Văn Học
Nghệ Thuật
Sinh Hoạt
Phiếm Luận
Trang Thân Hữu Thơ - Văn
Diễn Đàn
Giải Trí
Thư Tín
 
 
Trần Hoài Thư
                           cây sậy giữa đời
                                                 Vương Trùng Dương
 
   Trần Hoài Thư  tên thật Trần Quí Sách, sinh năm 1942. Tốt nghiệp Khóa 24 TB/Thủ Đức. Phục vụ tại đại đội 405 Thám Kích/ Sư đoàn 22 BB và phóng viên chiến trường (Khối Chiến Tranh Chính Trị Quân Khu 4).
Sau 1975, trong trại cải tạo 4 năm.
Vượt biển và định cư tại Hoa Kỳ từ 1980.
Tốt nghiệp cử nhân điện toán và Cao Học Toán (Steven Institute of Technology - New Jersey).
Hiện chủ trương Thư Ấn Quán để in sách theo phương pháp Book On Demand và tạp chí văn học Nghệ Thuật Thư Quán Bản Thảo (đă phát hành được 12 tập)
Trước 1975, có 4 tập truyện được xuất bản:
Nỗi Bơ Vơ Của Bầy Ngựa Hoang ( 1968) - Những V́ Sao Vĩnh Biệt (1970) - Ngọn Cỏ Ngậm Ngùi (1971) - Một Nơi Nào Để Nhớ (1974)
Viết lại từ 1995, với 12 tác phẩm gồm 4 tập thơ.
 
Truyện:
- Ban Mê Thuột Ngày Đầu Ngày Cuối (Tập truyện - tái bản) - Thủ Đức Gọi Ta về (Tạp văn - tái bản nhiều lần)  -  Đại Đội Cũ & Trang Sách Cũ (Tạp văn, Kư)  -  Thế Hệ Chiến Tranh (Tập truyện)  -  Mặc niệm chiến tranh (Tập truyện)  -  Về Hướng Mặt Trời Lặn (Tập Truyện)  -  Ra Biển Gọi Thầm (Tập truyện - mới tái bản)  -  Đánh Giặc Ơû B́nh Định (11/2002)  -  Đêm Rừng Tràm (3/2003)  -  Hành Tŕnh Của Một Cổ Trắng (7/2003)
Thơ:
Thơ Trần Hoài Thư (tái bản)  -  Qua sông Mùa Mận Chín  -  Phố Xa  -  Ngày Vàng
                                                                        *
“Buổi sáng đầu năm 1967 tôi gặp Trấn Hoài Thư tại Vũ Đ́nh Trường của Trướng BB Thủ Đức, qua lời giới thiệu của Chu Tân và Phan Nhự Thúc (Khóa 23), chúng tôi quen nhau trong Ban Biên Tập SVSQ nguyệt san BBTĐ. Sau giai đoạn I qua bốn tháng quân sự, tôi trở về Trường Đại Học CTCT Đà Lạt tiếp tục cuộc sống quân trường. Năm 1968 gặp Phan Nhự Thức về học Khóa 4 Căn Bản CTCT, hỏi thăm Trần Hoài Thư, được biết con người ốm như cây sậy mang đôi kiếng cận nặng nề lại về Đại đội trinh sát của Sư đoàn Bộ binh!... Đời chiến binh dưa đẩy nhà giáo dạy toán trở thành nhà văn, nhà thơ – VTrD
 
                                         Vương Trùng Dương
 
 
Bằng Hữu & Trần Hoài Thư
 
“Đêm giọt xuống nền Quân Y Viện
Trăng cao nguyên sáng lạnh bồi hồi
Ông nhà văn đứng bên cây sứ
Phất phơ như ngọn cỏ ngậm ngùi”
Phan Ni Tấn
 
“Ông thầy mỏng mảnh như lau sậy
Khói lửa oằn thêm sức bật thôi
Đôi vết sẹo cuồng thêm thắm mặn
Gánh văn đi dạo dọc theo đời
Sau Lưng thấp thoáng nàng Thị Lộ
Thương chàng Quư Sách ghé vai thơm”
Luân Hoán
 
