong phần bài
viết "Nỗi Buồn Trong Thơ Hôm Nay" của Thanh Tâm Tuyền, ông đề cập về thơ
mới. Ông viết vào năm 1955 khi chưa đầy 20 tuổi: "...thơ hôm nay không
hoàn toàn về h́nh thức tự do của nó. Thơ không vần, không điệu, thơ suôi
nếu quả thật là thơ - nghĩa là đạt được đến ngôn ngữ mầu nhiệm, không chỉ
chuyên chở ư tưởng mà c̣n ám ảnh vang vọng măi trong tâm hồn - th́ sớm
muộn ǵ người đọc cũng t́m thấy và quen dần với một thứ nhịp điệu rộng răi
phức tạp ở một tŕnh độ nghệ thuật cao hơn đối với thứ nhịp điệu đơn giản
rút gọn... Tôi thường nghe người ta nói "thơ mới" là một cuộc cách mạng
trong thơ Việt Nam. Sự thực "thơ mới” chỉ là sự biến dạng của "thơ cũ" mà
thôi, trong "thơ mới" cái tâm hồn người thi nhân của quá khứ vẫn c̣n được
lưu truyền."
- Đó là lời của
Thanh Tâm Tuyền c̣n in trên giấy trắng về "thơ mới", mà ông là một trong
những thi sĩ tiên phong khai phá, phiêu du vào cánh đồng thơ mới. Trong
bài ông đề cập đến nhà thơ thân hữu Quách Thoại, một trong những nhà thơ
sáng tác thơ mới tuyệt vời. Ông c̣n đề cập triết gia Nietzsche khi phê
b́nh vở bi kịch Hy Lạp qua hai xu hướng nghệ thuật Dionysos khác hẳn với
quan niệm Apollon, v́ "nghệ thuật phá vỡ những h́nh thức sẵn có hỗn loạn
trong những niềm cảm xúc, một nghệ thuật của say sưa, một vẻ đẹp hăi hùng
mọi rợ, nghệ thuật bắt nguồn từ một nhân sinh quan bi thảm".
- V́ theo
Nietzsche th́ bản thể của con người vốn bắt nguồn từ sức mạnh tăm tối vô
biên của thiên nhiên, để có sức sống đam mê mộc mạc, nhưng mặt trái lại
con người có lư trí suy tư, cũng muốn khắc phục lối sống đam mê của ḿnh.
Chính v́ con người bị dằn co bởi hai yếu tố như vậy, nên con người thường
có tâm trạng xâu xé trong nỗi hăi hùng. Nietzsche đem vào lập luận ḿnh
bằng hai biểu tượng đối nghịch nhau là hai vị thần cổ Hy lạp là thần
Dionysos và Apollon. Thần Dionysos mang bản năng đam mê của con người có
khuynh hướng quay về ḥa ḿnh với bể sống bao la của vũ trụ, để đạt tới
trạng thái thực tại vĩnh hằng và quyền năng siêu việt. Trong khi đó thần
Apollon tượng trưng cho lư trí có khả năng phân biệt để diễn tả thành sự
kiện minh bạch rỏ ràng và để rồi chính v́ vậy đă tạo ra một cuộc sống luân
lư xa ĺa bản thể thiên nhiên của thần Dionysos, để rồi thấy ḿnh hiện
sinh cô độc trong vũ trụ vô nghĩa. Nietzsche dùng ẩn ư phá bỏ nền luân lư
duy thần để xây dựng một nền luân lư siêu nhân, đưa con người vượt lên
khỏi tâm trạng an phận mềm yếu tạo tâm thức lệ thuộc vào thần linh để tự
tạo một cuộc hiện sinh tuyệt đối bằng những ư tưởng hăi hùng và vô nghĩa.
Những người bạn thân biết Thanh Tâm Tuyền cho là ông rất mê triết học. Là
thi sĩ như Nguyên Sa làm thơ cho hiền nội Thúy Nga th́ Thanh Tâm Tuyền
cũng tặng thơ cho người bạn tri kỷ của ḿnh, Liên. Đoạn cuối ông buông
ḍng chữ tôi cho là rất dễ thương: "Có phải thế không Liên?”.
- «Những giấc
ngủ xiềng xích
- Cuộc lưu đày
thêm xa
- Tôi trốn về
lẩn lút
- Đất đai không
t́m ra
- Đâu cũng toàn
quỷ sứ
- Riễu cợt tôi
ngây ngô...
- Chúng tước lấy
tiếng nói
- Giam tôi trong
bóng tối.
