|
|
-
Trần Tuấn Kiệt, mây phiêu
du
-
Bùi Ngọc Tuấn
-
-
-
Tóc bay
khuất giải Ngân Hà
-
Tuyệt vời
thấm mộng, đêm là đêm xưa
-
-
Một buổi tối
cuối năm - đâu đó vào năm 1965, 1966 - trong sân trường Đại
Học Văn Khoa, vắng lặng, yên tĩnh ngay giữa những ồn ào của
trung tâm thành phố Saigon đang chờ đón Tết, Trần Tuấn Kiệt
vời tay lên vầng trăng đọc cho tôi nghe hai câu thơ tuyệt
vời ấy.
-
-
Kiệt đọc
xong, đứng im lặng. Tôi đứng im lặng. Hồi lâu. Bởi v́ không
c̣n ǵ để nói vào lúc đó. Bởi v́ không có ǵ nên nói vào lúc
đó. Những câu thơ ngân vọng măi đến bây giờ. 40 năm sau.
-
-
Tôi quen
Trần Tuấn Kiệt một cách t́nh cờ, khi anh đến trường Đại Học
Văn Khoa t́m Phạm Quốc Bảo. Chúng tôi đi uống café ở góc
đường Gia Long và Nguyễn Trung Trực, trước cổng trường Văn
Khoa, rồi thân với nhau từ đó. Không ngày nào không đi lang
thang với nhau, nhiều hôm cả sáng, cả chiều, cả tối. Trần
Tuấn Kiệt thủa ấy có một cái xe velo solex, tôi đi một cái
xe mobylette. Tôi thường chở Kiệt trên cái mobylette đó. Nơi
chúng tôi lang thang là hè phố Saigon, những hành sách cũ,
những quán vỉa hè. Cả hai đứa ít khi nào vào La Pagode ngồi,
h́nh như v́ cái phong thái giang hồ của hai đứa ít hợp với
nơi 'bàn cao, cửa kính' ấy. Quán café, quán ăn vỉa hè
là nơi hai chàng 'tọa thị' hàng giờ. Ngoài việc làm thơ,
Kiệt không làm ǵ cả. C̣n tôi th́ đi học như đi chơi. Đầu
năm đến ghi danh rồi mỗi ngày đến trường gửi xe, xong ra
quán café ngồi, cuối năm đi thi. Hai đứa tôi có nhiều th́
giờ hơn ai hết, ở Saigon lúc đó.
-
-
Trước đây,
khi viết về Nguyễn Đức Sơn, tôi có nói rằng: '…ở Việt Nam
tuy có rất nhiều người làm thơ hay, nhưng chỉ có ba người
thật sự sống cuộc đời thi sĩ, họ và thơ là một, ngoài thơ ra
họ không có ǵ khác, không c̣n ǵ khác, không muốn ǵ khác,
không là ǵ khác. Sơn là một, hai người kia là Bùi Giáng và
Trần Tuấn Kiệt…’ Quả t́nh ngoài thơ ra, Kiệt không làm
ǵ cả, không có ǵ cả. H́nh như khi viết về Bùi Giáng, Thanh
Tâm Tuyền có nhắc lại lời Khổng Tử nói về Lăo Tử (trong Nam
Hoa Kinh) để ví Bùi Giáng như là một 'con rồng'. Nếu Bùi
Giáng như ‘rồng’ th́ tôi thấy Trần Tuấn Kiệt như một 'vầng
mây trắng', bay lang thang vô định. Vầng mây trắng không làm
ǵ cho trời, cho đất. Nhưng đất trời sẽ không c̣n là đất
trời nếu thiếu đi những vầng mây phiêu du khắp chốn ấy.
-
-
Hăy đọc mà
nghe:
-
-
Nai
-
Lên theo đỉnh núi mơ màng
-
Một con nai đứng vọng ngàn trong sương
-
Vách cao đá dựng trăng buồn
-
Tơi bời tiếng lá, mưa luồng lũng sâu
-
Gót thầm nai tếch ngàn thâu
-
Nhân gian nghe cũng vọng sầu bao la
-
-
Mới đọc lần
đầu, nhạc điệu, âm hưởng man mác của bài thơ làm ta bâng
khuâng. (Như tiếng ḥn sỏi vừa ném xuống hồ nước). Đọc lại
những lần nữa, những ư t́nh tiềm ẩn thấp thoáng ẩn hiện,
chợt vang vọng lên, ngân dài bất tuyệt (như những ṿng sóng
lan ra trên mặt nước lặng).
