|
| |
-
-
Vũ Bằng (1913 -1984)
Vương Trùng Dương
“Nếu một ngày kia, Trời xử phiên án cuối cùng, hỏi tôi nếu trở lại làm
người th́ sẽ làm ǵ... Nếu trở lại làm người, con cứ lại xin làm báo” Vũ
Bằng

Vũ Bằng tên thật Vũ Đăng Bằng, sinh ngày 03-6-1913 tại Hà Nội. Thân phụ ông
là chủ nhân nhà sách Quảng Thịnh, phố Hàng Gai, Hà Nội. Ông theo học Trường
Albert Sarraut, tốt nghiệp Tú Tài Pháp. Ông không thích tiếp tục con đường
học vấn và làm công chức mà dấn thân vào nghiệp cầm bút. Ngoài ra, ông c̣n
kư với các bút hiệu: Lê Tâm, Hoàng Thị Trâm, Vũ Tường Khanh...
Năm 1931, ông khởi sự sáng tác tập văn trào phúng Lọ Văn. Sinh hoạt trong
văn giới và báo giới, bản tính phóng túng, thích ăn chơi, thuốc phiện “Tôi
hút. Tôi uống rượu và tôi chơi... bợm” (Bốn Mươi Năm Nói Láo) nhưng vài năm
sau ông tự chủ được bản thân nên ly dị được với “nàng tiên nâu”; ông viết
tác phẩm Cai, hồi kư ghi lại quăng đời của ông từ con nghiện, dụ dỗ t́nh
nhân trở thành con nghiện cho dến khi tan vỡ cuộc t́nh, vào bệnh viện mới
dứt bỏ.
Trong lănh vực báo chí, ngay từ thời trai trẻ ông đă cộng tác với nhiều tờ
báo ở Hà Nội trong thập niên 30, 40... Chủ Bút tờ Tiểu Thuyết Thứ Bảy, Thư
Kư ṭa soạn tờ Trung Bắc Chủ Nhật... cho đến khi tên tuổi của ông quen thuộc
trong làng báo, nhiều tờ, nhiều mục đều có Vũ Bằng. “Viết báo, viết báo,
thầu báo cai đầu dài ba bốn tờ một lúc. Anh viết đủ thứ, từ thượng vàng hạ
cám, từ cái hộp thư, cái tin vặt, cái vui cười, cái biết ai tâm sự đến
truyện ngắn, truyện dài đăng từng kỳ” (Tô Hoài).
Trong tác phẩm Văn Học Miền Nam, Vơ Phiến đề cập đến tài năng làm báo của
ông: “Vũ Bằng có lúc tay nầy một tờ báo của Vũ Đ́nh Long, tay kia một tờ
khác của Nguyễn Doăn Vượng; có lúc một ḿnh trông nôm cả ba tờ báo ở Sài G̣n
(Đồng Nai, Sài G̣n Mai và Tiếng Dân; lại có lúc vừa viết cho Dân Chúng, làm
Tổng Thư Kư báo Tin Điện, lại vừa hợp tác với người thứ ba làm báo Vit
Vịt...”. Ông dấn thân vào nghiệp báo vời nỗi đam mê, song song với nhiều thể
loại đóng góp trên tờ báo, ông sáng tác đều đặn nhiều tác phẩm.
Trong tác phẩm Nhà Văn Hiện Đại của Vũ Ngọc Phan: “Tập tiểu thuyết đầu tay
của Vũ Bằng là Một Ḿnh Trong Đêm Tối (in tại Trung Bắc Tân Văn – Hà Nội,
1937), kế đến tập Truyện Hai Người (Tân Dân – Hà Nội, 1940), Tội Ác Và Hối
Hận (Phổ Thông bán nguyệt san, số 66 ngày 1-9-1940, Để Cho Chàng Khỏi Khổ
(Phổ Thông BNS, số 78 Ngày 1-3-1941)”.