Trần Hoài Thư: “Diều Hâu 405”
Cùng Những Chúc Thư  Của Người Lính Trận
Vĩnh Liêm
 
“... Khi Trần Hoài Thư đổi về Vùng IV Chiến Thuật vào năm 1971, “Diều Hâu 405” (biệt danh của Trần Hoài Thư) vẫn c̣n lừng lững ngang tàng qua bộ quân phục rằn ri cùng chiếc mũ rê Biệt Kích. Lúc đó, Trần Hoài Thư là phóng viên chiến trường của Vùng IV Chiến Thuật. Tuy anh không c̣n là Trung Đội Trưởng Biệt-Kích nữa, nhưng nét phong trần của anh do Đại Đội 405 Thám Kích thuộc Sư Đoàn 22 Bộ Binh đă tôi luyện anh qua 4 bốn năm (từ
1967 tới 1971) không dễ ǵ một sớm một chiều tẩy xóa nhanh được.
Trần Hoài Thư đi đi về về giữa chiến trường śnh lầy Miền Tây và Tây Đô. Người yêu và cũng là hiền thê của anh là dân Tây Đô thứ thiệt. Chị Nguyễn Ngọc Yến sinh trưởng và lớn lên ở Tây Đô, nơi có bến Ninh Kiều thơ mộng.
Tây Đô cũng là nơi tập họp đông đảo văn nghệ sĩ ở Miền Tây, chẳng hạn như thi sĩ Duy Năng, thi sĩ Diên Nghị, họa sĩ Ngy Cao Nguyên, nhà văn Chu Tấn, họa sĩ Lê Triều Điển, thi sĩ Nguyễn Bá Thế, thi sĩ Lư Thị Kim Xương, kư giả Chu Sinh, thi sĩ Lộc Vũ, thi sĩ Bùi Đức Long, kư giả Hải Bằng, thi sĩ Ngũ Yên, thi sĩ Trần Kiên Thảo, thi sĩ Trần Kiêu Bạt, thi sĩ Phạm Kim, v.v... Tây Đô có nhật báo Đuốc Miền Tây của Ông Hải. Tây Đô có chương tŕnh tao đàn trên đài phát thanh Cần Thơ do nhóm Về Nguồn thực hiện. Tây Đô có rất nhiều đặc san mà tôi không nhớ hết, nay chỉ c̣n nhớ tờ Vượt Thoát mà thôi. Tây Đô cũng có hai quán cà phê văn nghệ nổi tiếng, đó là Quán cà phê Góp Gió và Quán cà phê Thằng Cuội.
Tôi đă gặp “Diều Hâu 405” tại Tây Đô vào thời điểm đó. Thời điểm đó cũng là thời điểm đáng để ư nhất: Sinh hoạt văn nghệ đều khắp và nổi bật nhất. Quán cà phê Góp Gió thường xuyên tổ chức các buổi sinh hoạt văn nghệ và ra mắt sách. Khi Góp Gió chết đi th́ Thằng Cuội xuất hiện và thay thế vai tṛ của Góp Gió. Thằng Cuội được nhiều lợi điểm và lợi thế hơn Góp Gió v́ nó nằm ngay tại trung tâm Tây Đô, trang trí mỹ thuật hơn, và tốn kém nhiều hơn. Thi sĩ Viên Linh và thi sĩ Cung Trầm Tưởng cũng chịu khó từ Sài G̣n bay xuống sinh hoạt với anh em văn nghệ sĩ Tây Đô...
Tháng Tư năm 1975 tan hàng. Các đường dây điện thoại trong Vùng IV Chiến Thuật đều bị cắt đứt. Tôi đă mất liên lạc với Chu Tấn và Trần Kiên Thảo, hai người ở gần tôi nhất, chỉ mất 5 (Chu Tấn) tới 15 (Trần Kiên Thảo) phút lái xe. Thế là Chu Tấn và Trần Kiên Thảo bị kẹt lại, sau đó đi tù ở ngoài Bắc. Khi tôi xuống tới bến Ninh Kiều th́ phố xá đă tiêu điều, nhà nhà kín cửa. Không làm sao liên lạc được với Trần Hoài Thư! Thế là Trần Hoài Thư ở lại và bị tù tội mất 4 năm. Con tàu tôi rời bến Ninh Kiều để ra khơi lúc 8 giờ tối ngày 30 tháng 4 năm 1975, chở theo 127 người, đa số là những khuôn mặt lạ hoắc. C̣n những khuôn mặt văn nghệ sĩ thân thiết mà tôi muốn rước đi, th́ chẳng có một ai! “Diều Hâu 405” đang ở đâu? Từ nhà chị Yến xuống bến Ninh Kiều chỉ mất có 10 phút lái xe. Tại sao “Diều Hâu” không bay được?
Năm năm cách biệt. Tôi đang ở tại Hoa Thịnh Đốn th́ hay tin Trần Hoài Thư đang có mặt tại Chùa Giác Hoàng ở Hoa Thịnh Đốn. “Diều Hâu 405” đă tới Mỹ! Mừng quá đi thôi! Vơ Văn Khiết và tôi định bụng phải bắt cho bằng được “Diều Hâu 405”. Thế là Trần Hoài Thư, Yến và cháu Thoại đành phải dừng chân tại Suối Bạc (Silver Spring, Maryland). Chúng tôi sống một cuộc sống chật vật, nhưng không thiếu t́nh thương. Không khí lúc bấy giờ thật là vui v́ chúng tôi đang làm báo Hành Động, ṭa soạn lúc nào cũng có người lui tới. Chúng tôi tổ chức đêm văn nghệ 30 tháng 4. Trần Hoài Thư và Nguyễn Công Minh thủ vai “người tù cải tạo” trong một vở kịch rất là thành công. Đây là những tù nhân thứ thiệt nên diễn xuất rất có thần và rất thực.
