Home Văn Học   Nghệ Thuật 

Sinh Hoạt

Phiếm Luận Diễn Đàn

Giải Trí

Thư Tín 
Văn Học
Nghệ Thuật
Sinh Hoạt
Phiếm Luận
Trang Thân Hữu Thơ - Văn
Diễn Đàn
Giải Trí
Thư Tín
 
 
 
                       Mấy ư nghĩ khi đọc "Thơ Tù"  
                    của Hòa Thượng Thích Quảng Độ
                                                                                Thi Vũ
 
 
Vào đúng 12 giờ trưa ngày thứ Bảy, 4 tháng 11-2006, Lễ trao giải Nhân quyền Quốc tế Rafto 2006 cho Ḥa thượng Thích Quảng Độ cử hành trang trọng tại Hí viện Quốc gia ở thành phố Bergen, Na Uy. Bergen là cố đô nước Na Uy vào đầu thế kỷ XI, đến giữa thế kỷ XIV mới dời về Oslo là thủ đô hiện tại
Dưới sự chứng minh của ông Thorbjom Jagland, Chủ tịch Quốc Hội Na Uy (theo hệ thống chính trị Na Uy, chủ tịch Quốc hội đứng hàng quan trọng thứ hai sau Nhà Vua) và ông Herman Friele, Đô trưởng thành phố Bergen.
Đông đảo chính giới, đại biểu quốc hội, nhân sĩ, trí thức, văn nghệ sĩ và nhân dân Na Uy tham dự buổi lễ trao giải. Đặc biệt là sự có mặt của 11 vị đoạt Giải Rafto trong quá khứ, trong số này có bà Shirin Ebadi, người Iran, Giải Nobel Ḥa b́nh, và hai bà Leyla Zana, người Kurdistan, bà Rebiya Kadeer, người Uighur, vừa mới được trả tự do. V́ lư do sức khỏe hoặc c̣n bị tù đày 8 người kia không đến được.
Có nhiều đồng bào người Việt cư ngụ thành phố hoặc đến từ các tỉnh xa tham dự ngồi chật Hí viện cho thấy sự quan tâm của nhân dân Na Uy đối với Ḥa thượng Thích Quảng Độ nói riêng và Việt Nam nói chung.
Sự hiện diện của chư Tăng thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất tại Châu Âu: Ḥa thượng Thích Minh Tâm, Ḥa thượng Thích Trí Minh, Ḥa thượng Thích Tánh Thiệt và Thượng tọa Thích Giác Thanh, và hai Thượng tọa Thích Viên Lư và Thích Giác Đẳng đến từ Hoa Kỳ, đại diện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất Hải ngoại tại Hoa Kỳ - Văn pḥng II Viện Hóa Đạo…
Ông Arne Lynngård, Chủ tịch Sáng hội Rafto lên sân khấu đọc bài diễn văn tán thán Ḥa thượng Thích Quảng Độ, nhận định t́nh h́nh Việt Nam, cũng như nói lên ư nghĩa của Giải Rafto 2006, cũng là năm kỷ niệm lần thứ 20 Giải Rafto.
Trong bài diễn văn của ông Arne Lijedahl Lynngård, Chủ TỊch Hội Đồng Sáng Hội Rafto đã bày tỏ:
"Thật xứng đáng khi Hội đồng Sáng hội Rafto chọn trao Giải Tưởng niệm Giáo sư Thorolf Rafto năm 2006 cho một trong những người Việt Nam bảo vệ dân chủ, tự do tôn giáo và nhân quyền lỗi lạc nhất, là Ḥa thượng Thích Quảng Độ… Ḥa thượng Thích Quảng Độ, một sĩ phu lănh đạo và là thế lực kết hợp nơi quê hương ngài. Là một Tăng sĩ Phật giáo, học giả và nhà văn, Ḥa thượng đem suốt đời ḿnh phục vụ tận tụy cho công lư thăng tiến, cũng như tiếp nối truyền thống Phật Giáo bất bạo động, khoan dung và từ bi…
… Ḥa thượng Thích Quảng Độ luôn luôn nhấn mạnh rằng, dân chủ chỉ thực hiện được tại Việt Nam khi tất cả các thành phần dân tộc kết hợp thành khối, đem tất cả tài năng riêng biệt, khả năng chuyên môn, kiến thức và nhiệt t́nh kết liên nhau trong một phong trào đầy sinh lực.
… Bằng cách tôn vinh Giải Rafto lần thứ 20 cho Ḥa thượng Thích Quảng Độ, chúng tôi đánh giá cao những khó khăn cực kỳ rộng lớn mà các nhà hoạt động dân chủ Việt Nam đang đối diện, với quyết tâm đấu tranh ôn ḥa nhằm thay thế chế độ độc đảng Cộng Sản bằng một thể chế dân chủ, một nhà nước đa đảng xây dựng trên pháp quyền và tuân thủ các tiêu chuẩn nhân quyền quốc tế. Chúng tôi biết rằng các nhà dân chủ Việt Nam đang đối diện với hiểm nguy bị nhà cầm quyền đàn áp. Nhưng chúng tôi kỳ vọng rằng mỗi dấu hiệu đoàn kết tương liên là một hậu thuẫn và củng cố cho các nhà dân chủ này.
 
 
                  Mấy ư nghĩ khi đọc "Thơ Tù"  của Hòa Thượng Thích Quảng Độ
 
Ngục thất dầu sôi thành cam lộ
Lao tù lửa bỏng hóa hồng liên
Thích Quảng Độ
 
Đêm ngày tôi dạy cái thằng tôi
Đạo pháp suy vi: bởi lẽ trời
Thấy kẻ phá chùa: khoanh tay đứng
Nh́n người đập tượng: nhắm mắt ngồi
Bắt bớ Tăng Ni: thây mẹ nó
Giam cầm Phật tử: mặc cha đời
Miễn được yên thân là khôn đấy
Can chi ậm oẹ để thiệt tḥi
Thích Quảng Độ
 