- Tôi khóc không
ra lời
- Và tôi đi lang
thang
- Tôi đi t́m
tiếng nói
- Cho cổ họng
của tôi»
-
(“Liên-Đêm-Mặt trời t́m thấy”)
- Đọc thơ Thanh
Tâm Tuyền, ta đi vào những thiên đường của dĩ văng, của hoài niệm và kư
ức. Thơ ông có lúc là tiếng gọi của nhịp tim yêu thương gơ vào kư ức đă
qua. Ông quả thật là mang tâm hồn thi sĩ đa t́nh, mẫn cảm. Ḍng thơ của
ông đem đến cho ta muôn vàn cảm xúc giản dị và gần gũi. Như André Breton
đă từng định nghĩa: “tính cách siêu thực là cái tính cách tự động thuần
túy xét trên mặt tâm linh, qua đó, nó được diễn tả ra hết sức rơ ràng -
bằng chữ viết, hoặc bằng bất cứ một thể thái nào khác - cái tiến tŕnh tư
duy thật sự của con người. Đây là tiếng nói của bất cứ một h́nh thái thẩm
mỹ hay đạo đức nào.”, và ḍng thơ của ông cũng là ḍng thơ trí tuệ mang
nhiều màu sắc như những bức tranh trừu tượng. Bút pháp của ông với cung
cách khai phá chữ nghĩa và nghệ thuật tương phản như những đường nét họa
tài t́nh của Picasso kích thích ḷng hiếu kỳ của người xem khiến cho họ
phải tự đi t́m ṭi nội dung mà tác giả muốn diễn đạt. Thơ ông mang nhiều
nhạc tính tuy rằng thể thơ tự do của ông không bị g̣ bó trong vần điệu như
các thể thơ nho học, cổ văn. Xét cho cùng nhà thơ Thanh Tâm Tuyền đă cống
hiến cho nền văn học Việt Nam những ḍng thơ tràn ắp thi vị thi ảnh, được
viết lên từ những khát vọng của tự do, từ những cái nh́n linh cảm về những
chặng đường của cuộc đời mà ông đă đi qua, như Musset đă nói:
- «Đó là tiếng
nói và hơi thở của trái tim
- Đang rung động
qua những ḍng thơ văn»
-
- (C’est le
coeur qui parle et qui soupire
- Lorsque la
main écrit, c’est le coeur qui se fond)
- (A.Musset)
- Vào tháng
12-1956, Thanh Tâm Tuyền qua bài thơ mang tên “Nhịp Ba” đă nêu lên ḷng
ước muốn lúc nào cũng nóng bỏng trong tâm tư thầm kín của ông, đó là ước
muốn sao cho đất nước sớm được thống nhất tự do. Xin xét đến bài thơ “Nhịp
Ba” của Thanh Tâm Tuyền viết tặng nhà văn Doăn Quốc Sỹ như sau:
- Nhịp Ba
- (Tặng Doăn
Quốc Sỹ)
-
- «Ngực anh
thủng lỗ đạn tṛn
- Lưỡi lê thấu
phổi
- Tim c̣n nhảy
đập
- Nhịp ba nhịp
ba nhịp ba
- T́nh yêu, tự
do măi măi
- ...
- Nhịp ba, nhịp
ba, nhịp ba
- T́nh yêu, tự
do, măi măi
- Sóng bồi phù
sa
- Ruộng lúa trổ
hoa
- Núi cao uốn
cây rừng
- Nhịp ba, nhịp
ba, nhịp ba
- T́nh yêu tự do
măi măi
- Đất nước ào vỗ
nhịp
- Triều biển
chập chùng
- Hà Nội, Huế,
Sàig̣n
- Ôm nhau nức nở
- ...
- T́nh yêu tự do
măi măi
- T́nh yêu tự do
- măi măi anh
ơi”
-
- Doăn Quốc Sỹ
và Thanh Tâm Tuyền gặp nhau trong văn chương, hai ông chia sẻ những ngày
sinh hoạt văn học trong nhóm Sáng Tạo, hai ông cũng chia sẻ nỗi thao thức
quê hương và hai ông đă chia chung định mệnh của những năm tháng tù đầy
của chế độ Cộng Sản. Nhà văn Doăn Quốc Sỹ trong bài diễn văn tiễn đưa nhà
thơ Thanh Tâm Tuyền trong buổi Lễ Tưởng Niệm “Dạ Tâm Khúc” tại Houston,
ông nói:
- "Thanh Tâm
Tuyền! Chắc hẳn anh c̣n nhớ vào năm 1956 – cách đây đúng nửa thế kỷ - khi
tập truyện cổ tích “Sợ Lửa” của tôi ấn hành lần đầu, ông bạn Nguyễn Sỹ Tế
của chúng ta viết TỰA và chính anh Thanh Tâm Tuyền là người viết BẠT .
Với tinh thần tri âm tri kỷ, cũng chính anh Thanh Tâm Tuyền qua bài thơ
mang tên “NHỊP BA” đă nêu lên ḷng ước muốn thường xuyên nóng bỏng trong
tâm tư thầm kín của tôi: đó là ước muốn sao cho đất nước sớm được thống
nhất tự do!....