Rồi thời gian trôi qua rất nhanh. Trần Hoài Thư cùng gia đ́nh cuốn gói đi xứ khác, không phải v́ công ăn việc làm mà v́ sự học vấn. Trần Hoài Thư cắp sách trở lại đại học đường. Thế là anh em chúng tôi xa nhau. Tôi vẫn ở lại nơi đây, trải qua nhiều cuộc thăng trầm của cuộc đời, lên voi xuống chó nhiều lần, đôi khi cười ra nước mắt. Chuyện văn nghệ th́ vẫn tiếp tục đều đều. Mái tóc th́ mỗi ngày càng ngả màu muối tiêu. Trần Hoài Thư mài miệt ở đại học đường, lấy đủ hai mảnh bằng Đại học mới chịu cầm bút trở lại...
... Trong bốn năm tại 405, Trần Hoài Thư đă 3 lần bị thương ngoài mặt trận tưởng đă đi đứt. Thế mà anh c̣n sống sót. C̣n được cơ hội cầm bút. Người lính vừa đánh giặc vừa cầm bút, đó là Trần Hoài Thư. Đại Đội 405 Thám Kích đă làm cho Trần Hoài Thư “cảm thấy ḿnh thật hănh diện, bởi v́ tôi nguyên một giáo sư đệ nhị cấp, với đôi mắt cận 7 độ, gầy như que củi, từng được hoăn dịch v́ lư do sức khỏe, lại có mặt tại một đơn vị đă từng tạo nên một thành tích kỷ lục có một không hai trong QLVNCH. Khó có một ai trong bất cứ đơn vị nào được Tướng Đỗ Cao Trí thăng cấp hai lần trong ṿng hai tháng ngay tại mặt trận.” (Về một đại đội cũ, trang 11). Và “Từ 405, tôi cũng đă mang 9 tác phẩm văn học đến cùng độc giả”. Thật là “đại đội 405 là một dấu ấn đậm sâu vào tâm trí của một người lính cũ” (Về một đại đội cũ, trang 8).
Không chỉ riêng tác giả hănh diện về Đại Đội 405 Thám Kích, mà ngay cả người đọc cũng cảm thấy hănh diện lây. Người viết rất đồng ư với tác giả Trần Hoài Thư: “Chưa có một đội quân nào trên thế giới này, thua trận, nhưng lại tự hào cùng hàng ngũ, cùng màu cờ sắc áo như quân đội miền Nam này. Không phải một ngày, một tháng, mà cả đời. Chỉ có những kẻ trong cuộc mới hiểu và thấm thía được nỗi tự hào. Và đó là lư do cắt nghĩa tại sao tôi lại phải viết hoài, viết không mệt về màu áo cũ của ḿnh” (Về Một Đại Đội Cũ, trang 13).
Cũng từ Đại Đội 405 Thám Kích, Trần Hoài Thư đă cưu mang 9 tác phẩm văn học đến cùng độc giả. Trần Hoài Thư tâm sự: “Chiếc bè đă đưa tôi vào ḍng văn chương không phải đẹp và dịu dàng như một giấc mơ. Mà trái lại, văn chương bấy giờ là văn chương của lửa, lệ, và những gào thét, tra vấn, tử sinh. Văn chương bấy giờ là những ngày đêm trong ḷng hỏa ngục, là những vết thương tóe máu đớn đau, là tiếng kêu trầm thống của một thế hệ mà, nói theo Tolstoi, chỉ những ông già bụng phệ kư giấy tuyên chiến, c̣n phần chết th́ dành cho bọn thanh niên. Nó là văn chương mà yêu ai cứ bảo là yêu, ghét ai cứ bảo là ghét, chứ không phải từ cửa miệng đầu môi của những lănh tụ, đồ tể chiến tranh, hay từ những môi miệng tuyên truyền tâm lư chiến. Đó là văn chương đích thật, bởi v́ từng hơi thở, từng giọt lệ, từng cay đắng, thù hận, từng nỗi buồn rầu già trước tuổi đă cấy đă hằn theo từng chữ. Chúng tôi tự hào đă nói tất cả những ǵ chúng tôi muốn nói, muốn nghĩ, muốn tra vấn. Chúng tôi đă tạo nên những trận sấm sét phá sập nền văn chương tháp ngà. Chất liệu văn chương của chúng tôi không phải là từ đơn đặt hàng của chế độ, hay những món hàng làm dáng du nhập từ ngoại quốc mà là sự thật bằng trái phá, bằng mồ mả oan khiên, bằng những người như chúng tôi bị nướng thiêu trong ḷ lửa chiến tranh.” (Về Những Trang Sách Cũ, trang 16 & 17)...
Vĩnh Liêm
 (Đức Phổ, ngày 15 tháng 6 năm 2001)
 