1
Hai tập Thơ trong tùThơ lưu đày in chung trong Thơ tù là những bài thơ c̣n sót lại nơi trí nhớ trong số 400 bài sáng tác thời kỳ Ḥa thượng Thích Quảng Độ bị giam nhốt ở Sài Gòn và giai đoạn lưu đày tại xă Vũ Đoài, tỉnh Thái B́nh, miền Bắc, từ 1977 đến 1992. Lần đầu tiên hôm nay ra mắt bạn đọc. Tuy nhiên thơ của Ḥa thượng th́ đă luân lưu trên môi từ quốc nội ra tới hải ngoại. Những bài thuyết pháp của Ḥa thượng tại Thanh Minh Thiền viện hay chùa Ấn Quang sau năm 1975, thường có thơ chen vào. Chẳng ai ghi chép, chẳng ai ấn hành, thế mà sao từ các trại tị nạn Đông Nam Á ra tới năm châu, đi tới đâu tôi cũng nghe có người đọc thuộc ḷng thơ Thích Quảng Độ. Phải chăng thơ truyền khẩu là thơ hay nhất ? Không hay sao người ta nhớ ? Hoặc thơ hợp ḷng người nên thấm đẫm t́nh người và được người ghi tâm ?
Thế th́ chữ "hay" khi khen thơ hay đă vượt lướt tính cách mỹ học để đạt cái thật của trời đất. Ít ai bảo hoa hay, trời hay, mây hay, rừng hay, núi hay, chim hay... phải không nào ? Người ta chỉ nói hoa tươi, trời xanh, mây trắng, rừng hùng vĩ, núi cao, chim ríu rít... Những tính từ tươi, xanh, trắng, hùng vĩ, cao, ríu rít... đánh mất tính cách quy phạm trường ốc hay phê b́nh thẩm mỹ. Những tính từ ấy đột xuất góp vào sự sống bao la, vạm vỡ, mầu nhiệm. Nó là cái thật biến h́nh qua cái lành ngậm trong cái đẹp.
Thơ đến giữa đời làm nên sự sống.
Mấy chục năm qua có thứ chủ nghĩa lan tràn và quản giáo văn học gọi là hiện thực chủ nghĩa. V́ hám bám vào hiện thực c̣n ở nơi tương lai xa lắc, nên đoàn lớp văn nghệ sĩ theo trường phái này vừa đánh mất thực tại trước mắt, vừa đánh mất một sự thực nằm bên ngoài thực tại họ miêu tả. Đa số trong họ không biết rằng con người sống và nghĩ theo h́nh ảnh và sức tưởng tượng, c̣n thực tại họ chung đụng và nếp lư trí họ khuôn theo chưa bao hàm con người toàn vẹn. Giữa hư tưởng và các thực tại xă hội, kinh tế, văn hóa, chính trị, ai dám bảo cái nào thật cái nào giả. Các viễn kiến tôn giáo, h́nh ảnh thần linh, thượng đế, thiên đàng, địa ngục, thế giới bên kia... tuy hư tưởng như người ta bảo, nhưng lại quan yếu và thực hữu để định nghĩa và t́m hiểu thực tại xă hội qua các thời đại.
Làm sao quan sát và t́m hiểu một thời đại ? Y cứ vào chủ nghĩa hiện thực như khuôn vàng thước ngọc ? Hay quy chiếu theo lối sống, lối suy nghĩ, lối cảm nhận và mơ tưởng của con người ? Bởi vậy, hư tưởng cũng là một thực tại, và thực tại của hư tưởng khác với thực tại của ư thức hệ. Hư tưởng đi qua t́nh vượt thức vào cơi trí [1]. Ư thức hệ nhốt tù sáu thức vào tự ngă độc tôn.
Cho nên, lịch sử là nghệ thuật của những lần thử lửa. Các tác phẩm nghệ thuật và thi văn trở thành cơ bản để hiểu, nhằm tương kính, tương thuận, tương sinh với con người. Chữ hiểu trong các từ ngữ Tây phương là nắm lấy tay nhau mà đi, nếu không là đứng nh́n từ xa rồi với lấy (com-prendre, under-stand, ver-stehen...).
2
Khi một nhà tu Phật giáo làm thơ, người ta nghĩ ngay đến thơ thiền. Đánh giá như thế, tuy làm siêu thoát thơ nhưng đồng thời hạn chế trời thơ bát ngát.
Thơ thiền là thơ ǵ ?
Do truyền thống bất lập văn tự của thiền, chẳng ai dám định nghĩa. Nhưng đa số các nhà b́nh luận thường quy chiếu thơ thiền theo ngôn ngữ thi ca thời Lư, thời Trần hay những thơ trích dẫn trong năm bộ Đăng lục đời Tống [2]. Nghĩa là thơ mang màu sắc siêu thoát ẩn tàng sau phong, hoa, tuyết, nguyệt, chim, rừng, trúc, suối... lung linh biểu tượng, hoặc thuần vị chùa chiền, chuông mơ, thoát tục... Thiếu các yếu tố ấy sẽ bị chê không phải thơ thiền, như Lư Tử Tấn, Lê Qúy Đôn từng hạ bút "thơ hay nhưng không giống khẩu khí nhà sư", "khẩu khí thiền sư"  - "Thi tuy giai phi tăng gia ngữ". Các ngài có biết đâu khẩu khí vốn tự nó là một phạm trù, một giới hạn, chưa đạt cái toàn thể.
Vậy thơ thiền là ǵ ? Thơ tù của Ḥa thượng Thích Quảng Độ có là thơ thiền không ?
Trả lời là định nghĩa, mà định nghĩa tất xa ĺa thiền. Thiền vượt mọi giả danh để sống thực. Con mắt nó quay vào đâu, sự vật được chiếu sáng, t́nh cảm được trân ái. Thơ thiền không chỉ là kệ truyền pháp hay ḍng thơ đạo lư, càng không phải bản báo cáo vượt chỉ tiêu hay bày tỏ quan điểm, lập trường. Ḥa thượng từng đề cập tới cảnh thiền này:
Đối đầu trực diện từng giờ
Cuộc đời là một bài thơ tuyệt vời
Cảnh Thiền trước mắt người ơi
Đi t́m chẳng thấy trông vời càng xa
Cảnh Thiền, tr. 153
Thơ thiền bát ngát lung linh nơi mọi góc độ sinh hoạt trần gian theo những tấm ḷng thiền rưng cảm. Phải có một tấm ḷng thiền, thơ thiền mới hiển hiện. Cũng vậy, phải có một tấm ḷng thiền mới khám phá ra thơ thiền khi đọc thơ.
Người có tâm thiền làm thơ, là sống cái tự do trước những điều bức tử nhân sinh. Trước thịnh suy không rúng động. Trước sống chết không sợ hăi: Thơ nắn ra nụ cười tự do phơi phới trên môi ngôn ngữ. Cảnh thơ là lư sống. Bài thơ là món quà truyền tâm.
Mặt khác, văn học luôn sáng tạo, cách tân, chuyển hóa. Văn học Phật giáo luân sinh chứ không luân hồi. Cho nên đọc thơ ngày nay chớ đem so chiếu với thơ mươi thế kỷ trước, th́ mới bắt được mạch ngầm thiền vị trong sự sống vô biên hiện tại. Vô biên th́ không có trung tâm điểm, chỗ nào cũng là trung tâm.
Cuộc sống, cảnh quan, thế giới ở các thế kỷ thứ XI, XII rất khác với ngày nay. Thời ấy, người ta treo ấn từ quan hay để cư tang cha mẹ là chuyện thường và dễ. Thời ấy vào núi tu tiên, đánh cờ, uống rượu, hay về vườn trồng cúc không là chuyện khó. Nhưng ngày nay, lao động và xưởng thợ lấn át các rừng tùng, xa lộ chồng chéo, xă hội nông nghiệp vác cày đi vào xă hội tiêu thụ. Thiên nhiên, cây cỏ đóng hộp trong các chung cư. Chính trường không chỉ có một diễn viên Vua   - vua hiền hay vua ác -  mà thay bằng cỗ máy độc tài, phát xít, nghiến nát dân lành. Nên ngôn ngữ, h́nh ảnh và t́nh ư thi ca hẳn phải khác.
3
Làm thơ là viết. Viết là lên đường.
Lên đường là truyền thống Phật giáo từ thời Đức Phật c̣n tại thế. Tăng sĩ là người không lập gia đ́nh, không nhà cửa, măi măi lên đường... Đến thăm núi Linh Thứu (Gijjhakùta) với các hang động trú ẩn lúc đêm về ở ngoài thành Vương Xá (Rajir), mới hiểu hết ư nghĩa của sự lên đường ba ngh́n năm trước, mà hiện nay lắm khi tha hóa thành lên giường ngủ kỹ.
Lên đường để tự giác và hoằng hóa muôn loài. Người lên đường là người của tất cả, thoát ly người-của-chính-ḿnh (tự ngă) hay người-của-một-gia-đ́nh-một-triều-đại-một-bè-phái (đại ngă).
Thế mà ngày nay, một cao tăng như Ḥa thượng Thích Quảng Độ, bị cấm không được lên đường, chồn chân nơi cảnh tù đày, quản chế.
Lịch sử mấy ngh́n năm Việt Nam, chưa thời đại nào Tăng sĩ bị tù đông như dưới triều đại Xă hội chủ nghĩa. Vào thời Lư, năm 1069, vua Lư Thánh Tôn đi đánh Chiêm Thành bắt vua Chế Củ và nhiều dân, lính làm tù binh đưa về Thăng Long. Trong số tù binh có một Tăng sĩ Phật giáo. T́nh cờ được phát hiện, triều đ́nh liền trọng dụng. Nhà sư trở thành vị tổ của một trong năm ḍng Thiền Việt Nam: Thiền sư Thảo Đường.   Thời Pháp thuộc, có số Tăng sĩ bị tù đày v́ những vận động cho chủ quyền đất nước và bản sắc dân tộc. Nhưng không nhiều. Chùa chiền vẫn là chốn thanh tịnh, lắm khi là nơi che chở, nơi đào tẩu, ẩn náu cho những nhà yêu nước thương ṇi. Nhớ lại thời đó, những bài thơ tù thời đó, thường là của các nhà Nho, như Thi tù tùng thoại của Cụ Huỳnh là một. C̣n ngày nay, không chỉ người dân thường bị lùa vào các Trại tập trung Cải tạo, mà những đạo sư, bậc cao tăng cũng bị bắt đi. Số Tăng Ni bị áp bức, tù đày, quản chế tính tới số ngh́n, giới nam nữ cư sĩ Phật tử tính tới số triệu.
Trong bối cảnh ấy, thơ tù thuộc giới Tăng sĩ, Phật tử nhiều vô kể. Tập Thơ Tù của Ḥa thượng Thích Quảng Độ nằm trong tay bạn đọc hôm nay là một trong những biểu hiện kỷ nguyên tù đày dân tộc.
Từ những thước đất, pḥng giam câm nín, từ các loa phóng thanh lạc điệu tiếng người phát vang ra rả, Thơ bật dậy bằng âm thanh hải triều, vỗ về con tim và ǵn giữ trí nhớ.
 