-
-
Thơ Trần
Tuấn Kiệt như thế.
-
-
-
Và hăy đọc
thêm vài bài khác:
-
-
Hạc thiêng
-
-
Thơ bay vàng
cánh hạc chiều
-
Núi sông
trăng mới bên triều biển xanh
-
Mươi năm lỡ
bước thị thành
-
Mộng đời ủ
lại mái tranh sau vườn
-
Bao người
đánh mất quê hương
-
Trăm năm
hiện hữu ai buồn v́ ai!
-
Tuổi đời
mỏng cánh hạc bay
-
Động ḷng
thiên cổ gió mây qua đèo
-
-
Đường
xuân
-
-
Ta về đâu
những con đường
-
Lệ sầu ai
răi phấn hương mau tàn
-
Xuân đời
nhan sắc truy hoan
-
Rượu t́nh
tri kỷ trần gian mấy người
-
Ca thâu đàn
hát tan rồi
-
Mây xuân chở
mộng qua trời về đâu
-
-
Biển
khuya
-
-
Biển khuya
sóng vổ lên hồn
-
Ta nằm nghe
lặng tiếng cồn dâu xanh
-
Vầng trăng
lửa Hạ treo nhành
-
Vực sâu rêu
phủ mấy cành củi khô
-
Ngàn xưa hoa
trắng phiêu du
-
Nước sa buồn
với mùa Thu cách nguồn
-
Trăm sông
buồn cũng xô luôn
-
Quanh co bến
lạ máu xương rụng sầu
-
Sóng dồi
giấc ngủ đêm thâu
-
Vầng trăng
ngọc thạch ửng mầu tồn sinh
-
-
Khúc
Phượng Cầu Hoàng
-
-
Chiều nghe
khúc Phượng Cầu Hoàng
-
Nỗi buồn
thiên cổ tiếng đàn ngh́n năm
-
Lệ châu rơi
xuống âm thầm
-
Tương Như Tư
Mă cánh bằng đă xa
-
-
Mùa vu
lan
-
-
mộng vàng ai
thếp màu son nhạt
-
kiếm khách
mài gươm dưới nguyệt tàn
-
ta về trễ
quá muôn năm trước
-
trống đồn bi
kư cơi nhân gian
-
-
em đẹp c̣n
đây dáng mỹ nhân
-
Tây Thi gái
Việt sắc mê hồn
-
ta say t́nh
sử thương thiên cổ
-
mấy nếp lâu
đài rộn gót son
-
-
ấy ai cưỡi
ngựa chơi vườn cũ
-
khua trống
chiêng xưa bóng chập chờn
-
ḱa xem
trăng mộng thành thiên cổ
-
hoa lá vin
cành điệp dưới thôn
-
-
Em đi lễ
Phật Vu Lan mới
-
dạo chùa lễ
Phật nức hương sen
-
cho anh gởi
chút t́nh ân ái
-
về dưới Phật
đài vui với Em
-
-
-
Tượng
-
-
Em đi chân
bước lạc đà
-
Suốt miền ải
hạn giữa sa mạc người
-
Phượng hoàng
xuống đậu hai vai
-
Ngậm hoa quỳ
nhớ thiên thai không về
-
Ngàn năm mây
trắng trôi đi
-
Với hồn xưa
động bốn bề không gian
-
-
-
Bến ngựa
-
tặng Bùi
NgọcTuấn
-
-
Khi xưa ta
đến bên thành
-
Cỏ cây cũng
nhớ thương ḿnh ra hoa
-
Vầng trăng
bến ngựa giang hồ
-
Bia thành
vách mộ ḷng ta chợt buồn
-
-
-
Em c̣n hái
trái
-
tặng PB
ThụyDương
-
-
Em c̣n hái
trái bên cây
-
Vết son mùa
để dấu hài đầu tiên
-
Loi choi
bước nhảy chân chim
-
Gió tan mây
tụ đảo điên hồn người
-
Em c̣n hái
nữa hay thôi
-
Vết tay chín
móng đă mười yêu thương
-
Phiêu-du trở
bến trong vườn
-
Một gịng
nước thẳm bên nguồn em đang…
-
Vườn chim
trái mộng hoa vàng
-
Nửa đêm
trăng cũng huy hoàng bên em
-
-
-
Quê hương
-
tặng
PhươngTriều
-
-
Ḷng ta v́
quá đỗi nhớ thương
-
Cành hoa bụp
cũ khóc bên đường
-
Bến khuya Sa
đéc trăng mười sáu
-
Mấy độ ch́m
theo sóng lớp lang
-
Hỡi người
con gái bến Tân quy
-
Nàng hát ta
nghe hát những ǵ?