Vào Nam năm 1954, ông làm việc tại Việt Tấn Xă và cộng tác với nhiều tờ báo.
Ông chuyên về dịch thuật nhiều hơn sáng tác. Đặc biết với “cái ăn” ông viết
rất tuyệt vời, thưởng ngoạn món ăn như cảm nhận được thi vị của cuộc sống.
Về t́nh duyên, năm 1935, ông lập gia đ́nh với bà Nguyễn Thị Quỳ, người Thuận
Thành, Bắc Ninh. Bà Quỳ lớn hơn ông 7 tuổi và đă có một đời chồng nhưng vợ
chồng bất ḥa nên khi gặp Vũ Bằng, bà ly dị để lập lại cuộc t́nh. Hai người
có được người con trai là Vũ Hoàng Tuấn. Năm 1954, ông vào Nam, để lại vợ
con ở Hà Nội, năm 1967, bà Quỳ qua đời. Trong tác phẩm Thương Nhớ Mười Hai,
ông viết về h́nh ảnh người vợ bên kia vỹ tuyến, khởi sự từ tháng Giêng 1960,
ṛng ră mười hai năm mới hoàn thành vào năm 1971.
Ở Sài G̣n, ông lập gia đ́nh với người phụ việc, bà Phấn, nhỏ hơn ông 15
tuổi, hai người có được 6 đứa con.
Sau tháng 4-1975, Vũ Bằng sống ở Sài G̣n, sự nghiệp cầm bút của ông không
c̣n đất dụng vơ, ông mất ngày 07-4-1984.
Trong quyển Tự Điển Văn Học, nhà xuất bản Khoa Học Xă Hội Hà Nội, 1983,
không nhắc đến tên ông dù ông đă đóng góp nhiều trong lănh vực văn chương và
báo chí từ thời tiền chiến. Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, ngôi nhà
số 11 Hàng Da của ông là cơ sở hoạt động bí mật nhưng khi vào Nam, có lẽ ông
đă “thoát ly” với quá khứ nên những năm cuối đời, ông chỉ là bóng mờ bên
cạnh Vũ Hạnh, Hoàng Trọng Miên...
Đầu thập niên 90, tên tuổi Vũ Bằng được đánh bóng trở lại, cho rằng tổ chức
cài ông vào Nam để hoạt động nhưng không dẫn chứng “thành tích” nào của ông
trong 20 năm đó.
Vơ Phiến đă viết: “Ở miền Nam lúc bấy giờ không hiếm kẻ bị gạt gẫm, lầm lạc.
Và chính ông Vũ, chắc chính ông, sau tháng 4-1975, ông đă có đủ th́ giờ để
suy ngẫm hối tiếc về thái độ của ḿnh trước năm 1975. Hăy tưởng tượng cái
tâm trạng của ông trong thời gian ông ngồi cặm cụi viết những trang “Cái Tai
Ách Của Thằng Cùi Phương Bắc” để gửi ra hải ngoại đăng báo!” (Sđd trang
2407).
Tác phẩm đă xuất bản: Một Ḿnh Trong Đêm Tối (Trung Bắc Tân Văn, Hà Nội
Chuyển) - Hai Người (Tân Dân, Hà Nội 1940) – Ba Truyện Mổ Bụng (Tân Dân, Hà
Nội, 1941) - Cai (Tân Dân, Hà Nội 1943) – Bèo Nước ( Thăng Long, Hà Nội
1944)...
Ăn Tết Thủy Tiên (1954) - Khảo Luận Về Tiểu Thuyết (1955) - Miếng Ngon Hà
Nội (1957) - Bốn Mươi Năm Nói Láo (1969) - Món Lạ Miền Nam (1970) - Cái Đèn
Lồng (1971) - Nhà Văn Lắm Chuyện (1971) - Những Cây Cười Tiền Chiến (1971) -
Nói Có Sách (1971) - Thương Nhớ Mười Hai (1972)...
-
Vương Trùng Dương
-
| |
|