4
Dưới các triều đại bạo ác, tù ngục biểu trưng sự hà khắc, bức hiếp. Kỷ nguyên tù Việt Nam ngày nay vượt xa lằn ranh tàn bạo, trở thành cuộc diệt chủng văn hóa và đạo đức. Vị thế người bị đẩy xuống tầng đáy hạ nhân, súc vật, ngạ qủy. Người đâu c̣n là người khi mất tiếng nói ? Người đâu c̣n là người khi hết được độc lập suy tư ? Lạ thay, ở nơi sơn cùng thủy tận lặng câm ma quái ấy, Thơ hiện lên như một niềm hy vọng.
Ai bảo chỉ có bạo lực và vũ khí mới thay đổi được thời cơ, quyền chính ? Không đâu. Thơ cải tử hoàn sinh. Thơ mang lại cái thật, cái lành, cái đẹp cho con người. Truyện thơ "Ngh́n lẻ một đêm" là bằng chứng thơ văn cải tử hoàn sinh, thơ văn phá án tử h́nh: Vua Shâhriyâr v́ hờn thù người vợ bạc t́nh đă giết hết phụ nữ sau mỗi đêm chăn gối. Nhưng đến phiên nàng Shahrâzâd, người kể chuyện tài ba vừa hấp dẫn vừa sáng tạo, vua say đắm lắng nghe và hồi hộp đợi chờ câu chuyện thi vị chẳng chịu kết thúc lúc đêm tàn. Đành chờ nàng kể tiếp đêm này qua đêm khác suốt ba năm ṛng !
Đêm mở ra Ngày.
Ngày liên giao sự Sống. Đẩy cái chết như xua hoàng hôn tới chân mây b́nh minh. Một-ngh́n-lẻ-một đêm truyện thơ đă cứu sống một-ngh́n-lẻ-một án hành quyết phụ nữ dưới tay bạo chúa.
Bạo lực chỉ chiếm đất, không chinh phục ḷng người như thơ văn.
 