-
Tóc xơa bốn
trời trăng gió tụ
-
Mây vờn âm
điệu nét phương phi
-
Hát nữa nàng
ơi! năo bốn trời
-
Cành hoa bụp
cũ bến kia rơi
-
Quê hương
khúc hát chừng đưa lại
-
Lớp sóng
trường giang lạnh đến trời
-
-
-
Từ thời c̣n
rất trẻ, vào thập niên 1950, Trần Tuấn Kiệt đă xuất hiện
trên ‘Văn Hoá Ngày Nay’ của nhà văn Nhất Linh. Ngay từ bài
thơ đầu tiên trong đời được đăng báo, Kiệt đă được trả tiền
nhuận bút, khá hậu hĩnh. Cái tên Sa Giang Trần Tuấn Kiệt
ngay từ buổi đầu đă có chỗ đứng riêng biệt, vững vàng trong
thi đàn Việt Nam.
-
-
Tiếng thơ
Trần Tuấn Kiệt đầy những âm vọng của thơ Lư Thương Ẩn và Đỗ
Phủ, thêm vào đó là những ngậm ngùi, mênh mang của gịng thơ
lục bát nói về những u sầu của ḷng người mà ngàn năm cứ
trầm vang những nỗi niềm của cuộc phù sinh. Ngoại trừ tập
‘Triều Miên Ngâm Khúc’ nói về những đớn đau của một người
cha mất con, nh́n vào cuộc đời đầy sinh ly tử biệt; Những
tập khác như ‘Nai’, ‘Cổng Gió ‘, ‘Thơ Trần Tuấn Kiệt’, ‘Em
C̣n Hái Trái’, ‘Lời Gởi Cây Bông Vải’ … là những tiếng ḷng
u hoài miên viễn trước kiếp người hữu hạn giữa gịng thời
gian bất tận, và của đời người trầm luân trong một thời
‘Xuân Thu mới’ nhiễu nhương không khác ǵ thời Xuân Thu
trong cổ sử. Trần Tuấn Kiệt không có những loại thơ t́nh của
những t́nh nhân b́nh thường, như ta thường thấy trong thơ
t́nh của những thi sĩ lừng danh khác. Không có những đắm say
nồng nàn, không có những đáng cay, quằn quại. Chỉ có những
mối sầu miên viễn, sầu t́nh ḥa cùng sầu đời, man mác, ngậm
ngùi. Thơ t́nh của Trần Tuấn Kiệt không bao giờ có những lời
tỏ t́nh trực tiếp, mà luôn luôn là những ẩn dụ và mối sầu
t́nh cũng luôn luôn ḥa với mối sầu thiên cổ.
-
-
Ngôn ngữ
Trần Tuấn Kiệt giản dị mà chở đầy những h́nh ảnh dù man mác
mà thê thiết, trong một nhạc điệu trầm ngân như một tiếng
thở dài. T́nh yêu quê hương Việt Nam, yêu tiếng Việt vốn
tràn ngập trong thơ văn Trần Tuấn Kiệt, nhưng ngắn gọn, rơ
ràng và quyết liệt nhất là trong quyển ‘Tiếng Đồng Nội’, với
vài gịng bố cáo đơn sơ ở đầu sách, đại khái là: cấm dịch
ra bất kỳ ngôn ngữ nào khác. Nghĩa là phải người đọc phải
đọc cuốn tiểu thuyết này bằng tiếng Việt Nam…
-
-
Kiệt viết
rất nhiều, thơ, truyện ngắn, truyện dài, biên khảo (‘Tác
Giả, Tác Phẩm’, Thi Ca Việt Nam Hiện Đại’ dày hàng ngh́n
trang…., nhưng thơ vẫn là thể loại chính, hàng 5, 7 ngh́n
bài trong 50 năm qua.
