|
| |
-
-
-
Mấy ư nghĩ khi đọc "Thơ Tù"
-
của Hòa Thượng Thích Quảng Độ
-
Thi Vũ
-
-
-
Vào đúng 12
giờ trưa ngày thứ Bảy, 4 tháng 11-2006,
Lễ trao
giải Nhân quyền Quốc tế Rafto 2006 cho Ḥa thượng Thích Quảng Độ
cử hành trang trọng tại Hí viện Quốc gia ở thành phố Bergen, Na Uy. Bergen là
cố đô nước Na Uy vào đầu thế kỷ XI, đến giữa thế kỷ XIV mới dời về Oslo là thủ
đô hiện tại
-
Dưới sự
chứng minh của ông Thorbjom Jagland, Chủ tịch Quốc Hội Na Uy (theo hệ thống
chính trị Na Uy, chủ tịch Quốc hội đứng hàng quan trọng thứ hai sau Nhà Vua)
và ông Herman Friele, Đô trưởng thành phố Bergen.

-
Đông đảo
chính giới, đại biểu quốc hội, nhân sĩ, trí thức, văn nghệ sĩ và nhân dân Na
Uy tham dự buổi lễ trao giải. Đặc biệt là sự có mặt của 11 vị đoạt Giải Rafto
trong quá khứ, trong số này có bà Shirin Ebadi, người Iran, Giải Nobel Ḥa
b́nh, và hai bà Leyla Zana, người Kurdistan, bà Rebiya Kadeer, người Uighur,
vừa mới được trả tự do. V́ lư do sức khỏe hoặc c̣n bị tù đày 8 người kia không
đến được.
-
Có nhiều
đồng bào người Việt cư ngụ thành phố hoặc đến từ các tỉnh xa tham dự ngồi chật
Hí viện cho thấy sự quan tâm của nhân dân Na Uy đối với Ḥa thượng Thích Quảng
Độ nói riêng và Việt Nam nói chung.
-
Sự hiện
diện của chư Tăng thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất tại Châu Âu:
Ḥa thượng Thích Minh Tâm, Ḥa thượng Thích Trí Minh, Ḥa thượng Thích Tánh
Thiệt và Thượng tọa Thích Giác Thanh, và hai Thượng tọa Thích Viên Lư và Thích
Giác Đẳng đến từ Hoa Kỳ, đại diện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất Hải
ngoại tại Hoa Kỳ - Văn pḥng II Viện Hóa Đạo…
-
Ông Arne
Lynngård, Chủ tịch Sáng hội Rafto lên sân khấu đọc bài diễn văn tán thán Ḥa
thượng Thích Quảng Độ, nhận định t́nh h́nh Việt Nam, cũng như nói lên ư nghĩa
của Giải Rafto 2006, cũng là năm kỷ niệm lần thứ 20 Giải Rafto.
-
Trong bài
diễn văn của ông
Arne Lijedahl Lynngård, Chủ TỊch Hội Đồng Sáng Hội Rafto đã bày tỏ:
-
"Thật xứng
đáng khi Hội đồng Sáng hội Rafto chọn trao Giải Tưởng niệm Giáo sư Thorolf
Rafto năm 2006 cho một trong những người Việt Nam bảo vệ dân chủ, tự do tôn
giáo và nhân quyền lỗi lạc nhất, là Ḥa thượng Thích Quảng Độ… Ḥa thượng
Thích Quảng Độ, một sĩ phu lănh đạo và là thế lực kết hợp nơi quê hương ngài.
Là một Tăng sĩ Phật giáo, học giả và nhà văn, Ḥa thượng đem suốt đời ḿnh
phục vụ tận tụy cho công lư thăng tiến, cũng như tiếp nối truyền thống Phật
Giáo bất bạo động, khoan dung và từ bi…
-
… Ḥa
thượng Thích Quảng Độ luôn luôn nhấn mạnh rằng, dân chủ chỉ thực hiện được tại
Việt Nam khi tất cả các thành phần dân tộc kết hợp thành khối, đem tất cả tài
năng riêng biệt, khả năng chuyên môn, kiến thức và nhiệt t́nh kết liên nhau
trong một phong trào đầy sinh lực.
-
… Bằng cách
tôn vinh Giải Rafto lần thứ 20 cho Ḥa thượng Thích Quảng Độ, chúng tôi đánh
giá cao những khó khăn cực kỳ rộng lớn mà các nhà hoạt động dân chủ Việt Nam
đang đối diện, với quyết tâm đấu tranh ôn ḥa nhằm thay thế chế độ độc đảng
Cộng Sản bằng một thể chế dân chủ, một nhà nước đa đảng xây dựng trên pháp
quyền và tuân thủ các tiêu chuẩn nhân quyền quốc tế. Chúng tôi biết rằng các
nhà dân chủ Việt Nam đang đối diện với hiểm nguy bị nhà cầm quyền đàn áp.
Nhưng chúng tôi kỳ vọng rằng mỗi dấu hiệu đoàn kết tương liên là một hậu thuẫn
và củng cố cho các nhà dân chủ này.
-
-
-
Mấy ư nghĩ khi đọc
"Thơ Tù" của Hòa Thượng Thích Quảng Độ
-
-
Ngục thất dầu sôi
thành cam lộ
-
Lao tù lửa bỏng hóa
hồng liên
-
Thích Quảng Độ
-
-
Đêm ngày tôi dạy cái thằng tôi
-
Đạo pháp suy vi: bởi lẽ trời
-
Thấy kẻ phá chùa: khoanh tay
đứng
-
Nh́n người đập tượng: nhắm mắt
ngồi
-
Bắt bớ Tăng Ni: thây mẹ nó
-
Giam cầm Phật tử: mặc cha đời
-
Miễn được yên thân là khôn đấy
-
Can chi ậm oẹ để
thiệt tḥi
-
Thích Quảng Độ
-
-
1
-
Hai tập Thơ
trong tù và Thơ lưu đày in chung trong Thơ tù là những bài
thơ c̣n sót lại nơi trí nhớ trong số 400 bài sáng tác thời kỳ Ḥa thượng Thích
Quảng Độ bị giam nhốt ở Sài Gòn và giai đoạn lưu đày tại xă Vũ Đoài, tỉnh
Thái B́nh, miền Bắc, từ 1977 đến 1992.