5
Thơ là tồn tại người. Từ người, cỏ cây, hoa lá, chim chóc, sinh linh, vũ trụ sống dậy mỹ miều trong cái thật, cái lành, cái đẹp. Thơ không tải đạo, v́ đạo tải thơ, rồi thơ quán đạo. Thơ là mùa màng con tim, khí hậu tâm hồn. Ở thời đại sắt và máu nơi xă hội Việt Nam phần tư cuối thế kỷ XX, khí hậu thơ Ḥa thượng Thích Quảng Độ là khí hậu
Lao tù đâu thể nhiễm ô tâm này
Tự thuật, tr. 39
Sắt, máu, nhà tù kinh hăi đến thế, song với thơ mà cũng là nhà thiền, th́:
Cửa sắt xà lim ngăn gió lại
Sợ làm tan vỡ cuộc chiêm bao
Ai gọi, tr. 84
Xem chiêm bao thực hơn thực tại ư ? Không đâu. Chiêm bao hay thực tại đều chung cùng một giấc "mộng trung chi mộng" đó thôi. Tất cả biến dạng như bọt bóng giữa mùi thiền:
Ngục thất dầu sôi thành cam lộ
Lao tù lửa bỏng hóa hồng liên
Mùi thiền, tr. 79
Mùi thiền giữa tù ngục là thế, c̣n mắt thiền thấy chi ?
Qua kẽ xà lim chỉ mấy ly
Nh́n ánh triêu dương thật diệu kỳ
Thế giới ba ngh́n đang chuyển động
Trong từng mảy bụi nhỏ vi ti
Vô thường, tr. 71
Tù xuân như chợ giữa trần gian
họp mặt đông vui đủ khách hàng
cụ già sù sụ ho gịn giă
con nít oe oe khóc nhịp nhàng
Xuân cảm, tr. 93
Con nít khóc là điều mới lạ giữa trần gian tù, ít thấy đâu ngoài Cộng ḥa Xă hội Chủ nghĩa Việt Nam và các trại tập trung Đức quốc xă. Nhà thơ Thích Quảng Độ thường lắng nghe tiếng con nít khóc trong tù. Bài thơ "Đêm mưa nghe trẻ khóc", tr. 59, là sự động tâm về hiện trạng lạ lùng này: con nít cũng ở tù. Nếu không có lời chú dưới bài thơ  - Mẹ bé đi vượt biên bị bắt và sinh bé trong tù -, nếu người thơ không bị chế độ nhốt tù, th́ toàn bài trở thành một bài ca tụng "Bác". Thế nhưng 4 chữ "Tại sao bé khóc" đánh đổ cả 324 chữ đọc nghe như thơ tô hồng chế độ. Nhà tù ấy trở thành nhà mồ, không chỉ chôn người lớn và trẻ nít, mà từ trong ra ngoài nhà tù, chế độ giam nhốt cả Miền Nam, một miền Nam biểu trưng cho ư lực tự do hơn là một vùng địa lư:
Đây là miền Nam trong căn pḥng giam chật hẹp âm u
Ngoài kia là miền Nam trong một nhà tù rộng lớn
...
toàn khu nhà tù ch́m vào yên lặng
yên lặng như nấm mồ hoang vắng
giữa miền cát trắng bao la
và nằm trong căn nhà mồ
tôi không thấy ǵ nữa cả
trừ những bóng ma
vai mang khẩu súng AK
thỉnh thoảng chập chờn qua gang cửa gió
Trời đă sáng, tr. 61
Miền Nam như một ư lực tự do chứ không là đất đai địa lư phân biệt với miền Bắc. Dù thân tại tù ngoài Bắc, nhưng tác giả vẫn thấy và mến yêu phong cảnh xứ Bắc như bộ phận không ĺa với toàn cảnh quê chung. Mỹ miều làm sao cảnh chiều quê đất Bắc:
Lúa vàng ngủ dưới bóng chiều
Lưng trời văng vẳng sáo diều xa đưa
Buồm mây t́m về bến mơ
Vài con chim lạc bơ vơ gọi đàn
Mái tranh khói quyện đầu làng
Ḍng sông uốn khúc qua hàng thùy dương
Bóng ai thơ thẩn bên đường
Trông vời trời biển bốn phương gửi hồn
Chiều, tr. 189
Thanh b́nh xiết bao. Nhưng ai ngờ bao nhiêu tâm sự cháy ḷng gửi gắm vào lúc hoàng hôn ? Thoạt đọc, ta có ư muốn đề nghị tác giả thay hai chữ "t́m về" trong Buồm mây t́m về bến mơ bằng chữ "vèo dạt"  - Buồm mây vèo dạt bến mơ ? Nhưng chưa đề xuất đă tự thấy, nhạc điệu tuy đạt song tứ thơ sẽ kẹt lối. V́ sao ? V́ trước cảnh tan đàn lạc nghé sau 1975, kẻ hữu tâm như "Vài con chim lạc bơ vơ gọi đàn". Chả lẽ với tâm sự của người hữu tâm ưu tư lẽ đạo việc đời, bản thân chịu cảnh lưu đày, lại có thể trầm đắm giữa Chiều thu thân thiết đến quên gửi gắm nỗi riêng chung ?
"T́m về bến mơ", là thơ bước đi t́m bến. Bến b́nh an xa tắp. Đạo và Nước c̣n lênh đênh. Cho nên con người "thơ thẩn bên đường" ấy chẳng ai khác hơn tác giả đang "trông vời trời biển bốn phương", tức trông cậy vào khối người Việt dân tộc trên năm châu thế giới. Với khối người này, tác giả thầm kín "gửi hồn": gửi một Niềm tin son sắt, đợi chờ.
V́:
Đạo pháp bao trùm màn ảm đạm
Giang sơn phủ kín lớp màu tang
...
Thẫn thờ đứng tựa khung cửa ngục
Nh́n bóng xuân sang mắt lệ tràn
Xuân sang, tr. 91
Ngày đứng âm thầm nh́n lá rụng
Đêm ngồi lặng lẽ đếm sao rơi
Muốn hỏi tri âm sầu viễn xứ
Tiếng nhạn kêu sương lạnh cả trời
Xuân cảm, tr. 179
"Tiếng nhạn kêu sương lạnh cả trời" gợi nhớ câu thơ đời Lư của thiền sư Không Lộ "Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư" (Hữu th́ trực thượng cô phong đỉnh, Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư [3]) nhưng lại rất khác giữa hai thời thế.
Xưa, đất nước văn minh, thái b́nh, con người tự tại vô ngại, tự do bước lên đỉnh núi chót vót gọi lên một tiếng làm lạnh cả hư không. Từ thời gian tu chứng   - hữu th́  -  đến không gian thức tỉnh  - hàn thái hư -  sự đột biến giác ngộ  - nhất thanh -    chuyển thức cả khái niệm không-thời và thay đổi tận cùng thế phận con người: Người nô lệ thành người tự do, người vô minh thành người giác ngộ.
Nay, người bị lăng nhục, bị tù đày, sáu mối hoạt động của ngũ quan và thức giác hạn chế vào lỗ tai thôi. Dùng lỗ tai môi giới với thế giới mù mịt bên ngoài. Chốc chốc từ đâu vọng lại tiếng nhạn đơn chiếc, khiến xúc động tâm can và buốt lạnh cơi trời. Biết đâu "tiếng nhạn" ấy không là tiếng ḷng của tác giả gọi lên bơ vơ giữa thời đại nhiễu nhương chưa có người đồng thanh tương ứng ? Thời đại mà t́nh đời đối đăi chỉ biết đem bước chân làm thước đo, đem hoa mà ví:
Bước đi nghĩa địa lan man
Chết rồi hay sống điêu tàn như nhau
Mất cả cuộc đời, tr. 188
Danh lợi trắng ngần bông huệ bạch
Nhục vinh đỏ thắm đóa hồng nhung
Đắc thất khoe hương nhành dạ lư
Thịnh suy phô sắc cánh phù dung
 Tiếng hồng chung, tr. 78
Chí khí và đạo lư dân tộc th́:
Tiếng "quốc" tiếng "gia" im bặt cả
Chỉ nghe tiếng máy rống ̣ ̣
  Qua Đèo Ngang, tr. 133
Tây chẳng phải Tây, Đông chẳng Đông
Quỉ quái sinh ra lũ cuồng ngông
Mồ mả tổ tiên cày xới hết
Đ́nh chùa miếu mạo phá bằng không
Ông bà xem nhẹ hơn con lợn
Bố mẹ coi như khúc gỗ thông
   Mất gốc, tr. 178
Đạo pháp ngày nay đổ quá rồi
Mười người tu học chục người thôi
Chùa hoang cảnh vắng sư về tục
Khói lạnh hương tàn Phật bỏ rơi
Gọi tiểu, tiểu đâu c̣n mà gọi
Kêu di, di cũng tếch đi rồi
Chùa hoang, tr. 220
Sư về tục là chuyện thương tâm, vẫn chưa bi thảm cho bằng Sư chối bỏ truyền thống "bất bái quân vương", không qụy lụy đặt quyền chính ngang hàng Đức Phật để chấp nhận đứng gác bên ḥm lănh tụ ở Hà Nội trong bài "Sư Cụ và Đức Cha". Nguyên năm 1980 ông Tôn Đức Thắng chết, chính quyền đưa một vị lănh đạo Phật giáo (Nhà nước) và một vị Hồng y Công giáo đứng hầu hai bên quan tài như hai con trưởng, mỗi khi quan khách đến viếng th́ hai con trưởng chắp tay lạy đáp lễ:
Bảy ngày hiếu phục cái thây ma
Thơng thượt Đức Cha đeo Thập giá
Thùng th́nh Sư Cụ khoác ca-sa
...
Danh lợi đă lừa hai cặp mắt
Lù lù đống mối tưởng mồ cha
Sư Cụ và Đức Cha, tr. 218
Hoặc lâm cảnh trái đời:
Ḥa thượng thầy vua trong đời Lư
Thiền sư trị nước thuở triều Trần
Ngày nay sự nghiệp "pḥ Cách mạng"
Nhà sư "kiện tướng đội làm phân" !
                                       Kiện tướng đội làm phân, tr. 215
Dù bị "Sống đọa đày như loài thú hai chân" (Trên đường lưu đày, tr. 128) Ḥa thượng vẫn ung dung, hồn hậu:
Sống giữa trần ai cảnh phũ phàng
Con thuyền lướt sóng cứ hiên ngang
Đă tùng đâu sợ làn sương trắng
Là cúc nào kinh trận gió vàng
Tự thuật, tr. 127
Thông già đứng tựa sườn non lớn
Gió giật ḥ reo thổi chẳng xiêu
Tự than, tr. 161
Qua bao chế độ lưng vươn thẳng
Trải mấy phen tù lưỡi chẳng cong
Tự trào, tr. 205
Với tâm không lay động trước bao nghịch cảnh, th́ khổ đau hay an lạc, tù đày hay tự do... những cặp đối đăi ấy khoác vai đi vào Tâm vô lượng:
Thời gian khoảnh khắc tại   tâm ta
Sen nở vừa xong thấy Phật đà
   Tâm cực lạc, tr. 68
Ngh́n kiếp tóm thu thành một kiếp
Một h́nh biến hiện hóa ngh́n h́nh
Vịnh Thiền sư Không Lộ, tr. 169
Do sự vật b́nh đẳng, nên người hay chiếc cầu ao đều có cùng chuyện "nước" phải thương lo:
Năm tháng nổi ch́m chung với nước
Cùng nhau chia xẻ nỗi lao đao
Vịnh cái cầu ao, tr. 174
 