Thơ Trần Hoài Thư thời lính trận
 
Đêm Đột Kích Ở Nho Lâm
 
Đồng nước mênh mông, quân ngoi ngóp
Đêm đặc ḷng như thuỷ mộ quan
̉a lên trái sáng run hơi thở
Nghiến chặt hàm răng về Nho Lâm
 
Ai dẫn đường đi sao khựng lại
Trời đen không thấy một v́ sao
Bốn bề thăm thẳm lau cùng sậy
Những rặng tre mờ in bóng cao
 
Hàng quân rạp xuống trên đồng lụt
Che đi h́nh tượng những hồn âm
Hỏa châu hối hả đồng minh bắn
Tiếng nổ cầm canh buồn mênh mông
THT
 
Nhảy Trực Thăng Ở Phước Lư
 
Th́ ta ra trận, ta ra trận
Trăm lần, th́ cũng chuyện rong chơi
Vẫn chuyến bốc quân vào buổi sớm
Vẫn chuyến trở về không buồn vui
 
Ráng giữ ống chân cho khỏi găy
Ráng ôm khẩu súng như t́nh nhân
Cầu cho cặp kính dày không vỡ
Nhớ cột dây thun cho chắc ăn
 
Thằng Mỹ lái tàu chơi mất dạy
Hai càng chưa hạ đă bay cao
Ta nh́n xuống thấp, run không nhảy
Mày đạp ông, ông phải té nhào
 
Ta té lăn cù rơi xuống vực
Kính ta đă rớt, ta mù đui
Mù đui, ta đứng, vai như gánh
Một cỗ quan buồn quá hắt hiu
 
Lính cũ chỉ đường ta đánh trận
Quân ḅ, ta lại chạy khơi khơi
Phen này c̣n sống về thăm phố
Ghé lại em nuôi. Thưởng cuộc đời
THT
 
Trước Giờ Tiếp Viện
Nửa đêm kẻng giục, quân ra trận
Kinh động cả ḷng đêm tối bưng
Nhận lấy ba ngày cơm gạo sấy
Không buồn chỉ một chút bâng khuâng
 
Đời ta là con số không vô tận
May trên đầu c̣n chiếc mũ rừng
Mũ nhẹ nên coi đời cũng nhẹ
Chiến tranh. Th́ cũng tựa phù vân
 
Người lính sao anh c̣n ngái ngủ
Anh có lo ǵ một chuyến đi
Anh có mang theo ḷng thống hận
Hay là cái nghiệp buổi sinh ly
 
Anh có buồn không giữa cơi đêm
Mỗi lần xuống núi, về mông mênh
Lên xe, bỏ lại đồi thiên cổ
Bỏ trại gia binh lạnh ánh đèn
 
Th́ đi, lầm lũi đi vô định
Ở cuối trời kia, vẫn cuộc chơi
Hỏi ông thượng sĩ Nùng, xin rượu
“Cổ lai chinh chiến, kỷ nhân hồi”!
THT
 
Thơ  T́nh – Trần Hoài Thư
 
Một Nửa Vầng Ngọc Lan
 
Em xa nhà. Tôi xa quê
Em bỏ đi, tôi cũng đi, chẳng về
Kể từ sông núi từ ly
Đá ê ẩm đá, người ê ẩm người
Em đi, thị trấn ngậm ngùi
Có con phố cũ nhớ người đèn chong
Em đi, buồn lại ḍng sông
Bên này, buồn lại nửa vầng ngọc lan
May c̣n một nửa vầng trăng
Dỗ tôi soi bóng dặm ngàn ly hương.
THT
 
T́nh Si
 
Cuối cùng anh cũng phải từ giă em
Ước ǵ con đường qua nhà em là con đường ṿng
Đểå anh được nh́n em một lần nữa
Tại sao em lại mời anh ly cà phê quá đen
Để anh phải nhớ em những đêm không ngủ.
THT
 
 
                     Thủ Đức... Gọi Ta Về
                                           Trần Hoài Thư
 
Viết Từ Đồi Tăng Nhơn Phú
 “Thế hệ chúng tôi đă mang đầy vết sẹo.
Vết sẹo ngoài thân và vết sẹo trong hồn”. (THT)
 