Lần đầu tiên hôm nay
ra mắt bạn đọc. Tuy nhiên thơ của Ḥa thượng th́ đă luân lưu trên môi từ quốc
nội ra tới hải ngoại. Những bài thuyết pháp của Ḥa thượng tại Thanh Minh
Thiền viện hay chùa Ấn Quang sau năm 1975, thường có thơ chen vào. Chẳng ai
ghi chép, chẳng ai ấn hành, thế mà sao từ các trại tị nạn Đông Nam Á ra tới
năm châu, đi tới đâu tôi cũng nghe có người đọc thuộc ḷng thơ Thích Quảng Độ.
Phải chăng thơ truyền khẩu là thơ hay nhất ? Không hay sao người ta nhớ ? Hoặc
thơ hợp ḷng người nên thấm đẫm t́nh người và được người ghi tâm ?
-
Thế th́ chữ "hay"
khi khen thơ hay đă vượt lướt tính cách mỹ học để đạt cái thật của trời đất.
Ít ai bảo hoa hay, trời hay, mây hay, rừng hay, núi hay, chim hay... phải
không nào ? Người ta chỉ nói hoa tươi, trời xanh, mây trắng, rừng hùng vĩ, núi
cao, chim ríu rít... Những tính từ tươi, xanh, trắng, hùng vĩ, cao, ríu rít...
đánh mất tính cách quy phạm trường ốc hay phê b́nh thẩm mỹ. Những tính từ ấy
đột xuất góp vào sự sống bao la, vạm vỡ, mầu nhiệm. Nó là cái thật biến h́nh
qua cái lành ngậm trong cái đẹp.
-
Thơ đến giữa đời làm
nên sự sống.
-
Mấy chục năm qua có
thứ chủ nghĩa lan tràn và quản giáo văn học gọi là hiện thực chủ nghĩa. V́ hám
bám vào hiện thực c̣n ở nơi tương lai xa lắc, nên đoàn lớp văn nghệ sĩ theo
trường phái này vừa đánh mất thực tại trước mắt, vừa đánh mất một sự thực nằm
bên ngoài thực tại họ miêu tả. Đa số trong họ không biết rằng con người sống
và nghĩ theo h́nh ảnh và sức tưởng tượng, c̣n thực tại họ chung đụng và nếp lư
trí họ khuôn theo chưa bao hàm con người toàn vẹn. Giữa hư tưởng và các thực
tại xă hội, kinh tế, văn hóa, chính trị, ai dám bảo cái nào thật cái nào giả.
Các viễn kiến tôn giáo, h́nh ảnh thần linh, thượng đế, thiên đàng, địa ngục,
thế giới bên kia... tuy hư tưởng như người ta bảo, nhưng lại quan yếu và thực
hữu để định nghĩa và t́m hiểu thực tại xă hội qua các thời đại.
-
Làm sao quan sát và
t́m hiểu một thời đại ? Y cứ vào chủ nghĩa hiện thực như khuôn vàng thước ngọc
? Hay quy chiếu theo lối sống, lối suy nghĩ, lối cảm nhận và mơ tưởng của con
người ? Bởi vậy, hư tưởng cũng là một thực tại, và thực tại của hư tưởng khác
với thực tại của ư thức hệ. Hư tưởng đi qua t́nh vượt thức vào
cơi trí
[1]. Ư thức
hệ nhốt tù sáu thức vào tự ngă độc tôn.
-
Cho nên, lịch sử là
nghệ thuật của những lần thử lửa. Các tác phẩm nghệ thuật và thi văn trở thành
cơ bản để hiểu, nhằm tương kính, tương thuận, tương sinh với con người. Chữ
hiểu trong các từ ngữ Tây phương là nắm lấy tay nhau mà đi, nếu không là đứng
nh́n từ xa rồi với lấy (com-prendre, under-stand, ver-stehen...).
-
2
-
Khi một nhà tu Phật
giáo làm thơ, người ta nghĩ ngay đến thơ thiền. Đánh giá như thế, tuy làm siêu
thoát thơ nhưng đồng thời hạn chế trời thơ bát ngát.
-
Thơ thiền là thơ ǵ
?
-
Do truyền thống bất
lập văn tự của thiền, chẳng ai dám định nghĩa. Nhưng đa số các nhà b́nh luận
thường quy chiếu thơ thiền theo ngôn ngữ thi ca thời Lư, thời Trần hay những
thơ trích dẫn trong năm bộ Đăng lục đời Tống
[2]. Nghĩa
là thơ mang màu sắc siêu thoát ẩn tàng sau phong, hoa, tuyết, nguyệt, chim,
rừng, trúc, suối... lung linh biểu tượng, hoặc thuần vị chùa chiền, chuông mơ,
thoát tục... Thiếu các yếu tố ấy sẽ bị chê không phải thơ thiền, như Lư Tử
Tấn, Lê Qúy Đôn từng hạ bút "thơ hay nhưng không giống khẩu khí nhà sư",
"khẩu khí thiền sư" - "Thi tuy giai phi tăng gia ngữ". Các ngài có
biết đâu khẩu khí vốn tự nó là một phạm trù, một giới hạn, chưa đạt cái toàn
thể.
-
Vậy thơ thiền là ǵ
? Thơ tù của Ḥa thượng Thích Quảng Độ có là thơ thiền không ?
-
Trả lời là định
nghĩa, mà định nghĩa tất xa ĺa thiền. Thiền vượt mọi giả danh để sống thực.
Con mắt nó quay vào đâu, sự vật được chiếu sáng, t́nh cảm được trân ái. Thơ
thiền không chỉ là kệ truyền pháp hay ḍng thơ đạo lư, càng không phải bản báo
cáo vượt chỉ tiêu hay bày tỏ quan điểm, lập trường. Ḥa thượng từng đề cập tới
cảnh thiền này:
-
Đối đầu trực diện
từng giờ
-
Cuộc đời là một bài
thơ tuyệt vời
-
Cảnh Thiền trước mắt
người ơi
-
Đi t́m chẳng thấy
trông vời càng xa
-
Cảnh Thiền, tr.
153
-
Thơ thiền bát
ngát lung linh nơi mọi góc độ sinh hoạt trần gian theo những tấm ḷng thiền
rưng cảm. Phải có một tấm ḷng thiền, thơ thiền mới hiển hiện. Cũng
vậy, phải có một tấm ḷng thiền mới khám phá ra thơ thiền khi đọc thơ.
-
Người có tâm
thiền làm thơ, là sống cái tự do trước những điều bức tử nhân sinh. Trước
thịnh suy không rúng động. Trước sống chết không sợ hăi: Thơ nắn ra nụ cười tự
do phơi phới trên môi ngôn ngữ. Cảnh thơ là lư sống. Bài thơ là món quà truyền
tâm.