6
Ngoài những bài thơ Đạo lung linh huyền diễm, Thơ tù của Ḥa thượng Thích Quảng Độ c̣n đặc sắc ở những bài trào phúng. Nét châm biếm bén nhọn nhưng không hiểm độc, đùa bỡn mà không ác, đả kích nhưng phóng khoáng, bất hại. Nó tiếp vận ḍng thơ châm biếm tài ba của Hồ Xuân Hương, Tú Xương... tuy đẩy lên một chân trời khác. Hồ Xuân Hương cám cảnh phụ nữ bị chà nghiến trong một xă hội độc đoán, kỳ thị nam nữ thời thịnh Nho. Tú Xương th́ cười cái nhố nhăng của thời thế, buổi giao thời xáo trộn nếp sống cổ truyền khi Pháp thuộc cuối thế kỷ XIX sang đầu thế kỷ XX, giữa một xă hội ông hóa thằng, thằng hóa ông. Tú Xương nói lên bằng thơ, sĩ khí của các nhà Nho dân tộc, nhưng ông không tham gia vào các động thủ chống đối, phản kháng qua các phong trào cách mạng đầu thế kỷ XX. Trong phạm vi h́nh ảnh và hoạt động văn chương châm biếm, Tú Xương cố thủ nơi vùng địa lư nhất định, là thị trấn Nam Định, mảnh đất chôn nhau cắt rốn của ông.
Trái lại đề tài thơ châm biếm Thích Quảng Độ mang tính thế giới, đối diện với cả một chế độ bạo ác, hiện thân của chủ nghĩa Hư vô xuyên hành tinh (le Nihilisme planétaire), là chủ nghĩa Mác Lênin. Chủ nghĩa Hư vô của cộng sản biểu thị sự phủ nhận của sự phủ nhận (la négation de la négation) đối đầu với chủ nghĩa Tư bản man rợ (le Capitalisme sauvage) hiện h́nh qua sự xác nhận của sự xác nhận (l'affirmation de l'affirmation). Cặp đối đầu nhị nguyên và cực đoan này, Vô và Hữu, h́nh thành ra Hư vô chủ nghĩa tàn phá nhân loại. Đi đến đâu nó tàn phá tất cả, chẳng trừ ai, nhưng không bao giờ nó dám tàn phá chính nó, là nguyên nhân của vô minh, độc ác và khổ đau. Tới Việt Nam, chủ nghĩa Hư vô Mác xít biến nhà tu thành người tù, biến no thành đói, hạnh phúc thành khổ đau, ruộng lúa thành bo bo, cửa nhà thành ngục thất, con người thành đười ươi, tự do thành nô lệ, đổi trắng thay đen:
Có nói rằng không, không: khỏi đấm
Đen làm ra trắng, trắng: ngon xôi
Cú kêu ta bảo là oanh hót
Cuội gọi th́ thưa: "Dạ, Bố đ̣i !"
Như thế mới là người khôn đó
Đêm ngày tôi dạy cái thằng tôi
 