- Anh Thanh Tâm
Tuyền! Những câu thơ mà anh đă tặng thật chân t́nh nên tôi vẫn hằng ghi
nhớ, hôm nay tại chiều Dạ Tâm Khúc tưởng niệm anh, tôi xin được phép vừa
đọc lên để anh, quư vị và các bạn v́ ḷng quư mến anh đă đến đây cùng
thưởng thức, trước khi tôi có lời chào vĩnh biệt anh. Và chúc anh thân
tâm an lạc ở cơi Vĩnh Hằng.". Đó là t́nh bằng hữu, t́nh bạn văn của hai vị
văn hữu đă đóng góp cho vườn văn học Việt Nam những áng văn thơ qua bao
năm rồi.
- Tôi đọc tiếp
Giai phẩm Văn trên tay, tập san văn học này số đặc biệt về nhà thơ mà tôi
đang viết th́ trang 2 có bài b́nh luận văn học khá dài, bài do nữ tác giả
Lê Huy Oanh phân tích thơ Thanh Tâm Tuyền, trong bài "Kư Sự Về Một Chuyến
Đi Kỳ Thú Vào Vùng Rung Cảm", và tôi xin chỉ trích dẫn đoạn của bài viết
mà lời Lê Huy Oanh nhận xét như sau:
- "Thế giới
huyền hoặc của Thánh Kinh, thế giới đầy nhục cảm của Beaudelaire, hoặc của
Anna de Noailles. Thế giới say sưa đầy mộng, đầy mơ của Verlaine hay
Gerard de Nerval. Tâm hồn tôi miên man rung động với những cảnh trí giầu
sang kỳ diệu như thế. Đầu óc tôi ngất ngây, say đắm nhưng thuật t́nh chưa
hề bàng hoàng, kinh ngạc. Cho tới lúc tôi đọc thơ Thanh Tâm Tuyền...
-
- "Tại sao em
thích gọi tên hoa
- nào ngày mai
của chúng ta buông từng cành
- xuống vai trần
- viền cỏ
- bồng tóc nâu
- em sẽ gọi tên
anh
- mùa hoa hôm
nay..."
- (bài Hoa,
thi tập "Tôi Không C̣n Cô Độc", Thanh Tâm Tuyền)
- Mắt tôi theo
dơi thật chăm chú, môi tôi mấp máy đọc thong thả:
- "Tôi biết
những người khóc lẻ loi
- không nguôi
một phút
- những người
khóc lệ không rơi vào tim ḿnh
- em biết không
- lệ là những
viên đá xanh
- tim rũ
rượi..."
- (Lệ Đá
Xanh, Thanh Tâm Tuyền)"
- Để rồi nhà văn Lê Huy Oanh đi đến kết luận sau những gịng văn dẫn chứng dài trong bài
viết:
- "Có thể thơ
Tuyền chứa đựng cả những cái hay nhất và những cái dở nhất, nhưng điều đó
có hề chi, tôi có thể giải quyết dễ dàng điều đó bằng cách quên đi những
cái dở và chỉ nhớ tới những cái hay. Điều quan trọng là thơ Tuyền đă tạo
được một sinh khí mới trong văn chương Việt, đă truyền được những t́nh cảm
cao quư sang tâm hồn rất đông các bạn trẻ yêu thơ, đà khiến tôi ghét anh
lắm lắm, rồi lại yêu anh thật nhiều, cả t́nh ghét lẫn t́nh yêu đều là
những hành trang tư tưởng quư báu đối với một kẻ vốn ham thích văn chương
như tôi; thơ Tuyền đă là một động lực thúc đẩy tôi, đă đưa tôi vào một
cuộc phiêu lưu kỳ diệu để tới thăm những vùng mới khai phá của tâm linh và
nghệ thuật. Trong cuộc phiêu lưu ấy tôi đă gặp những người bạn thật giầu
t́nh cảm, rất yêu đời, rất ham sống, rất công b́nh trong phạm vi nhân sinh
quan riêng của ḿnh và nhất là giầu t́nh thương, giầu ḷng bác ái, rất mực
thiết tha với những chân lư cần thiết cho nghệ thuật và tư tưởng xác thực
của con người."
-
oOo
- Tôi xin mượn
lời nhận xét của nhà văn Lê Huy Oanh để kết thúc bài viết trong tinh thần
tri ân nhà thơ Thanh Tâm Tuyền. Việt Hải xin cám ơn những chuyện kể, những
bài viết, những ư kiến của các nhà văn Doăn Quốc Sỹ, Tạ Xuân Thạc, Trần
Thanh Hiệp, Trần Hoài Thư và Trần Anh Dũng để tôi hoàn tất bài viết này.
-
-
Trần Việt Hải
-
______________________________________________________________________
-
- (*) : Về mặt
tư tưởng, Malraux ở trong một vị thế đứng trung dung giữa những mơ mộng
hào phóng của Albert Camus và thế giới thanh thản ḥa hợp của Antoine de
Saint Exupery, tác giả của Le Petit Prince (1943). Cũng như Camus và St
Exupéry, Malraux coi sự cao thượng của linh hồn truyền ư nghĩa cho thân
phận khốn khổ của con người.
|
| |
|