-
Mặt khác, văn học
luôn sáng tạo, cách tân, chuyển hóa. Văn học Phật giáo luân sinh chứ
không luân hồi. Cho nên đọc thơ ngày nay chớ đem so chiếu với thơ mươi thế kỷ
trước, th́ mới bắt được mạch ngầm thiền vị trong sự sống vô biên hiện tại. Vô
biên th́ không có trung tâm điểm, chỗ nào cũng là trung tâm.
-
Cuộc sống, cảnh
quan, thế giới ở các thế kỷ thứ XI, XII rất khác với ngày nay. Thời ấy, người
ta treo ấn từ quan hay để cư tang cha mẹ là chuyện thường và dễ. Thời ấy vào
núi tu tiên, đánh cờ, uống rượu, hay về vườn trồng cúc không là chuyện khó.
Nhưng ngày nay, lao động và xưởng thợ lấn át các rừng tùng, xa lộ chồng chéo,
xă hội nông nghiệp vác cày đi vào xă hội tiêu thụ. Thiên nhiên, cây cỏ đóng
hộp trong các chung cư. Chính trường không chỉ có một diễn viên Vua - vua
hiền hay vua ác - mà thay bằng cỗ máy độc tài, phát xít, nghiến nát dân lành.
Nên ngôn ngữ, h́nh ảnh và t́nh ư thi ca hẳn phải khác.
-
3
-
Làm thơ
là viết.
Viết là lên đường.
-
Lên đường là truyền
thống Phật giáo từ thời Đức Phật c̣n tại thế. Tăng sĩ là người không lập gia
đ́nh, không nhà cửa, măi măi lên đường... Đến thăm núi Linh Thứu (Gijjhakùta)
với các hang động trú ẩn lúc đêm về ở ngoài thành Vương Xá (Rajir), mới hiểu
hết ư nghĩa của sự lên đường ba ngh́n năm trước, mà hiện nay lắm khi tha hóa
thành lên giường ngủ kỹ.
-
Lên đường để tự giác
và hoằng hóa muôn loài. Người lên đường là người của tất cả, thoát ly
người-của-chính-ḿnh (tự ngă) hay
người-của-một-gia-đ́nh-một-triều-đại-một-bè-phái (đại ngă).
-
Thế mà ngày nay, một
cao tăng như Ḥa thượng Thích Quảng Độ, bị cấm không được lên đường, chồn chân
nơi cảnh tù đày, quản chế.
-
Lịch sử mấy ngh́n
năm Việt Nam, chưa thời đại nào Tăng sĩ bị tù đông như dưới triều đại Xă hội
chủ nghĩa. Vào thời Lư, năm 1069, vua Lư Thánh Tôn đi đánh Chiêm Thành bắt vua
Chế Củ và nhiều dân, lính làm tù binh đưa về Thăng Long. Trong số tù binh có
một Tăng sĩ Phật giáo. T́nh cờ được phát hiện, triều đ́nh liền trọng dụng. Nhà
sư trở thành vị tổ của một trong năm ḍng Thiền Việt Nam: Thiền sư Thảo Đường.
Thời Pháp thuộc, có số Tăng sĩ bị tù đày v́ những vận động cho chủ quyền đất
nước và bản sắc dân tộc. Nhưng không nhiều. Chùa chiền vẫn là chốn thanh tịnh,
lắm khi là nơi che chở, nơi đào tẩu, ẩn náu cho những nhà yêu nước thương ṇi.
Nhớ lại thời đó, những bài thơ tù thời đó, thường là của các nhà Nho, như
Thi tù tùng thoại của Cụ Huỳnh là một. C̣n ngày nay, không chỉ người dân
thường bị lùa vào các Trại tập trung Cải tạo, mà những đạo sư, bậc cao tăng
cũng bị bắt đi. Số Tăng Ni bị áp bức, tù đày, quản chế tính tới số ngh́n, giới
nam nữ cư sĩ Phật tử tính tới số triệu.
-
Trong bối cảnh ấy,
thơ tù thuộc giới Tăng sĩ, Phật tử nhiều vô kể. Tập Thơ Tù của Ḥa
thượng Thích Quảng Độ nằm trong tay bạn đọc hôm nay là một trong những biểu
hiện kỷ nguyên tù đày dân tộc.
-
Từ những thước đất,
pḥng giam câm nín, từ các loa phóng thanh lạc điệu tiếng người phát vang ra
rả, Thơ bật dậy bằng âm thanh hải triều, vỗ về con tim và ǵn giữ trí nhớ.
-
-
4
-
Dưới các triều đại
bạo ác, tù ngục biểu trưng sự hà khắc, bức hiếp. Kỷ nguyên tù Việt Nam ngày
nay vượt xa lằn ranh tàn bạo, trở thành cuộc diệt chủng văn hóa và đạo đức. Vị
thế người bị đẩy xuống tầng đáy hạ nhân, súc vật, ngạ qủy. Người đâu c̣n là
người khi mất tiếng nói ? Người đâu c̣n là người khi hết được độc lập suy tư ?
Lạ thay, ở nơi sơn cùng thủy tận lặng câm ma quái ấy, Thơ hiện lên như một
niềm hy vọng.
-
Ai bảo chỉ có bạo
lực và vũ khí mới thay đổi được thời cơ, quyền chính ? Không đâu. Thơ cải tử
hoàn sinh. Thơ mang lại cái thật, cái lành, cái đẹp cho con người. Truyện thơ
"Ngh́n lẻ một đêm" là bằng chứng thơ văn cải tử hoàn sinh, thơ văn phá
án tử h́nh: Vua Shâhriyâr v́ hờn thù người vợ bạc t́nh đă giết hết phụ nữ sau
mỗi đêm chăn gối. Nhưng đến phiên nàng Shahrâzâd, người kể chuyện tài ba vừa
hấp dẫn vừa sáng tạo, vua say đắm lắng nghe và hồi hộp đợi chờ câu chuyện thi
vị chẳng chịu kết thúc lúc đêm tàn. Đành chờ nàng kể tiếp đêm này qua đêm khác
suốt ba năm ṛng !
-
Đêm mở ra Ngày.
-
Ngày liên giao sự
Sống. Đẩy cái chết như xua hoàng hôn tới chân mây b́nh minh. Một-ngh́n-lẻ-một
đêm truyện thơ đă cứu sống một-ngh́n-lẻ-một án hành quyết phụ nữ dưới tay bạo
chúa.
-
Bạo lực chỉ chiếm
đất, không chinh phục ḷng người như thơ văn.