Đêm ngày tôi dạy cái thằng tôi
Đạo pháp suy vi: bởi lẽ trời
Thấy kẻ phá chùa: khoanh tay đứng
Nh́n người đập tượng: nhắm mắt ngồi
Bắt bớ Tăng Ni: thây mẹ nó
Giam cầm Phật tử: mặc cha đời
Miễn được yên thân là khôn đấy
Can chi ậm oẹ để thiệt tḥi
...
Gà khôn giấu mỏ nên trọn kiếp
Khỉ dại khoe răng mới bỏ đời
Sống chết mặc bay th́ yên phận
Cả tàu nhịn cỏ chắc không xuôi
...
Tù ngục như ri cũng sướng rồi
Cơm pha hai bữa xơi vừa đủ
Nước lă đôi lần được nấu sôi
Thuốc thang bảo uống khi trái gió
Đường cháo cho ăn lúc trở trời
Nóng có ṿi rồng tha hồ tắm
Buồn th́ vỗ bụng hát nghêu chơi
Buồn th́ vỗ bụng hát nghêu chơi
Trầm bỗng du dương giọng ốc nhồi
Vơ vẽ làm thơ cho nhớ chữ
Tập ṭ ngâm vịnh để quên đời
  Liên ngâm dại khôn, tr. 109
Thực tế ở chế độ Xă hội Chủ nghĩa trại lính này là ǵ ?
Không có ǵ quí hơn cái bánh bao
Cái bánh bao, tr. 122
Tăng ni trên toàn miền Bắc
đều đă góp phần tích cực nuôi heo
Ngày đầu lưu đày, tr. 135
Không ǵ hơn tự "ro"
Cổng nhà tù mở to
Độc "nập" và hạnh phúc
Xà lim tôi nằm co
Tiếng Liên Xô "vĩ đại"
Gọi nó là "ca xo"
Qúi hơn dồi cḥ, tr. 120
Không có ǵ quí hơn bo bo
Đói bụng ngồi nh́n cũng đủ no
Dẻo mềm rền quánh dường nếp một
Ngào ngạt thơm lừng như cơm tám
Ngọt lừ mát rợi tựa chè kho
Lịch sử bốn ngh́n chừ mới có
Hoan hô độc lập và tự do
Bo bo, tr. 116
Ngả một con bê với mẹ ḅ
Đầu đuôi chân cẳng nó nấu xúp
Gan ruột phổi phèo nó bỏ kho
Tù ba ngh́n đứa trong toàn trại
Phúc bảy mươi đời được bữa no
Quốc khánh, tr. 114
Nhà tù Xă hội ở lâu
Chẳng c̣n ai muốn về hầu tổ tiên
Hát ca nhảy múa như điên
Trần gian hạnh phúc cơi thiên nào bằng
   - Anh nào cười vặn găy răng !
Ở tù sướng lắm, tr. 123
Với sự thung dung của bậc cao tăng, ai bảo ở tù là khổ ? Ở tù sướng lắm chứ:
Có ai hơn tớ cái thung dung
Sáng bốn răi khoai vừa lót dạ
Trưa hai lạng gạo đủ no ḷng
Phe phảy mo cau khi nắng hạ
Co ṛ ổ rạ lúc mưa đông
Thung dung, tr. 207
Nhưng chả lẽ đời người chỉ ăn và ngủ thôi ư ? Ăn ǵ ? Ngủ ở đâu ? Trả lời xong, cái châm biếm, đả kích hiện ra. Làm sao im lặng không đả kích một cộng đồng tráo trở như thế ?
Nhà cháy phơi bày toàn mặt chuột
Đ́nh xiêu lộ rơ rặt đầu dơi
Vành tai vênh váo chồn đắc thế
Nghểng cổ nghênh ngang cáo gặp thời
Bức tranh đời, tr. 209
Lang sói hiền từ khoe móng vuốt
Cáo chồn ranh mănh trổ tài hay
Trăn rắn dịu dàng phô đầu lưỡi
Đế hoàng nào khác lũ đười ươi
Xem xiếc, tr. 105
Đến như đạo lư là bờ đê ngăn sóng dữ, đời hư. Thế mà nay c̣n ǵ ?
Đạo pháp cơ đồ sương buổi sớm
Quỉ ma sự nghiệp nắng ban trưa
Tự trào, tr. 97
Trước thời thế ấy, có số Tăng lữ thể hiện "bản thệ độ sinh" theo đường lối mấy ông nón tai bèo:
Giải khát anh tu năm ba "xị"
"Hồ hởi" anh đưa "đạo vào đời"
Sư tiến bộ, tr. 99
Hai bài "Gửi Sư Bà nghiện rượu", tr. 221,"Gửi Sư Cụ đảng viên", tr.222, nói lên thảm nạn suy thoái đạo đức và xă hội vong tính ngày nay.
 