(trích đoạn)
... Ta đang nhớ về Thủ Đức như bạn ta đang nhớ. Có phải đêm qua gió quá dữ để băi bắn rụng đầy lá cao su. Và quân trường những cơn mưa lá ngâu đă rụng xuống doanh trại. Gió lộng như từ tứ phương tụ hội về đồi. Gió mang suốt ngày khắp nơi vang vang lời ca Đường trường xa và nhịp đếm Một Hai Ba Bốn. Ô hay, ta gầy c̣m, trên dưới 40 kư, thế mà cũng chịu đựng được sao. Quân trường đổ mồ hôi. Chiến trường bớt đổ máu. Kinh nhật tụng cho giai đoạn một. Tay ta trói gà không chặt mà đ̣i đánh một hai. Hai chân ta đôi khi luống cuống, bước không đúng nhịp mà đ̣i đi diễn hành cuối khoá. Ta tập quay trái, quay phải, quay đằng sau. Chân trái phải xê dịch như thế nào, chân phải phải quay ra làm sao. 90 độ. Phải rán tập trung trí óc. Chụm chân lại. Rồi quay 90 độ. Phải rán nghĩ trong đầu. Khi đi phải bắt đầu bằng chân trái. Rán mà nhớ. Ta chẳng khác một tên học tṛ lúc nào cũng bị ám ảnh bởi cái roi mây của thầy. Ngày nhỏ, ta tập lính bước một hai, khẩu súng là cuống chuối hay khúc gỗ mang lên vai. Bây giờ, ta cũng vậy. Vẫn là một tṛ chơi bất tận. Nhưng thời nhỏ dại ấy lại quá dễ dàng, cớ sao bây giờ lại quá khó. Bằng chứng là ta bị phạt liên miên.
Bây giờ, quá xa, quá lâu để mà nhớ về những ngày tháng cũ, nhưng h́nh như bên tai ta vẫn c̣n văng vẳng tiếng hát vang lừng từ một góc trời Tăng Nhơn Phú. Cám ơn nó, bởi v́ nó khiến ḷng ta ấm lại giữa lúc tiếng gọi đ̣ chiều đă dục. Không biết tới chuyến nào sẽ chở đời ta qua bên sông cô tịch. May mà tiếng hát nào như gió băo đánh bạt cái ư nghĩ đen tối bi quan. Ta đă dứng dậy đến bên khung cửa. Dưới ánh điện đường trong một đêm về sáng, ta thấy lại một vũ đ́nh trường, với những ống đạn pháo binh sơn trắng bao quanh, ta thấy lại những đại đội đang xuôi ngược diễn hành. Có khi hai đại đội cùng di chuyển đối đầu nhau, và một bên dậm chân tại chỗ, chờ bên kia vượt qua. Không ai bận tâm lấy ai. Phải nh́n thẳng. Phải ca phải hát. Lính phải hùng. Gió làm lời ca bay bổng trên chín cổng, vang khắp băi đồi. Khi hai chân ta bước nhịp, hai tay ta đánh theo, miệng ta cất lời, th́ bạn ta cũng vậy. Tất cả sẽ tạo nên một tập thể đồng nhất, tiến về phía trước. Trời ơi, cả một rừng cờ sắc áo như thế, khoá này tiếp đến khoá khác, biết bao nhiêu bước chân tập tành để chuẩn bị cho một cuộc lên đường, để rồi, vũ đ́nh trường giờ đây chỉ c̣n lại một băi mồ hoang phế. Tiếng ca hùng tráng ngày ấy đâu rồi. Tiếng hát đă một lần lồng lộng cùng lá cờ giữa sân ngôi trường lính ngày ấy đâu rồi. Cổ họng ta đă một thời gào to cùng tiếng ca lời hát, thế mà bây giờ nó nuốt vào đến nghẹn những bài hát kỳ lạ, lạ kỳ. Những bài hát của kẻ thắng trận. Hăy quên. Hăy quên. Làm sao ta có thể quên được. Họ vẫn cho ta ăn dù khẩu phần c̣n thua một con chó. Họ vẫn cho ta làm, họ vẫn cho ta hát ca... Băo nổi lên rồi. Chỉ nhớ bốn chữ. Kẻ thua trận hát về trận băo cuốn lốc đời hắn, bắt hắn phải bị đày đọa mất nhà mất cửa, xa vợ xa con. Kẻ thua trận gân cổ ca Giải phóng miền Nam... Chỉ nhớ nổi 4 chữ. Hăy quên. Người ta cấm ta hát ta ca, nên ta mới không bao giờ quên những lời ca tiếng hát đă dạy ta khôn lớn. Như vậy ta làm sao quên được.
Trong một đêm về sáng, ta nghe tiếng động bên ngoài. Có lẽ trời đă nổi gió. Xứ người. Ta đang ở xứ người. Ta không có ǵ để mơ ước nữa. Nhưng rơ ràng tại sao hồn ta lại trôi dạt về một phương nào. Về một nơi đă dạy ta, trui rèn ta, ít ra, sức mạnh về sự tự tin, để ta c̣n dùng nó trong những ngày đen tối nhất.
Bởi v́, ta biết ta sẽ làm được, như đă từng mang khẩu garant nặng nề, như đă từng ḅ hỏa lực, leo dây tử thần, hay di chuyển bộ hàng bao cây số trong khi thân ta chỉ là ngọn cỏ ngọn lau. Ta có thể làm được, bởi mưa và nắng Tăng Nhơn Phú đă làm da ta đen và dày dạn hơn, để ta làm quen với mưa và nắng của kiếp đời lính tráng và tù tội...
... Nhớ về một ngôi trường lính, dù chỉ là chín tháng, nhưng nỗi nhớ mang theo nỗi ngậm ngùi. Bây giờ trường đă mất. Những con ngựa hôm nào bây giờ đă lạc bầy tan tác hay đă rời bỏ đồng cỏ để về một cơi nào. Cả một thời tuổi trẻ đă hy sinh và chấp nhận vào cổng trường với niềm mong mỏi duy nhất là dâng hiến đời ḿnh cho đất nước, quê hương bây giờ trở thành mây khói. Tự nh́n lại là ḿnh có làm trái với bổn phận không, cái bổn phận khiêm nhường của một người lính, ḿnh thấy ḷng an ổn lạ lùng.
(TĐGTV – Trang 23-76)
 