-
-
5
-
Thơ là tồn tại
người. Từ người, cỏ cây, hoa lá, chim chóc, sinh linh, vũ trụ sống dậy mỹ miều
trong cái thật, cái lành, cái đẹp. Thơ không tải đạo, v́ đạo tải thơ, rồi thơ
quán đạo. Thơ là mùa màng con tim, khí hậu tâm hồn. Ở thời đại sắt và máu nơi
xă hội Việt Nam phần tư cuối thế kỷ XX, khí hậu thơ Ḥa thượng Thích Quảng Độ
là khí hậu
-
Lao tù đâu thể nhiễm
ô tâm này
-
Tự thuật, tr. 39
-
Sắt, máu, nhà tù
kinh hăi đến thế, song với thơ mà cũng là nhà thiền, th́:
-
Cửa sắt xà lim ngăn
gió lại
-
Sợ làm tan vỡ cuộc
chiêm bao
-
Ai gọi, tr. 84
-
Xem chiêm bao thực
hơn thực tại ư ? Không đâu. Chiêm bao hay thực tại đều chung cùng một giấc
"mộng trung chi mộng" đó thôi. Tất cả biến dạng như bọt bóng giữa mùi thiền:
-
Ngục thất dầu sôi
thành cam lộ
-
Lao tù lửa bỏng hóa
hồng liên
-
Mùi thiền, tr. 79
-
Mùi thiền giữa tù
ngục là thế, c̣n mắt thiền thấy chi ?
-
Qua kẽ xà lim chỉ
mấy ly
-
Nh́n ánh triêu
dương thật diệu kỳ
-
Thế giới ba ngh́n
đang chuyển động
-
Trong từng mảy
bụi nhỏ vi ti
-
Vô thường, tr. 71
-
Tù xuân như chợ
giữa trần gian
-
họp mặt đông vui
đủ khách hàng
-
cụ già sù sụ ho
gịn giă
-
con nít oe oe
khóc nhịp nhàng
-
Xuân cảm, tr. 93
-
Con nít khóc là
điều mới lạ giữa trần gian tù, ít thấy đâu ngoài Cộng ḥa Xă hội Chủ nghĩa
Việt Nam và các trại tập trung Đức quốc xă. Nhà thơ Thích Quảng Độ thường lắng
nghe tiếng con nít khóc trong tù. Bài thơ "Đêm mưa nghe trẻ khóc", tr. 59,
là sự động tâm về hiện trạng lạ lùng này: con nít cũng ở tù. Nếu không có lời
chú dưới bài thơ - Mẹ bé đi vượt biên bị bắt và sinh bé trong tù -,
nếu người thơ không bị chế độ nhốt tù, th́ toàn bài trở thành một bài ca tụng
"Bác". Thế nhưng 4 chữ "Tại sao bé khóc" đánh đổ cả 324 chữ đọc nghe
như thơ tô hồng chế độ. Nhà tù ấy trở thành nhà mồ, không chỉ chôn
người lớn và trẻ nít, mà từ trong ra ngoài nhà tù, chế độ giam nhốt cả Miền
Nam, một miền Nam biểu trưng cho ư lực tự do hơn là một vùng địa lư:
-
Đây là miền Nam
trong căn pḥng giam chật hẹp âm u
-
Ngoài kia là miền
Nam trong một nhà tù rộng lớn
-
...
-
toàn khu nhà tù
ch́m vào yên lặng
-
yên lặng như nấm
mồ hoang vắng
-
giữa miền cát
trắng bao la
-
và nằm trong căn
nhà mồ
-
tôi không thấy ǵ
nữa cả
-
trừ những bóng ma
-
vai mang khẩu súng
AK
-
thỉnh thoảng chập
chờn qua gang cửa gió
-
Trời đă sáng, tr. 61
-
Miền Nam như một ư
lực tự do chứ không là đất đai địa lư phân biệt với miền Bắc. Dù thân tại tù
ngoài Bắc, nhưng tác giả vẫn thấy và mến yêu phong cảnh xứ Bắc như bộ phận
không ĺa với toàn cảnh quê chung. Mỹ miều làm sao cảnh chiều quê đất Bắc:
-
Lúa vàng ngủ dưới
bóng chiều
-
Lưng trời văng vẳng
sáo diều xa đưa
-
Buồm mây t́m về bến
mơ
-
Vài con chim lạc bơ
vơ gọi đàn
-
Mái tranh khói quyện
đầu làng
-
Ḍng sông uốn khúc
qua hàng thùy dương
-
Bóng ai thơ thẩn bên
đường
-
Trông vời trời biển
bốn phương gửi hồn
-
Chiều, tr. 189
-
Thanh b́nh xiết bao.
Nhưng ai ngờ bao nhiêu tâm sự cháy ḷng gửi gắm vào lúc hoàng hôn ? Thoạt đọc,
ta có ư muốn đề nghị tác giả thay hai chữ "t́m về" trong Buồm mây t́m về
bến mơ bằng chữ "vèo dạt" - Buồm mây vèo dạt bến mơ ? Nhưng chưa
đề xuất đă tự thấy, nhạc điệu tuy đạt song tứ thơ sẽ kẹt lối. V́ sao ? V́
trước cảnh tan đàn lạc nghé sau 1975, kẻ hữu tâm như "Vài con chim lạc bơ
vơ gọi đàn". Chả lẽ với tâm sự của người hữu tâm ưu tư lẽ đạo việc đời,
bản thân chịu cảnh lưu đày, lại có thể trầm đắm giữa Chiều thu thân thiết đến
quên gửi gắm nỗi riêng chung ?
-
"T́m về bến mơ",
là thơ bước đi t́m bến. Bến b́nh an xa tắp. Đạo và Nước c̣n lênh đênh. Cho nên
con người "thơ thẩn bên đường" ấy chẳng ai khác hơn tác giả đang
"trông vời trời biển bốn phương", tức trông cậy vào khối người Việt dân
tộc trên năm châu thế giới. Với khối người này, tác giả thầm kín "gửi hồn":
gửi một Niềm tin son sắt, đợi chờ.
-
V́:
-
Đạo pháp bao trùm
màn ảm đạm
-
Giang sơn phủ kín
lớp màu tang
-
...
-
Thẫn thờ đứng tựa
khung cửa ngục
-
Nh́n bóng xuân sang
mắt lệ tràn
-
Xuân sang, tr. 91
-
Ngày đứng âm thầm
nh́n lá rụng
-
Đêm ngồi lặng lẽ đếm
sao rơi
-
Muốn hỏi tri âm sầu
viễn xứ
-
Tiếng nhạn kêu sương
lạnh cả trời
-
Xuân cảm, tr. 179
-
"Tiếng nhạn kêu
sương lạnh cả trời" gợi nhớ câu thơ đời Lư của thiền sư Không Lộ "Trường khiếu
nhất thanh hàn thái hư" (Hữu th́ trực thượng cô phong đỉnh, Trường khiếu
nhất thanh hàn thái hư
[3])
nhưng lại rất khác giữa hai thời thế.