7
Trên đây là Nếp thơ đi trong Thơ Tù của Ḥa thượng Thích Quảng Độ. Cần một bài viết về ngôn ngữ thơ trong Thơ Tù nữa, v́ cách dụng từ, chuyển câu, đối đáp, h́nh tượng và âm thanh thơ Thích Quảng Độ rất giàu, chỉnh, thâm hậu. Thử đọc câu tả chén cháo nếp do người tù tưởng tượng lúc nh́n nồi bo bo, tất nhận ra ngôn ngữ phong phú với cách quan sát thấu đáo:
Dẻo mềm rền quánh dường nếp một
Bo bo, tr. 116
Không thể tả hay hơn một bát cháo nếp, mà là nếp một, vừa dẻo vừa mềm nhờ được nấu rền đến độ đặc quánh. Hay tả mặt mày bọn đắc thế học làm sang trong bài "Đười ươi diện guốc đầm", tr. 108 . Tài t́nh thay cách dùng chữ.
Chữ tài t́nh, con mắt quan sát cũng tài t́nh khi sắp đặt sự vật chen bên nhau trong hiện thực đến độ siêu thực về nỗi tang thương của thời đại phi văn hóa, chẳng khác chi thời Hồng vệ binh ra tay làm Cách mạng Văn hóa bên Trung quốc:
Dưới án quyển kinh sâu cuốn tổ
Trên ṭa tượng Phật nhện giăng tơ
Câu đối mối xông mùn đắp kín
Hoành phi mọt đục bụi che mờ
Vịnh chùa Long Khánh, tr. 139
Người hải ngoại xa nước lâu c̣n nhớ chăng h́nh ảnh con sâu cuốn tổ trắng như tơ, h́nh loa kèn bám vào bờ sách kinh giấy bổi hay giấy dó từ lâu không mở đọc ? Nhện giăng tơ từ tượng Phật này nối sang tượng Phật khác khiến cảnh chùa tiêu sơ, buồn thảm. Rồi những câu đối bằng gỗ sơn son thếp vàng treo trên cột chùa bỏ hoang theo chính sách tiêu diệt tôn giáo của nhà nước, nên hàng triệu con mối, trắng như loài rươi bám vào làm tổ, tha đất ẩm đắp lên mặt gỗ cho mềm ra để ăn - mối xông - xóa bay chữ nghĩa ngày trước  - mùn đắp kín. C̣n bức hoành phi treo ở gian chính lâm cùng cảnh ngộ lăng quên trên vật thể cũng như trong phi vật thể: mọt đục bụi che mờ !
Chỉ bốn câu thơ mà tới tấp những con chữ gợi h́nh mang uy lực tàn nhẫn phá phách. Khí thơ gấp, sự thơ ngổn ngang, chữ thơ diễn xuất bằng ngôn ngữ điện ảnh. Từ đó nói lên cuộc chiến tranh thầm lặng giữa thoái hóa chống văn hóa. Làm sao bộc lộ, nếu thiếu tay bút tài t́nh "điều chữ khiển h́nh" khéo léo như thế?
Chữ và h́nh c̣n diễn tả dễ dàng xiết bao những tư tưởng triết học cao thâm, khúc mắc:
Ngh́n kiếp tóm thu thành một kiếp
Một h́nh biến hiện hóa ngh́n h́nh
Vịnh Thiền sư Không Lộ, tr. 169
Chữ luyến láy với ngôn ngữ b́nh dân, vẽ ra bức tranh xă hội lố lăng, lố lăng đến cả giới Tăng lữ bất trí, a dua, hay giới Phật tử cầu an, hèn nhát. Khác ǵ tâm địa AQ trong văn Lỗ Tấn:
Đạo pháp suy vi: bởi lẽ trời
Thấy kẻ phá chùa: khoanh tay đứng
Nh́n người đập tượng: nhắm mắt ngồi
Bắt bớ Tăng Ni: thây mẹ nó
Giam cầm Phật tử: mặc cha đời
Miễn được yên thân là khôn đấy
Can chi ậm oẹ để thiệt tḥi
Liên ngâm dại khôn, tr. 109
Chữ nhẹ nhàng nhưng đanh thép như tuyên ngôn, như đại cáo ngày tàn không thể tránh của chế độ bạo ác độc tài, ngay vào lúc chế độ ấy đang trị v́ trên chót đỉnh "đại thắng" qua bài Nhắn nhủ khổ đau, tr. 142, sáng tác năm 1982.
Văn đối ngẫu tự nhiên, đến độ người đọc quên bẵng ḿnh đang đọc thơ xưa hay thơ mới, thơ Đường luật hay thơ tự do. Nhịp thơ thành nhạc, ư thơ chuyển vận sức sống câu, tứ thơ hoành tráng như tranh, t́nh thơ mang tấm ḷng kinh thiên động địa:
Đă tùng đâu sợ làn sương trắng
Là cúc nào kinh trận gió vàng
Tự thuật, tr. 127
Về quan điểm, lập trường sống, chữ nghĩa dơng dạc minh định, ṣng phẳng, chẳng cần ẩn nấp nơi ư tại ngôn ngoại:
Qua bao chế độ lưng vươn thẳng
Trải mấy phen tù lưỡi chẳng cong
Tự trào, tr. 205
Hoặc giản dị, nhẹ nhàng như hơi thở nhưng bất ngờ:
Màn đêm dày đặc phủ xà lim
Có vật ǵ rơi giữa khoảng im
Lắng măi tôi nghe rồi mới biết
Th́ ra tiếng động của con tim.
Tim động, tr. 88
Thân người rét buốt đến tận xương nơi tù ngục, nhưng ít ai cảm thấu cái lạnh tới "con hồn" làm bải hoải thân xác:
Xà lim lạnh thấm con hồn
Đố ai, tr. 90
Đôi khi tự trào chân dung do ḿnh vẽ vời ra (Tự trào, tr. 95, 96, 203), hoặc muốn làm khách thương đi bán buồn (Bán sầu, tr. 214, Bán buồn, tr. 215), bán trăng (Ngẫu hứng, tr. 192), hay gọi trăng trao đổi niềm tâm sự (Hỏi trăng, tr. 150, Trăng ốm, tr. 160, Trăng khỏe, tr. 163). Thế nhưng, dù   tác giả tự tôn xưng hay thậm xưng (Oai, tr. 101, Hách, tr. 102), người đọc chỉ thấy bàng bạc một chân t́nh vô ngă, thay v́ phô trương đại ngă huênh hoang như trong đa số thơ hôm nay.
Những câu thơ như:
Ngục thất dầu sôi thành cam lộ
Lao tù lửa bỏng hóa hồng liên
Mùi thiền, tr. 79
kể về h́nh tượng, ư nghĩa, tư tưởng, câu chữ, chẳng nhường bước thơ xưa  - thơ muôn đời của nhân loại, mà thơ Đường, thơ Tống là một. Đây là những câu đẹp nhất trong những câu thơ đẹp nhất của thi ca Việt Nam hậu bán thế kỷ XX. Những câu như thế không hiếm trong Thơ Tù.
Tuy nhiên bài viết hôm nay, trọng tâm chưa muốn đi sâu vào phạm vi tu từ hay ngữ nghĩa học trong thơ Thích Quảng Độ.
 