Đêm Di Hành Đầu Tiên
 Đêm di hành đầu tiên của giai đoạn Một. Khi chiếc nón sắt đội nặng trên đầu. Khi ba lô trên vai, và khẩu súng trường với những viên đạn mă tử. Khi mắt mở, tai căng, và đêm như ḷng mực xạ. Ta đă trở thành một người lính rồi ư. Ta có cảm giác ngây ngất của một kẻ vừa trải qua một chuyện lạ lùng hoang tưởng. Quân đi, cả trăm, cả ngàn người, mà sao như đoàn quân ma. Không có cả tiếng ho. Tiếng cười. Không có cả một đốm lửa của điếu thuốc. Khi ra cổng trường, bỗng dưng thấy như thể ra băi chiến. Nhà nhà vẫn c̣n để đèn. Xa xa, xa lộ đèn xe sáng rực. Và trên cao là tháp nước quân trường với ánh đèn chớp chớp. Ta bỗng thấy bước chân ta vững mạnh hơn. Bởi xung quanh ta là bao bước chân khác. Ta là họ và họ là ta. Họ giữ ǵn ta và ta giữ ǵn họ. Chúng tôi đă nương tựa nhau và bảo vệ cho nhau. Lần đầu tiên ta mới cảm nhận cái căng thẳng của thần kinh, cái lo âu vô h́nh giữa một ḷng đêm âm u sâu thẩm. Nhưng cũng đôi khi, chợt thấy ánh đèn của nhà ai c̣n thắp sáng, ḷng lại tự nhiên một nỗi hănh kiêu thầm kín. Rồi đây, một ngày nào đó, ta sẽ thật sự có mặt, và ta mong được giữ ǵn không những một ánh đèn mà c̣n cả triệu triệu ánh đèn. Có lẽ lúc ấy, ta chưa chạm vào thực tế. Tâm trí ta chỉ thêu dệt những cơn mơ đầy lăng mạng như:
 Một buổi quân dừng nơi xóm nhỏ
Mẹ run run mời một bát canh đầy
Bát canh hẹ cho ngọt ngào gạo đỏ
Con chan vào từng muỗng nhỏ mà say...
Phải, không ai lại không có những cơn mơ tuyệt vời như thế. Giữa các bạn ta, chắc cũng có những kẻ mơ ngày ra chiến trường, đánh đâu thắng đó, uy dũng trong màu áo hoa dù hay chết th́ cũng da ngựa bọc thây.
C̣n ta, ta mơ một bát canh hẹ đậm đà t́nh nghĩa. Khi ta cầm khẩu súng, ta nghĩ là ta phải gánh một trách nhiệm thiêng liêng nhất là bảo vệ cho đồng bào ta, dân tộc ta. Khi ta bước đi trong bóng tối, có nghĩa là dọn đường cho ánh sáng. Và để đổi lại, đồng bào, hậu phương, sẽ hiểu việc cầm súng của ta, sẽ như người mẹ mời bát canh hẹ để ta chan vào từng muỗng canh nồng nàn giữa người dân và người lính. Ôi những cơn mơ giúp ta đuổi kịp bạn bè, sát cánh với bạn bè, hoà nhập cùng gịng thác của bạn bè. Nó giúp ta sức mạnh dù thân thể ta không đủ tiêu chuẩn của một người lính. Mắt ta mang kính đă bắt đầu làm quen với bóng đêm. Ta mới cảm nhận cái tai hoạ vô h́nh. Bóng tối. Phải, ta đang ở giữa ḷng bóng tối. Bóng tối đồng nghĩa với tai ách. Với kẻ thù. Bóng tối th́ nhiều mà ánh sáng th́ ít. Chỉ trừ ánh đèn. Những ánh đèn le lói, nhưng b́nh an kỳ lạ.
Trời ơi. Một ngày nào đó, chắc ta phải khóc mất khi được nếm bát canh hẹ có thật thay v́ mơ tưởng. Nó c̣n đậm đà hơn cả bài hát nào mà ta đă nghe: Anh về qua xóm nhỏ. Em chờ dưới bóng dừa. Nắng chiều hôn mái tóc. T́nh quê hương đơn sơ. Bởi v́ gạo đỏ và bát canh hẹ chính là quê hương. Bởi v́ mẹ đă quá già mà cảm thông cùng con cháu mẹ. Ta đang mơ. Xin đừng để cho giấc mơ ta tan vỡ. Ỡể ta c̣n được chắp cánh mà bay, đừng cho ta phải rớt xuống cùng sự thật. Xin để cho ta cứ liên tưởng đến bát canh hẹ cho ngọt ngào gạo đỏ của ta mà cố gắng theo kịp anh em, theo kịp hàng ngũ...
Trời ơi, ta làm sao biết được cái sự thật bên ngoài ngôi trường của chiến tranh này. Cái sự thật phủ phàng khi ta giáp mặt vào ḷng bóng tối. Cái sự thật khi những ngọn đèn kia là những tín hiệu giết người, báo động của đám dân trong làng mỗi khi ta hành quân qua. Cái sự thật khi người dân bề ngoài dạ bẩm, nhưng trong tim họ đầy cả bồ dao găm tai họa. Cái sự thật về một gáo nước lạnh hay một th́a nước mắm xin của người dân đă bị từ chối.
Trong đêm di hành đầu tiên, hết đại đội này đến đại đội khác rời khỏi tuyến xuất phát là vũ đ́nh trường để di chuyển quanh ṿng đai của quân trường. Ta bây giờ là một phần tử trong một tập thể. Chúng tôi nương nhờ, bảo vệ cho nhau. Từ đó, ta mới hiểu thế nào là t́nh đồng đội, là sự san sẽ cùng nhau cái định mệnh chung, cái nghiệp căn chung, những tai ương chung. Từ đó người ta càng yêu thương nhau hơn, càng thông cảm cho nhau hơn.
Như vậy, ta phải cám ơn Tăng Nhơn Phú đă làm thay đổi cái nh́n của ta trước đây về cuộc chiến, về quân đội. Cám ơn bạn bè ta, những người có người vợ mới cưới, những đứa con mới sanh, hay những người kỹ sư, giáo sư, tiến sĩ, những trí thức, những nhà văn nhà thơ tên tuổi lẫy lừng, những người mà lẽ ra, Thủ đức không phải là nơi dụng vơ. Họ vẫn có mặt bên ta, quanh ta, vẫn cầm súng bước đi trong đêm di hành.