-
Xưa, đất nước văn
minh, thái b́nh, con người tự tại vô ngại, tự do bước lên đỉnh núi chót vót
gọi lên một tiếng làm lạnh cả hư không. Từ thời gian tu chứng - hữu th́
- đến không gian thức tỉnh - hàn thái hư - sự đột biến
giác ngộ - nhất thanh - chuyển thức cả khái niệm không-thời và thay
đổi tận cùng thế phận con người: Người nô lệ thành người tự do, người vô minh
thành người giác ngộ.
-
Nay, người bị lăng
nhục, bị tù đày, sáu mối hoạt động của ngũ quan và thức giác hạn chế vào lỗ
tai thôi. Dùng lỗ tai môi giới với thế giới mù mịt bên ngoài. Chốc chốc từ đâu
vọng lại tiếng nhạn đơn chiếc, khiến xúc động tâm can và buốt lạnh cơi trời.
Biết đâu "tiếng nhạn" ấy không là tiếng ḷng của tác giả gọi lên bơ vơ
giữa thời đại nhiễu nhương chưa có người đồng thanh tương ứng ? Thời đại mà
t́nh đời đối đăi chỉ biết đem bước chân làm thước đo, đem hoa mà ví:
-
Bước đi nghĩa địa
lan man
-
Chết rồi hay sống
điêu tàn như nhau
-
Mất cả cuộc đời, tr.
188
-
Danh lợi trắng ngần
bông huệ bạch
-
Nhục vinh đỏ thắm
đóa hồng nhung
-
Đắc thất khoe hương
nhành dạ lư
-
Thịnh suy phô sắc
cánh phù dung
-
Tiếng
hồng chung, tr. 78
-
Chí khí và đạo lư
dân tộc th́:
-
Tiếng "quốc"
tiếng "gia" im bặt cả
-
Chỉ nghe tiếng
máy rống ̣ ̣
-
Qua Đèo Ngang,
tr. 133
-
Tây chẳng phải
Tây, Đông chẳng Đông
-
Quỉ quái sinh ra
lũ cuồng ngông
-
Mồ mả tổ tiên cày
xới hết
-
Đ́nh chùa miếu
mạo phá bằng không
-
Ông bà xem nhẹ
hơn con lợn
-
Bố mẹ coi như
khúc gỗ thông
-
Mất gốc, tr.
178
-
Đạo pháp ngày nay
đổ quá rồi
-
Mười người tu học
chục người thôi
-
Chùa hoang cảnh
vắng sư về tục
-
Khói lạnh hương
tàn Phật bỏ rơi
-
Gọi tiểu, tiểu
đâu c̣n mà gọi
-
Kêu di, di cũng
tếch đi rồi
-
Chùa hoang, tr.
220
-
Sư về tục là
chuyện thương tâm, vẫn chưa bi thảm cho bằng Sư chối bỏ truyền thống "bất bái
quân vương", không qụy lụy đặt quyền chính ngang hàng Đức Phật để chấp nhận
đứng gác bên ḥm lănh tụ ở Hà Nội trong bài "Sư Cụ và Đức Cha". Nguyên
năm 1980 ông Tôn Đức Thắng chết, chính quyền đưa một vị lănh đạo Phật giáo
(Nhà nước) và một vị Hồng y Công giáo đứng hầu hai bên quan tài như hai con
trưởng, mỗi khi quan khách đến viếng th́ hai con trưởng chắp tay lạy đáp lễ:
-
Bảy ngày hiếu
phục cái thây ma
-
Thơng thượt Đức
Cha đeo Thập giá
-
Thùng th́nh Sư Cụ
khoác ca-sa
-
...
-
Danh lợi đă lừa
hai cặp mắt
-
Lù lù đống mối
tưởng mồ cha
-
Sư Cụ và Đức Cha,
tr. 218
-
Hoặc lâm cảnh
trái đời:
-
Ḥa thượng thầy
vua trong đời Lư
-
Thiền sư trị nước
thuở triều Trần
-
Ngày nay sự
nghiệp "pḥ Cách mạng"
-
Nhà sư "kiện
tướng đội làm phân" !
-
Kiện tướng đội làm phân, tr. 215
-
Dù bị "Sống
đọa đày như loài thú hai chân" (Trên đường lưu đày, tr. 128) Ḥa thượng
vẫn ung dung, hồn hậu:
-
Sống giữa trần ai
cảnh phũ phàng
-
Con thuyền lướt sóng
cứ hiên ngang
-
Đă tùng đâu sợ
làn sương trắng
-
Là cúc nào kinh
trận gió vàng
-
Tự thuật, tr. 127
-
Thông già đứng
tựa sườn non lớn
-
Gió giật ḥ reo
thổi chẳng xiêu
-
Tự than, tr. 161
-
Qua bao chế độ
lưng vươn thẳng
-
Trải mấy phen tù
lưỡi chẳng cong
-
Tự trào, tr. 205
-
Với tâm không lay
động trước bao nghịch cảnh, th́ khổ đau hay an lạc, tù đày hay tự do... những
cặp đối đăi ấy khoác vai đi vào Tâm vô lượng:
-
Thời gian khoảnh
khắc tại tâm ta
-
Sen nở vừa xong
thấy Phật đà
-
Tâm cực lạc,
tr. 68
-
Ngh́n kiếp tóm
thu thành một kiếp
-
Một h́nh biến
hiện hóa ngh́n h́nh
-
Vịnh Thiền sư
Không Lộ, tr. 169
-
Do sự vật b́nh
đẳng, nên người hay chiếc cầu ao đều có cùng chuyện "nước" phải thương lo:
-
Năm tháng nổi
ch́m chung với nước
-
Cùng nhau chia xẻ
nỗi lao đao
-
Vịnh cái cầu ao,
tr. 174
-
-
6
-
Ngoài những bài
thơ Đạo lung linh huyền diễm, Thơ tù của Ḥa thượng Thích Quảng Độ c̣n đặc sắc
ở những bài trào phúng. Nét châm biếm bén nhọn nhưng không hiểm độc, đùa bỡn
mà không ác, đả kích nhưng phóng khoáng, bất hại. Nó tiếp vận ḍng thơ châm
biếm tài ba của Hồ Xuân Hương, Tú Xương... tuy đẩy lên một chân trời khác. Hồ
Xuân Hương cám cảnh phụ nữ bị chà nghiến trong một xă hội độc đoán, kỳ thị nam
nữ thời thịnh Nho. Tú Xương th́ cười cái nhố nhăng của thời thế, buổi giao
thời xáo trộn nếp sống cổ truyền khi Pháp thuộc cuối thế kỷ XIX sang đầu thế
kỷ XX, giữa một xă hội ông hóa thằng, thằng hóa ông. Tú Xương nói lên bằng
thơ, sĩ khí của các nhà Nho dân tộc, nhưng ông không tham gia vào các động thủ
chống đối, phản kháng qua các phong trào cách mạng đầu thế kỷ XX. Trong phạm
vi h́nh ảnh và hoạt động văn chương châm biếm, Tú Xương cố thủ nơi vùng địa lư
nhất định, là thị trấn Nam Định, mảnh đất chôn nhau cắt rốn của ông.