-
-
Thủa đó, nơi
hai chàng lăng du là những quán vỉa hè. Ngồi trên những
chiếc ghế đẩu thấp sát đất. Uống những ly rượu đế nhỏ. Nhắm
những con khô mực nướng thơm. Kiệt thường nói: 'tao nghèo
mà vui'. Nghèo th́ cũng đúng, nhưng vui th́ đúng hơn.
Tôi cho rằng trên đời này chỉ có một ḿnh Trần Tuấn Kiệt là
không biết buồn, biết lo. Những nỗi buồn, lo của sinh kế,
của đời sống hàng ngày, của mọi người. Kiệt hồn nhiên như
một đứa trẻ. Chỉ biết có thơ và rượu mà thôi.
-
-
Một buổi
chiều tối, trong lúc đang ngồi uống café ở bên lề đường Lê
Thánh Tôn, Tôi rủ Kiệt đi ăn tối. Kiệt không chịu, nhất định
kéo tôi về nhà ăn cơm. Nhà Kiệt thời đó ở trong một ngơ hẻm
nhỏ trên đường Phan Đ́nh Phùng, gần chợ Vườn Chuối. Căn nhà
hẹp hơn một căn pḥng của người khác. Rộng chừng 2 thước,
sâu chừng 4, 5 thước. Pḥng khách là một cái bàn nhỏ với hai
cái ghế. Pḥng ngủ (và cũng là pḥng ăn) là một cái giường.
Sau một bức vách ngăn là nhà bếp nhỏ. Trên vách nhà treo đầy
tranh của những họa sĩ hàng đầu thời đó (Nguyễn Trung,
Nguyên Khai, Nghiêu Đề…) tặng cho Kiệt. Đó là nơi hai vợ
chồng Kiệt và cháu gái nhỏ sống (Lúc đó cháu Trần Triều Miên
- con đầu của vợ chồng Kiệt đă gặp nạn, qua đời).
-
-
Về tới nhà
Kiệt bảo vợ: 'anh Tuấn ăn cơm tối với tui'. Nói rồi,
Kiệt kéo tôi xuống bếp khoe gà. Kiệt ham mê gà chọi. Anh có
thể đói, nhưng gà phải no, phải có rượu bóp. Kiệt mở bu, bế
gà ra vuốt ve hồi lâu. Hănh diện nói với tôi: 'mày thấy
con gà này ngon không, đá vô địch'. Tôi biết ǵ về gà
đá… Cười. Vợ Kiệt dọn cơm lên giường. Một niêu cơm nhỏ, một
nồi cá kho nhỏ. Trong nồi chỉ có một con cá kho, trắng, to
bằng 4 ngón tay. Nồi cơm được chừng 2 bát lớn, 3 bát nhỏ. Vợ
Kiệt bế con đi, chừng 5 phút sau chị trở về với một ca sắt
đầy bia. Kiệt với tôi chuyền nhau ca bia, uống. Vợ Kiệt bế
con, đứng nh́n chúng tôi ăn, mặt cười rặng rỡ. Tôi chợt biết
rằng ḿnh đang ăn phần cơm của chị. Ḷng đau thắt.
-
-
Kiệt làm thơ
rất tức cười, gặp tờ giấy nào cũng viết lên đó, nào là tờ
lịch, b́ thư, bản vỗ… Viết xong bài th́ bỏ vào một cái sọt
tre lớn treo trên vách, kế cái bàn nhỏ tiếp khách. (Sau này
nhớ lại, tôi mới thấy là trong nhà không có tủ, mà chỉ có
vài ba cái sọt treo trên tường đựng đồ dùng. Cái sọt treo ở
pḥng khách là để đựng thơ). Những tờ báo hỏi xin bài, th́
Kiệt quơ tay vào trong sọt, lấy ra dăm bảy, bài đưa cho họ.
Kiệt làm thơ gần như không sửa đổi bao giờ. Thơ viết ra giấy
là xong rồi. H́nh như thơ đẵ nằm trong đầu hàng loạt, hàng
mươi bài mỗi lần. Có sửa ǵ, th́ sửa trong đầu, chứ đă viết
ra giấy là xong rồi. Không nghĩ đến nữa. Tuy thế, mỗi bài
thơ là một hoàn chỉnh. Không thể sửa ǵ nữa. (Cũng giống như
cách Bùi Giáng và Nguyễn Đức Sơn làm thơ). Ba ông này quả
thật là kỳ tài.