8
Nhà tù thay ḷng đổi dạ một số người. Nhưng không hiếm những người tù bất khuất. Bất khuất trước đối phương như Bá Di, Thúc Tề là quí. Tuy nhiên, quí và báu hơn, là đưa sự bất khuất thời gian lâm nạn kia tiếp biến thành động thủ cứu nguy trong những ngày đời c̣n sót: đẩy sĩ khí người quân tử lên đường hành động theo đại nguyện Bồ Tát.
Có người mang chí bất khuất, nhưng đến khi mất đối tượng là buông tay. Có người xun xoe hành động nhưng phương châm lại thiếu. Ḥa thượng Thích Quảng Độ qua thơ văn cũng như trong đời sống thường nhật đă kết đôi tinh thần vô úy với con đường Bồ Tát. Ḥa thượng không xem giai đoạn tù đày là "học vị" để khoe khoang hay chứng xác, mà chỉ là cuộc thử lửa với đạo tâm. Coi cái chết hay thương tích như không giữa ṿng vây lang sói:
Xà lim trông hệt cái nhà mồ
Mỗi lần mở cửa tôi ra vô
Thấy như chôn rồi mà vẫn sống
Tử thần tôi sợ con cóc khô
Nói chuyện với tử thần, tr. 101
Tớ chẳng trèo cao mà ngă đau
Lỗ đầu th́ lỗ có sao đâu
Hỏi thổ địa, tr. 208
 Bài "Tu đạo" làm trong tù với văn phong hồn nhiên, giản dị, nhưng hàm dưỡng trọn vẹn yếu tính đương xứ tiện thị   - Yathā-bhûtam -  trong kinh văn Bát Nhă. Đọc như nghe một hiền nhân chuyện văn vui cười, song nghĩ sâu thêm, khác chi một bài kệ truyền pháp:
Bao năm học đạo với tu tŕ
Tính lại ngày nay biết được ǵ ?
Được có một điều "không ǵ được"
Biết cùng cái lư "chẳng biết chi !"
Đi đứng nằm ngồi thường không khác
Uống ăn ngủ nghỉ vẫn như ri
Ma nghe nhếch mép cười mai mỉa
"Thế th́ tu đạo để làm chi ?"
Tôi cười kh́:
 "Để như ri !"
 Tu đạo, tr. 77
Đâu đó, nói về việc làm thơ, Ḥa thượng khiêm tốn bảo rằng: "Vơ vẽ làm thơ cho nhớ chữ" (Liên ngâm dại khôn, tr. 109). Hoặc:
Đường về quê cũ dừng chân tạm
Để với nhân gian góp nụ cười
Đỉnh chơi vơi, tr. 70
Thơ là người lữ hành xuyên qua những con chữ bất động, đánh thức diệu hữu giữa chân không. Huống chi c̣n "góp nụ cười" với nhân gian !
Thơ đi qua cuộc đời, lưu giữ những buồn vui, ngoại trừ các ô nhiễm và sự ác độc. Thơ đi qua cuộc đời không bằng hí luận, mà với nụ cười. Phải lắm, điều nổi bật nơi con người thi sĩ Thích Quảng Độ là tiếng cười. Một tiếng cười hiền, rất đỗi từ bi. Tiếng cười là sự tự do đầu tiên và cuối cùng mà con người nắm giữ, chẳng ai xâm phạm được. Thế sự thăng trầm, phong ba băo táp, biển dâu nghiêng lệch... vẫn không làm lay động hay xóa tan Nụ Cười kia trên đôi môi Đức Phật và những người con Ngài.
Nụ Cười là Nguồn Thơ bất tận nơi cơi nhân sinh.