-
Trái lại đề tài
thơ châm biếm Thích Quảng Độ mang tính thế giới, đối diện với cả một chế độ
bạo ác, hiện thân của chủ nghĩa Hư vô xuyên hành tinh (le Nihilisme
planétaire), là chủ nghĩa Mác Lênin. Chủ nghĩa Hư vô của cộng sản biểu thị sự
phủ nhận của sự phủ nhận (la négation de la négation) đối đầu với chủ nghĩa Tư
bản man rợ (le Capitalisme sauvage) hiện h́nh qua sự xác nhận của sự xác nhận
(l'affirmation de l'affirmation). Cặp đối đầu nhị nguyên và cực đoan này, Vô
và Hữu, h́nh thành ra Hư vô chủ nghĩa tàn phá nhân loại. Đi đến đâu nó tàn phá
tất cả, chẳng trừ ai, nhưng không bao giờ nó dám tàn phá chính nó, là nguyên
nhân của vô minh, độc ác và khổ đau. Tới Việt Nam, chủ nghĩa Hư vô Mác xít
biến nhà tu thành người tù, biến no thành đói, hạnh phúc thành khổ đau, ruộng
lúa thành bo bo, cửa nhà thành ngục thất, con người thành đười ươi, tự do
thành nô lệ, đổi trắng thay đen:
-
Có nói rằng
không, không: khỏi đấm
-
Đen làm ra trắng,
trắng: ngon xôi
-
Cú kêu ta bảo là
oanh hót
-
Cuội gọi th́ thưa:
"Dạ, Bố đ̣i !"
-
Như thế mới là người
khôn đó
-
Đêm ngày tôi dạy cái
thằng tôi
-
-
Đêm ngày tôi dạy cái
thằng tôi
-
Đạo pháp suy vi: bởi
lẽ trời
-
Thấy kẻ phá chùa:
khoanh tay đứng
-
Nh́n người đập
tượng: nhắm mắt ngồi
-
Bắt bớ Tăng Ni: thây
mẹ nó
-
Giam cầm Phật tử:
mặc cha đời
-
Miễn được yên thân
là khôn đấy
-
Can chi ậm oẹ để
thiệt tḥi
-
...
-
Gà khôn giấu mỏ
nên trọn kiếp
-
Khỉ dại khoe răng
mới bỏ đời
-
Sống chết mặc bay
th́ yên phận
-
Cả tàu nhịn cỏ
chắc không xuôi
-
...
-
Tù ngục như ri
cũng sướng rồi
-
Cơm pha hai bữa
xơi vừa đủ
-
Nước lă đôi lần
được nấu sôi
-
Thuốc thang bảo
uống khi trái gió
-
Đường cháo cho ăn
lúc trở trời
-
Nóng có ṿi rồng
tha hồ tắm
-
Buồn th́ vỗ bụng
hát nghêu chơi
-
Buồn th́ vỗ bụng
hát nghêu chơi
-
Trầm bỗng du
dương giọng ốc nhồi
-
Vơ vẽ làm thơ cho
nhớ chữ
-
Tập ṭ ngâm vịnh
để quên đời
-
Liên ngâm dại
khôn, tr. 109
-
Thực tế ở chế độ
Xă hội Chủ nghĩa trại lính này là ǵ ?
-
Không có ǵ quí
hơn cái bánh bao
-
Cái bánh bao, tr.
122
-
Tăng ni trên toàn
miền Bắc
-
đều đă góp phần
tích cực nuôi heo
-
Ngày đầu lưu đày,
tr. 135
-
Không ǵ hơn tự
"ro"
-
Cổng nhà tù mở to
-
Độc "nập" và hạnh
phúc
-
Xà lim tôi nằm co
-
Tiếng Liên Xô "vĩ
đại"
-
Gọi nó là "ca xo"
-
Qúi hơn dồi cḥ, tr.
120
-
Không có ǵ quí hơn
bo bo
-
Đói bụng ngồi nh́n
cũng đủ no
-
Dẻo mềm rền quánh
dường nếp một
-
Ngào ngạt thơm lừng
như cơm tám
-
Ngọt lừ mát rợi tựa
chè kho
-
Lịch sử bốn ngh́n
chừ mới có
-
Hoan hô độc lập và
tự do
-
Bo bo, tr. 116
-
Ngả một con bê
với mẹ ḅ
-
Đầu đuôi chân
cẳng nó nấu xúp
-
Gan ruột phổi
phèo nó bỏ kho
-
Tù ba ngh́n đứa
trong toàn trại
-
Phúc bảy mươi đời
được bữa no
-
Quốc khánh, tr.
114
-
Nhà tù Xă hội ở
lâu
-
Chẳng c̣n ai muốn
về hầu tổ tiên
-
Hát ca nhảy múa
như điên
-
Trần gian hạnh
phúc cơi thiên nào bằng
-
- Anh nào cười
vặn găy răng !
-
Ở tù sướng lắm,
tr. 123
-
Với sự thung dung
của bậc cao tăng, ai bảo ở tù là khổ ? Ở tù sướng lắm chứ:
-
Có ai hơn tớ cái
thung dung
-
Sáng bốn răi
khoai vừa lót dạ
-
Trưa hai lạng gạo
đủ no ḷng
-
Phe phảy mo cau
khi nắng hạ
-
Co ṛ ổ rạ lúc
mưa đông
-
Thung dung, tr. 207
-
Nhưng chả lẽ đời
người chỉ ăn và ngủ thôi ư ? Ăn ǵ ? Ngủ ở đâu ? Trả lời xong, cái châm biếm,
đả kích hiện ra. Làm sao im lặng không đả kích một cộng đồng tráo trở như thế
?