-
-
Trần Tuấn
Kiệt là một cao thủ của trường phái Tây Sơn Nhạn. Có thời
anh dạy vơ. Một hôm tôi bảo Kiệt chỉ cho một vài ngón để
pḥng thân. Kiệt nói: 'mày không học tới nơi mà chỉ biết
vài thế, tụi nó đánh chết'. Nói rồi anh bảo tôi khi sắp
đánh nhau th́ tay trái chống vào cạnh sườn, tai phải nắm
lại, nhưng ngón trỏ th́ thẳng ra chỉ chỉ vào mặt đối phương
mà tiếp tục căi, rồi bất th́nh ĺnh cụp ngón trỏ lại, đấm
ngay giữa trán đối phương, trước khi bỏ chạy. Cái cú
giả vờ căi rồi lừa địch thủ mà đấm trước rồi chạy này tôi
chưa có dịp thử, nên không biết hiệu nghiệm ra sao.
-
-
Một buổi tối
kia. Hai đứa tôi vào hiệu ăn Chung Nhuận Hy (ở góc đường
Công Lư - Lê Thánh Tôn), ngồi ở một bàn ngay bên lề đường,
không gọi món ăn, mà chỉ uống 2 ly café bí-tất, mặc chủ hiệu
lườm nguưt. Kiệt nói chờ lát nữa vào nhà sách Khai Trí lấy
tiền nhuận bút. Đến 7 giờ rưỡi, mà Kiệt vẫn không chịu đi.
Nói chờ đến 8 giờ, nhà sách đóng cửa mới gặp ông Khai Trí.
Chúng tôi đến đó lúc Khai Trí đang sửa soạn đóng cửa, đang
đếm tiền. Kiệt hỏi tiền bản quyền cuốn sách. Ông Khai Trí
trả cho Kiệt hai ngàn - rẻ mạt. Chúng tôi đi về, Kiệt chia
xấp tiền ra làm hai. Lật bọc yên xe Solex lên dấu xuống đó
một phần, nói là để mang về cho vợ nuôi con. C̣n một phần bỏ
túi dắt tôi vào quán nhậu. Ăn nhậu hồi lâu, Kiệt bỏ tôi ngồi
đó, đứng dậy đi ra ngoài chừng mươi phút. Khi trở vàogọi
thêm rượu, thêm món ăn. Hai thằng say tuư luư. Ăn nhậu xong
c̣n rủ đi uống café. Tôi bảo Kiệt đi về đưa tiền cho vợ.
Kiệt nói tỉnh queo: 'hồi năy tao ra lấy để trả tiền nhậu
hết rồi'. Tôi lạnh người, tỉnh hẳn rượu nhưng càng
choáng váng. Viết một quyển sách mất rất nhiều thời giờ, tim
óc, nhà xuất bản trả không được bao nhiêu, vậy mà không mang
về cho vợ lấy được một nửa, dắt bạn đi nhậu hết. Có ai như
ông trời này?
-
-
Ông Khai Trí
c̣n nắm trọn bản quyền của hơn chục cuốn tiểu thuyết Kiệt
viết, mỗi quyển trả vài ngàn bạc mà chỉ có đôi ba cuốn được
in. Độc giả không bao giờ được đọc những quyển kia. Trong 40
năm nay tôi vẫn tự hỏi nên khen hay nên trách ông Khai Trí.
Ông đă mua rẻ bản quyền cất tủ, hay ông đă t́m cách giúp nhà
văn nghèo?
-
-
Để có thêm
tiền, Kiệt làm cách khác. Thấy tôi có tí vốn chữ Hán, c̣n
ḿnh vốn đă giỏi vơ, Kiệt bắt tôi chở vào Chợ Lớn, đến những
hàng sách bên đường của người Tàu, t́m mua sách dạy vơ. Gặp
quyển nào có h́nh người khoa chân múa tay cũng cầm lên hỏi
tôi 'quyển ǵ đây?'... Cứ vài ngày chúng tôi lại mua
được đôi ba quyển. Khi th́ Thiếu Lâm, khi th́ Vơ Đang…Chúng
tôi lại về khu trường Văn Khoa cũ, tôi ngồi uống café dịch
miệng cho Kiệt nghe, từng thế đánh, thế đá. Nhiều chữ không
rành, vậy mà Kiệt nhờ giỏi vơ biết ngay và hiểu rơ. Sau đó
anh dựa trên những quyển sách này mà viết một lô sách dạy
vơ. Bán rất chạy. Kiếm được tiền nuôi gia đ́nh.Tôi cười gần
chết.