Cuối cùng vào nửa đêm cả ngàn người của khoá từ tất cả các đại đội trở về tập họp tại vũ đ́nh trường. Ỡêm vang lên lời hô và lời báo cáo. Người ta đă dạy ta biết thế nào là một đơn vị lên đường và trở về b́nh an vô sự. Trung đội báo cáo lên đại đội. Ỡại đội báo cáo lên tiểu đoàn. Và tiểu đoàn báo cáo lên liên đoàn. Ta bị nhận ch́m trong một tập thể chỉ biết tuân phục. Khi nghe hô nghiêm là ta nghiêm, hô nghỉ là ta nghỉ, hô bước là ta bước. Ôi những cái bóng nào của đêm xưa ấy c̣n để lại dấu tích hay chỉ là hạt sỏi nào trên sân. C̣n đâu những âm vang của Thủ đức. C̣n đâu những v́ sao kỷ niệm trên đồi gió Tăng Nhơn Phú. Vâng. Dù quá mệt, quá căng thẳng, nhưng thế nào ta cũng phải ghi lại những cảm xúc kỳ diệu mà ta đă gặp trong đêm này.
(TĐGTV – Trang 77-82)
 Những trang giấy nào hôm qua c̣n mờ nhạt bởi mồ hôi, bụi, và mưa Tăng Nhơn Phú. Có ai kể là sau khi khóa chúng tôi măn, khoá đàn em nhận trách nhiệm săn sóc nguyệt san Bộ Binh, đă xem mục Nhật Kư Quân Trường là mục thường xuyên phải có. Cảm động lắm khi họ theo ta, tiếp tục viết lại những suy nghĩ, tâm tư trên từng chặng đường gian khổ. Họ theo ta, cũng như ta đă theo khóa đàn anh tiếp tục một truyền thống có sẵn. Chính truyền thống đă mang lại niềm vinh dự. Bởi vậy mới có những người từ muôn phương trở lại để gặp lại bạn bè cùng khoá mà kể lại bao nhiêu điều, bao nhiêu chuyện dưới mái trường. Cái truyền thống của Thủ đức cũng giống như các trường đào tạo quân đội khác, cũng đàn anh gắn alpha cho đàn em. Cũng cuối năm là hành quân cuối khoá, cũng trốn trại về phố và cũng bị nhốt vào trại kỷ luật... Nhưng có lẽ ở trên đồi Tăng Nhơn Phú này, có một truyền thống mà chắc là không có trường nào có. Cái truyền thống miễn đi băi vào ngày thứ tư kể từ sau khoá 24 của chúng tôi, dành đặc biệt cho những người sinh viên sĩ quan biên tập viên của tờ nguyệt san Bộ Binh Thủ Đức.
Gắng nhớ. Gắng trở lại một khoảng thời gian nào cách đây hơn ba mươi năm. Trí năo đă hao ṃn, sao ḷng ta vẫn c̣n bồi hồi tha thiết. Những người muôn năm cũ. Chợt một Phạm văn B́nh loé lên, người thấp, da đen ngâm. Anh là thầy giáo. Một Trịnh Kim Đồng hợp cùng Lưu Trung Khảo, hai cây bút chủ lực về biên khảo. Trịnh Kim Đồng th́ đă chết. Chết trên đỉnh đồi Mười thuộc tỉnh B́nh Định. Anh cùng Sư đoàn 22 BB với ta. Anh bị quả đạn trái sáng rơi trúng vào đầu. C̣n ai nữa. C̣n Nguyên Sa, Cao Thoại Châu, Luân Hoán, Phạm Hoàng, Phan Thảo Trang. C̣n có Trịnh Cung lo phần h́nh thức. C̣n có cả Ư Yên, người sĩ quan huấn luyện... Đó là những tên tuổi rất quen thuộc. Và chúng tôi đă góp lại, cấy mạ, ươm phân bón, để nguyệt san Bộ Binh trở thành một tạp chí có tầm cở.
Chúng tôi đă biến mồ hôi thành chữ nghĩa. Và chữ nghĩa đă được chuyển tới không những cho chúng tôi mà c̣n cho những người thân nhân của chúng tôi. Chính tờ báo đă làm chỗ đứng của Thủ Đức càng lên cao. Có lẽ nhà trường đă nghe được tiếng vang. Bằng chứng là nhà trường cho phép chúng tôi được miễn đi băi vào ngày thứ Tư để lên họp tại Khối Chiến Tranh Chính Trị hay để có th́ giờ hơn dành cho việc sáng tác.
Bây giờ giữa trời đất mênh mông này, làm sao t́m lại những tờ tạp chí cũ. Làm sao có được những bài Nhật kư quân trường của một thời để bỏ vào trong tập sách này gọi là một hoài niệm yêu dấu. Làm sao để ta có thể đập lại nhịp tim của một thời khi ta đi dây tử thần, vượt sông, leo núi, gắn alpha hay đứng gác trung nghĩa đài. Vàng bạc châu bấu nào có thể đổi lại những trang sách xưa. Những trang sách đầy mồ hôi và gian khổ, nhưng cũng đầy lửa của niềm tin và lửa của da thịt em. Những trang sách mang theo bè bạn đă một thời hiện diện bên ta, viết dùm ta, làm thơ dùm ta, chuyên chở nỗi ḷng dùm ta.
Bây giờ đă hơn ba mươi năm từ ngày rời Thủ Đức, ta đang khốn khổ hành hạ trí năo để nhớ về một thời. Muốn nổi khùng chạy đông chạy tây, t́m hoài trong trí nhớ già nua một vài câu thơ của Cao Thoại Châu được anh sáng tác trong trường lính nhưng đành bất lực. Nhà thơ vẫn c̣n sống ở trong nước, nhưng những bài thơ một thời đă mất trước anh như tất cả những người viết văn làm thơ của miền Nam trước 1975.
May mà trái tim cứ kêu gọi thúc dục. Ta đang viết lại đây, tim nhé. Ta đang viết lại đây, hỡi Thủ Đức, hỡi các bạn bè ta, và hỡi những người đă yêu mến văn ta nhé. Viết mà rưng rưng. Ta đă đánh mất cây viết Canon, cái phần thưởng sinh viên sĩ quan báo chí xuất sắc của khoá dành cho ta rồi. Và bây giờ những ngón tay tê buốt của tuổi già đă báo cái cơ nguy sắp bỏ bút rồi. Hở, ta sẽ sống ra sao, hở? ...
(TĐGTV – Trang 83-88)
 