-
Nhà cháy phơi bày
toàn mặt chuột
-
Đ́nh xiêu lộ rơ rặt
đầu dơi
-
Vành tai vênh váo
chồn đắc thế
-
Nghểng cổ nghênh
ngang cáo gặp thời
-
Bức tranh đời, tr.
209
-
Lang sói hiền từ
khoe móng vuốt
-
Cáo chồn ranh mănh
trổ tài hay
-
Trăn rắn dịu dàng
phô đầu lưỡi
-
Đế hoàng nào khác lũ
đười ươi
-
Xem xiếc, tr. 105
-
Đến như đạo lư là bờ
đê ngăn sóng dữ, đời hư. Thế mà nay c̣n ǵ ?
-
Đạo pháp cơ đồ sương
buổi sớm
-
Quỉ ma sự nghiệp
nắng ban trưa
-
Tự trào, tr. 97
-
Trước thời thế
ấy, có số Tăng lữ thể hiện "bản thệ độ sinh" theo đường lối mấy ông nón tai
bèo:
-
Giải khát anh tu
năm ba "xị"
-
"Hồ hởi" anh đưa
"đạo vào đời"
-
Sư tiến bộ, tr.
99
-
Hai bài "Gửi
Sư Bà nghiện rượu", tr. 221, và "Gửi Sư Cụ đảng viên", tr.222, nói
lên thảm nạn suy thoái đạo đức và xă hội vong tính ngày nay.
-
-
7
-
Trên đây là Nếp
thơ đi trong Thơ Tù của Ḥa thượng Thích Quảng Độ. Cần một bài viết về ngôn
ngữ thơ trong Thơ Tù nữa, v́ cách dụng từ, chuyển câu, đối đáp, h́nh tượng và
âm thanh thơ Thích Quảng Độ rất giàu, chỉnh, thâm hậu. Thử đọc câu tả chén
cháo nếp do người tù tưởng tượng lúc nh́n nồi bo bo, tất nhận ra ngôn ngữ
phong phú với cách quan sát thấu đáo:
-
Dẻo mềm rền quánh
dường nếp một
-
Bo bo, tr. 116
-
Không thể tả hay
hơn một bát cháo nếp, mà là nếp một, vừa dẻo vừa mềm nhờ được
nấu rền đến độ đặc quánh. Hay tả mặt mày bọn đắc thế học làm
sang trong bài "Đười ươi diện guốc đầm", tr. 108 . Tài t́nh thay cách
dùng chữ.
-
Chữ tài t́nh, con
mắt quan sát cũng tài t́nh khi sắp đặt sự vật chen bên nhau trong hiện thực
đến độ siêu thực về nỗi tang thương của thời đại phi văn hóa, chẳng khác chi
thời Hồng vệ binh ra tay làm Cách mạng Văn hóa bên Trung quốc:
-
Dưới án quyển
kinh sâu cuốn tổ
-
Trên ṭa tượng
Phật nhện giăng tơ
-
Câu đối mối xông
mùn đắp kín
-
Hoành phi mọt đục
bụi che mờ
-
Vịnh chùa Long
Khánh, tr. 139
-
Người hải ngoại
xa nước lâu c̣n nhớ chăng h́nh ảnh con sâu cuốn tổ trắng như tơ, h́nh
loa kèn bám vào bờ sách kinh giấy bổi hay giấy dó từ lâu không mở đọc ?
Nhện giăng tơ từ tượng Phật này nối sang tượng Phật khác khiến cảnh chùa
tiêu sơ, buồn thảm. Rồi những câu đối bằng gỗ sơn son thếp vàng treo trên cột
chùa bỏ hoang theo chính sách tiêu diệt tôn giáo của nhà nước, nên hàng triệu
con mối, trắng như loài rươi bám vào làm tổ, tha đất ẩm đắp lên mặt gỗ cho mềm
ra để ăn - mối xông - xóa bay chữ nghĩa ngày trước - mùn đắp kín.
C̣n bức hoành phi treo ở gian chính lâm cùng cảnh ngộ lăng quên trên vật thể
cũng như trong phi vật thể: mọt đục bụi che mờ !
-
Chỉ bốn câu thơ
mà tới tấp những con chữ gợi h́nh mang uy lực tàn nhẫn phá phách. Khí thơ gấp,
sự thơ ngổn ngang, chữ thơ diễn xuất bằng ngôn ngữ điện ảnh. Từ đó nói lên
cuộc chiến tranh thầm lặng giữa thoái hóa chống văn hóa. Làm sao bộc lộ, nếu
thiếu tay bút tài t́nh "điều chữ khiển h́nh" khéo léo như thế?
-
Chữ
và h́nh c̣n diễn tả dễ dàng xiết bao những tư tưởng triết học cao thâm, khúc
mắc:
-
Ngh́n kiếp tóm
thu thành một kiếp
-
Một h́nh biến
hiện hóa ngh́n h́nh
-
Vịnh Thiền sư
Không Lộ, tr. 169
-
Chữ luyến láy với
ngôn ngữ b́nh dân, vẽ ra bức tranh xă hội lố lăng, lố lăng đến cả giới Tăng lữ
bất trí, a dua, hay giới Phật tử cầu an, hèn nhát. Khác ǵ tâm địa AQ trong
văn Lỗ Tấn:
-
Đạo pháp suy vi:
bởi lẽ trời
-
Thấy kẻ phá chùa:
khoanh tay đứng
-
Nh́n người đập
tượng: nhắm mắt ngồi
-
Bắt bớ Tăng Ni:
thây mẹ nó
-
Giam cầm Phật tử:
mặc cha đời
-
Miễn được yên
thân là khôn đấy
-
Can chi ậm oẹ để
thiệt tḥi
-
Liên ngâm dại
khôn, tr. 109
-
Chữ nhẹ nhàng nhưng đanh thép như tuyên ngôn, như đại cáo ngày
tàn không thể tránh của chế độ bạo ác độc tài, ngay vào lúc chế độ ấy đang trị
v́ trên chót đỉnh "đại thắng" qua bài Nhắn nhủ khổ đau, tr. 142, sáng
tác năm 1982.
-
Văn đối ngẫu tự nhiên, đến độ người đọc quên bẵng ḿnh đang đọc
thơ xưa hay thơ mới, thơ Đường luật hay thơ tự do.