-
-
Tôi rất nhớ
và mến đời sống giản dị của Kiệt. Giản dị đến không ngờ, như
có lần tôi hỏi Kiệt hồi c̣n ở Sa Đéc sống ra sao. Kiệt nói:
‘mỗi ngày tao đặt cái lờ ở ngoài mương bắt cá. Buổi sáng
ra gỡ lấy 3 con cá lớn nhất.Một con tao đổi lấy một lít
rượu, một con tao đổi lấy một lít gạo, nấu cháo, c̣n con
thứ ba tao nướng, rồi ngồi nhậu’ Tôi hỏi tiếp: ‘rồi ngày
mai làm sao?’ Kiệt đáp tỉnh queo: ‘mơi làm dzậy nữa!’.
-
-
Đời trôi về
mỗi hướng. Sau mấy chục năm tôi vẫn là kẻ lăng du ở cuối
vườn ảo mộng. Kiệt vẫn là vầng mây trắng, phiêu du giữa đất
trời vô định. Đêm nay nhớ lại bạn xưa, ḷng dạt dào thương
nhớ. Chén rượu đêm mưa đầu mùa thu ở Minnesota xót xa như
nước mắt. Năm xưa có viết 2 bài thơ tặng Trần Tuấn Kiệt, như
sau:
-
-
đêm buồn
uống rượu một ḿnh
-
(gửi Trần
Tuấn Kiệt)
-
-
nửa đêm nhớ
một vầng trăng
-
chén nâng
mời rượu - từng gịng lệ sa
-
sóng bên này
giải ngân hà
-
thoảng âm
tiếng khóc từ bờ bên kia
-
xuôi gịng
tử biệt sinh ly
-
quê nhà nơi
đó mà về được đâu
-
-
kể từ dâu
biển rời nhau
-
trăng đêm
nay vẫn nguyên mầu cố hương
-
biết đây là
cơi vô thường
-
mà tâm thể
vẫn đoạn trường xiết bao
-
-
buồn ơi đầy
đọa măi sao
-
ḷng tươi
muối xát - gan bào tái tê
-
buồn ngồi
uống rượu nửa khuya
-
chén này
chưa cạn - chén kia nối tràn
-
chén sầu dằn
vặt tâm can
-
trăng vàng
đêm lạnh lời than năo nề
-
-
buồn ơi! ta
đă làm chi
-
ta ơi! buồn
đă làmǵ đời ta
-
-
và:
-
-
mới ốm dậy
đêm nằm nghe mưa,
-
viết gửi
Trần Tuấn Kiệt
-
-
đêm khuya
không rượu mưa rơi
-
quạnh hiu
bốn cơi - ngậm ngùi tâm tư
-
nằm im nghe
động mái nhà
-
những năm
tháng đă ra ma trở về
-
-
rượu không
mà tưởng say nhè
-
tay bưng mặt
khóc hỏi quê chốn nào
-
tang thương
tàn cuộc binh đao
-
cơ trời sao
để nghẹn ngào sử xanh
-
-
đêm mưa
không rượu buồn tênh
-
đầm đầm lệ
đổ - ư t́nh héo hon
-
mưa như đêm
ở Saigon
-
trời se se
lạnh theo buồn xa xăm
-
-
ḷng rung
theo tiếng mưa thầm
-
giơ tay vuốt
mặt lặng nằm nghe mưa
-
giọt sa,
giọt nhẹ mơ hồ
-
giọt dài,
giọt ngắn, nghe như giọt sầu
-
-
một ḿnh
không rượu, đêm sâu
-
năm qua,
ngày hết, mái đầu gió sương
-
quê nhà mù
mịt đôi phương
-
một ḿnh
thương tưởng, sao buồn chứa chan
-
-
rượu không,
mưa ngớt, đêm tàn
-
nàm im nghe
vọng thời gian nặng nề
-
-
rượu không
mà tưởng say nhè
-
tay bưng mặt
khóc hỏi quê chốn nào
-
-
-
-
bùi ngọc
tuấn
-
Minnesota, tháng 9, 2006
-
-
|
|
|