Đêm Alpha
 Cuối cùng giai đoạn Một cũng đă kết thúc. Nó đánh dấu một khúc quanh rất quan trọng trong đời sống sinh viên sĩ quan chúng tôi. Có nghĩa là từ đây chúng tôi bắt đầu mang trên mũ, trên vai, hay cổ áo, huy hiệu (, mà chúng tôi vẫn thường quen gọi là con cá vàng. Có nghĩa là từ đây chúng tôi có quyền đi phép cuối tuần về Sài G̣n. Và cũng bắt đầu từ đây, chúng tôi thật sự trở thành đàn anh.
Đêm Alpha. Tôi đang thấy lại tôi, giữa cả một vũ đ́nh trường đầy ngập người, và đầy ngập ánh điện như thể một đêm hội lớn. Chúng tôi đă mặc bộ đồ vàng đi phép, mang giây biểu chương vàng, và mang nón két. Trên ngực áo có bảng tên. Chúng tôi đă sẵn sàng cặp lon vàng. Chúng tôi một chân qú xuống, để chờ khoá đàn anh đến gắn cấp bậc.
Đêm Alpha. Nó là một truyền thống. Nó là sự liên hệ giữa đàn anh và đàn em, giữa người sắp sửa giă từ và những người ở lại. Nó cũng là điểm mốc cho người được đi chuyên môn và người ở lại làm lính lội bộ. Nó vang động cả trời đêm Tăng Nhơn Phú với lời hô đứng dậy qú xuống như chuyển rung cả một vũ đ́nh trường. Người đàn anh sẽ gắn alpha cho ta. Và anh sẽ đập vào vai ta để bày tỏ lời chúc mừng trong khi ta chào tay anh không dám động đậy. Rồi anh sẽ từ giă ta, anh đi đâu:
 “Hăy nắm chặt giây cương này, luân hoán
Ra khỏi nơi này sẽ gặp nghĩa trang”
(T́nh Khúc Cuối Cùng Ơû K.B.C 4100, thơ Luân Hoán)
Ta đă quên anh, và anh cũng không bao giờ nhớ ta. Nếu có chỉ là cái bóng. Bóng đổ xuống sân vũ đ́nh trường dưới những ngọn đèn nhiều nến. Ta lại bắt đầu thay anh, và cái bóng ta đă lấp vào bóng anh. Ta cũng nhường lại cho đàn em những ǵ mà đàn anh ta đă nhường cho ta. Rồi ta lại ra đi. Ỡi đâu. Ra khỏi nơi này sẽ gặp nghĩa trang. Nghĩa trang quân đội. Với Tiếc thương của Nguyễn Thanh Thu. Với Viên đạn cho người yêu dấu của Luân Hoán. Với một Mậu Thân đại tang cho khóa 24 của ta và khóa 25 đàn em.
Đêm Alpha, ta đang náo nức chờ ngày cuối tuần để về thăm Sài G̣n. Một đoạn đường chiến binh đă qua. Thêm một đoạn đường nữa bắt đầu. Bây giờ mới chính là những bài học vỡ ḷng cho một trung đội trưởng bộ binh. Hỡi em yêu dấu...
 (TĐGTV – Trang 89-92)
 
            
         Trở Lại Thư Mục
                Sinh Hoạt
         
        Trở Lại Thư Mục
         Trang Thân Hữu
           
          Trở Lại Thư Mục
                   Giải Trí
            
          Trở Lại Thư Mục  
                Thơ Văn
 
         Trở Lại Thư Mục
                 Thư Tín
               
          Trở Lại Thư Mục        
                Diễn Đàn
            
          Trở Lại Thư Mục
                 Văn Học
            
        Trở Lại Thư Mục
               Nghệ Thuật
        
         Trở Lại Thư Mục       
              Phiếm Luận
 
Vương Trùng Dương  Email: caliweekly@yahoo.com - vuongtrungduong@yahoo.com