Nhịp thơ thành nhạc, ư thơ chuyển vận sức sống câu, tứ thơ
hoành tráng như tranh, t́nh thơ mang tấm ḷng kinh thiên động địa:
-
Đă tùng đâu sợ làn
sương trắng
-
Là cúc nào kinh trận
gió vàng
-
Tự thuật, tr. 127
-
Về quan điểm, lập
trường sống, chữ nghĩa dơng dạc minh định, ṣng phẳng, chẳng cần ẩn nấp nơi ư
tại ngôn ngoại:
-
Qua bao chế độ
lưng vươn thẳng
-
Trải mấy phen tù
lưỡi chẳng cong
-
Tự trào, tr. 205
-
Hoặc giản dị, nhẹ
nhàng như hơi thở nhưng bất ngờ:
-
Màn đêm dày đặc
phủ xà lim
-
Có vật ǵ rơi
giữa khoảng im
-
Lắng măi tôi nghe
rồi mới biết
-
Th́ ra tiếng động
của con tim.
-
Tim động, tr. 88
-
Thân người rét
buốt đến tận xương nơi tù ngục, nhưng ít ai cảm thấu cái lạnh tới "con hồn"
làm bải hoải thân xác:
-
Xà lim lạnh thấm
con hồn
-
Đố ai, tr. 90
-
Đôi khi tự trào chân
dung do ḿnh vẽ vời ra (Tự trào, tr. 95, 96, 203), hoặc muốn làm khách thương
đi bán buồn (Bán sầu, tr. 214, Bán buồn, tr. 215), bán trăng (Ngẫu hứng, tr.
192), hay gọi trăng trao đổi niềm tâm sự (Hỏi trăng, tr. 150, Trăng ốm, tr.
160, Trăng khỏe, tr. 163). Thế nhưng, dù tác giả tự tôn xưng hay thậm xưng (Oai,
tr. 101, Hách, tr. 102), người đọc chỉ thấy bàng bạc một chân t́nh vô
ngă, thay v́ phô trương đại ngă huênh hoang như trong đa số thơ hôm nay.
-
Những câu thơ như:
-
Ngục thất dầu sôi
thành cam lộ
-
Lao tù lửa bỏng
hóa hồng liên
-
Mùi thiền, tr. 79
-
kể về h́nh tượng,
ư nghĩa, tư tưởng, câu chữ, chẳng nhường bước thơ xưa - thơ muôn đời của nhân
loại, mà thơ Đường, thơ Tống là một. Đây là những câu đẹp nhất trong những câu
thơ đẹp nhất của thi ca Việt Nam hậu bán thế kỷ XX. Những câu như thế không
hiếm trong Thơ Tù.
-
Tuy nhiên bài viết
hôm nay, trọng tâm chưa muốn đi sâu vào phạm vi tu từ hay ngữ nghĩa học trong
thơ Thích Quảng Độ.
-
-
8
-
Nhà tù thay ḷng
đổi dạ một số người. Nhưng không hiếm những người tù bất khuất. Bất khuất
trước đối phương như Bá Di, Thúc Tề là quí. Tuy nhiên, quí và báu hơn, là đưa
sự bất khuất thời gian lâm nạn kia tiếp biến thành động thủ cứu nguy trong
những ngày đời c̣n sót: đẩy sĩ khí người quân tử lên đường hành động theo đại
nguyện Bồ Tát.
-
Có người mang chí
bất khuất, nhưng đến khi mất đối tượng là buông tay. Có người xun xoe hành
động nhưng phương châm lại thiếu. Ḥa thượng Thích Quảng Độ qua thơ văn cũng
như trong đời sống thường nhật đă kết đôi tinh thần vô úy với con đường Bồ
Tát. Ḥa thượng không xem giai đoạn tù đày là "học vị" để khoe khoang hay
chứng xác, mà chỉ là cuộc thử lửa với đạo tâm. Coi cái chết hay thương tích
như không giữa ṿng vây lang sói:
-
Xà lim trông hệt
cái nhà mồ
-
Mỗi lần mở cửa
tôi ra vô
-
Thấy như chôn rồi
mà vẫn sống
-
Tử thần tôi sợ
con cóc khô
-
Nói chuyện với tử
thần, tr. 101
-
Tớ chẳng trèo cao
mà ngă đau
-
Lỗ đầu th́ lỗ có
sao đâu
-
Hỏi thổ địa, tr.
208
-
Bài "Tu đạo"
làm trong tù với văn phong hồn nhiên, giản dị, nhưng hàm dưỡng trọn vẹn yếu
tính đương xứ tiện thị - Yathā-bhûtam - trong kinh văn Bát
Nhă. Đọc như nghe một hiền nhân chuyện văn vui cười, song nghĩ sâu thêm, khác
chi một bài kệ truyền pháp:
-
Bao năm học đạo
với tu tŕ
-
Tính lại ngày nay
biết được ǵ ?
-
Được có một điều
"không ǵ được"
-
Biết cùng cái lư
"chẳng biết chi !"
-
Đi đứng nằm ngồi
thường không khác
-
Uống ăn ngủ nghỉ
vẫn như ri
-
Ma nghe nhếch mép
cười mai mỉa
-
"Thế th́ tu đạo
để làm chi ?"
-
Tôi cười kh́:
-
"Để như ri !"
-
Tu đạo, tr. 77
-
Đâu đó, nói về việc
làm thơ, Ḥa thượng khiêm tốn bảo rằng: "Vơ vẽ làm thơ cho nhớ chữ"
(Liên ngâm dại khôn, tr. 109). Hoặc:
-
Đường về quê cũ dừng
chân tạm
-
Để với nhân gian góp
nụ cười
-
Đỉnh chơi vơi, tr.
70
-
Thơ là người lữ hành
xuyên qua những con chữ bất động, đánh thức diệu hữu giữa chân không. Huống
chi c̣n "góp nụ cười" với nhân gian !
-
Thơ đi qua cuộc đời,
lưu giữ những buồn vui, ngoại trừ các ô nhiễm và sự ác độc. Thơ đi qua cuộc
đời không bằng hí luận, mà với nụ cười. Phải lắm, điều nổi bật nơi con người
thi sĩ Thích Quảng Độ là tiếng cười. Một tiếng cười hiền, rất đỗi từ bi. Tiếng
cười là sự tự do đầu tiên và cuối cùng mà con người nắm giữ, chẳng ai xâm phạm
được. Thế sự thăng trầm, phong ba băo táp, biển dâu nghiêng lệch... vẫn không
làm lay động hay xóa tan Nụ Cười kia trên đôi môi Đức Phật và những người con
Ngài.
-
Nụ Cười là Nguồn Thơ
bất tận nơi cơi nhân sinh.
-
|